Sinh viên Việt du học tự tử tại Westminster


Đoạn trường chỉ ai tỏ mới hay… du học vất vả thế nào ? nhất là với những sinh viên tự túc (tất nhiên trừ những ai đi rửa tiền hộ cha mẹ …). Lo tìm việc, lo học… những lúc buồn ngủ díp mắt mà còn bài …lo đủ thứ . Và cả những nỗi lo không thể nói ra lời, ..Có chuyện nè hơi lạ, sinh viên du học VN tự tử thì chưa thấy báo nào đăng, ..cũng là tiếng chuông để người Việt hiểu du học đâu có sướng ..nhưng sv gốc Việt bị sát hại thì đăng nhanh nhảu quá ?!

Cảm ơn BS Hồ Hải đã có bài này, cần lắm những thông tin cho các em. Đi du học là cả một thay đổi lớn, cần chuẩn bị đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm sống và cả bản lĩnh nữa !!!

Làm bài không tốt, một học sinh chuyên Toán tự tử

(TNO 13/07/2010 15:44) Sáng 12.7, gia đình phát hiện T.C.S, học sinh lớp 12 chuyên Toán một trường THPT chuyên, trú thôn Phú Lâm Tây, xã Hành Thiện, huyện Nghĩa Hành (tỉnh Quảng Ngãi), đã chết tại rẫy cách nhà khoảng 3km. Được biết, S. đã uống thuốc rầy tự tử.

Sau hai đợt thi đại học vừa qua, đối chiếu với đáp án, thấy bài làm của mình có nhiều điểm không trùng khớp, S. đã bỏ nhà đi vào ngày 11.7. S. có tin nhắn điện thoại gửi đến bạn bè với nội dung nói lời vĩnh biệt.

23.000 giảng viên thành tiến sĩ – một “giấc mơ”? Tuan Viet Nam

Nhìn số lượng các GS, PGS, TS hiện nay của VN và tỷ lệ này trong các trường ĐH, CĐ cũng như tư tưởng “sính danh, sính bằng cấp” hiện nay, dự án này có phải quá ư là “lãng mạn” và không biết hồi kết có được như mong muốn?

>> Tiến sĩ là gì và không là gì?

>> Nỏ thần giả và bằng Tiến sĩ dỏm

>> Mua “bằng cấp” xuyên quốc gia và lời…cơ chế

>> Học tiến sĩ để làm gì?

Ngành GD vừa được Chính phủ phê duyệt đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường ĐH, CĐ 2010 – 2020. Theo mục tiêu đề án, sẽ có khoảng 10.000 TS được đào tạo ở nước ngoài tại các trường ĐH có uy tín, khoảng 3.000 TS được đào tạo theo hình thức phối hợp hoặc liên kết giữa các trường ĐH của Việt Nam và trường ĐH nước ngoài, và khoảng 10.000 TS được đào tạo trong nước.

Kinh phí dự kiến là 14.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 737 triệu USD tại thời điểm CP phê duyệt đề án.

Có ảo tưởng không?

Mục tiêu và nội dung của đề án cho thấy sự quyết tâm cao của CP trong nỗ lực kìm hãm cỗ xe GD ĐH đang “tuột dốc”. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tại các trường ĐH, CĐ trong cả nước cũng như cơ chế tuyển chọn và sản phẩm của quá trình đào tạo khiến người viết bài này thực sự băn khoăn. Không biết chúng ta có quá tự tin vào chiến lược phát triển GDĐH hay đó lại là một sự ảo tưởng?

Trung bình mỗi năm, đề án sẽ thực hiện đào tạo khoảng 2.300 TS. Không hiểu con số này được đề xuất dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn nào, nhưng có thể thấy, nó quá xa vời nếu so với điều kiện thực tế. Theo GS Nguyễn Xuân Hãn, từ năm 1945 đến nay VN có khoảng 15.000 TS, trong đó  khoảng 5.000 TS được đào tạo từ nước ngoài về và khoảng 10.000 TS trong nước[1]. Như vậy, 65 năm qua, trung bình mỗi năm chúng ta đào tạo được 230 TS.

Chưa nói đến qui trình đào tạo một TS rất tốn kém về kinh phí, thời gian,… Những người được đào tạo TS phải có đủ trình độ để tham gia nghiên cứu và tự nghiên cứu, độc lập trong tư duy và bảo vệ được những kết quả nghiên cứu mới, không trùng lặp với các nghiên cứu trước. Vì thế, không phải ai cũng đủ trình độ làm nghiên cứu sinh.

Bên cạnh đó, lực lượng những người hướng dẫn khoa học cho các NCS có đủ để đáp ứng nhu cầu đào tạo? Chỉ xét những NCS trong nước và NCS liên kết, mỗi năm cần phải có 2.300 người hướng dẫn khoa học (tính tối thiểu 2 người hướng dẫn cho 1 NCS trong nước, và 1 người hướng dẫn cho 1 NCS đào tạo liên kết). Thời gian đào tạo NCS trung bình trong nước là 4 năm. Không biết chúng ta sẽ lấy đâu ra đội ngũ hướng dẫn khoa học cho các NCS để đảm bảo mục tiêu đào tạo của đề án? Một vấn đề khác cần quan tâm là các bài báo khoa học và các nghiên cứu của NCS trong quá trình đào tạo. Theo qui định, mỗi NCS phải có ít nhất 2 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành mới đủ điều kiện bảo vệ luận án.

Theo Science Citation Index Expanded (2007), 2 ĐH Quốc gia (Hà Nội và TP.HCM) và Viện Khoa học và Công nghệ VN chỉ có 96 bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học. Trong khi đó ĐH Quốc gia Seoul  có 5.060 bài, ĐH Quốc gia Singapore có 3.598 bài và ĐH Tổng hợp Bắc Kinh có 3.219 bài…

Cũng theo thống kê năm này của World Intellectual Property Organization, VN không có một bằng sáng chế nào được cấp. Trong khi đó Hàn Quốc có 102.633, Trung Quốc có 26.292, Singapore có 995 và Thái Lan có 158 bằng sáng chế được cấp. Không biết nhìn vào những số liệu này, ai đảm bảo rằng vài năm sau, VN có khoảng 5.000 bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học cũng như có vài chục bằng sáng chế mỗi năm?

Có tới 10.000 TS và 6.000 GS, PGS không tham gia giảng dạy

Mục tiêu của đề án là đào tạo giảng viên có trình độ TS đáp ứng mục tiêu đào tạo ĐH, CĐ trong thời gian tới. Tuy nhiên, nếu nhìn lại tổng thể lực lượng các GS, PGS, TS thì VN ta không hề thua kém các nước trong khu vực. Vậy, tại sao chúng ta lại thiếu hụt các GS, PGS, TS trong các trường ĐH, CĐ?

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn, đến nay VN đã phong học hàm GS, PGS cho hơn 8.300 người, số lượng TS gấp 4 lần số lượng GS[2]. Tuy nhiên, đáng quan tâm là số lượng các GS, PGS, TS giảng dạy trong các trường ĐH lại rất thấp. Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong số hơn 61.000 giảng viên ĐH, CĐ, hiện mới có gần 6.200 TS (chiếm khoảng 10%) và gần 2.300 GS, PGS (chiếm gần 4%). Nghĩa là có khoảng hơn 10.000 TS và khoảng 6.000 GS, PGS không tham gia công tác giảng dạy.

Chưa nói đến một bộ phận các TS “dởm” như xã hội vẫn lên án cũng như một số các GS, PGS, TS “xịn” chuyển từ công tác giảng dạy, nghiên cứu sang công tác quản lý. Việc có hơn 2/3 số lượng TS và hơn gần 3/4 số lượng GS, PGS không tham gia giảng dạy ĐH là một sự thiệt thòi lớn cho GDĐH ở VN.

Phải chăng GDĐH không quan trọng, cũng như không phải là nơi mà những người có học hàm, học vị cao này mong muốn được làm việc và cống hiến. Việc cam kết sau khi được đào tạo sẽ trở thành giảng viên không phải bây giờ mới có, tuy nhiên có bao nhiêu người thực hiện cam kết đó?

Có bao nhiêu người tâm huyết với công tác giảng dạy, hay việc đào tạo để có tấm bằng TS chỉ là một bước đệm để họ chuyển sang các cơ quan quản lý? Câu hỏi đặt ra cho đề án là liệu có bao nhiêu % TS được đào tạo sẽ thực sự tham gia giảng dạy ĐH, CĐ?

Ở một xã hội sính danh, sính bằng cấp, lấy bằng cấp là một nấc thang thăng tiến, một tiêu chuẩn quan trọng trong qui hoạch cán bộ, đến mức người ta đi bằng mọi cách để có một học vị TS, cho dù biết đó là học “giả”, là bằng “dởm”, là trường “lừa”…thì ai dám đảm bảo trong số 23.000 TS được đào tạo không có những người chưa đủ trình độ TS? Ai dám đảm bảo rằng họ bất chấp thủ đoạn để được đi học bằng ngân sách nhà nước, để mưu cầu cho mục đích cá nhân?

Nhìn số lượng các GS, PGS, TS hiện nay của VN và tỷ lệ này trong các trường ĐH, CĐ cũng như tư tưởng “sính danh, sính bằng cấp” hiện nay, dự án này có phải quá ư là “lãng mạn” và không biết hồi kết có được như mong muốn?

Ai bảo đảm và…ai sẽ bảo đảm?

Theo ông Trần Quang Quý, Thứ trưởng Bộ GD và ĐT, đến năm 2015 các trường ĐH cần chấm dứt tình trạng cử nhân dạy ĐH. Mục tiêu của đề án góp phần thực hiện quyết tâm này của Bộ.

Tuy nhiên, trong tổng số 376 ĐH, CĐ trên cả nước, Bộ chỉ quản lý 54 trường (chiếm 14%), các Bộ ngành khác quản lý 116 trường (chiếm 31%), UBND các tỉnh, TP là cơ quan chủ quản của 125 trường (chiếm 33%), và có 81 trường dân lập, tư thục (chiếm 22%)[3].

Với sự mù mờ trong cơ chế tuyển dụng, ai dám đảm bảo rằng trong số 86% tổng số các trường ĐH, CĐ không do Bộ GD và ĐT quản lý, đều sử dụng hết số TS được đào tạo?

Theo thống kê của Vụ ĐH và sau ĐH (Bộ GD và ĐT), tháng 6 năm 2009, có 11 trường ĐH mới thành lập chưa có một giảng viên nào đạt trình độ GS, PGS. Trong 22 trường ĐH mới thành lập, số TS chỉ chiếm 6,9% trong đội ngũ giảng viên. Vậy các trường này thành lập với mục đích đào tạo ĐH hay vì mục đích khác? Tại sao lại Bộ lại cho phép thành lập những trường ĐH như vậy khi họ chưa đáp ứng được các yêu cầu về đào tạo?

Một TS khi về trường giảng dạy nhận được mức lương khởi điểm với hệ số 3.0 tương đương 2.190.000 đồng. Với mức lương này thì TS chưa tự nuôi sống bản thân chứ đừng nói gì đến nuôi gia đình, đầu tư vào tài liệu, giáo trình. Hay nói cách khác là yên tâm với cơm áo gạo tiền để chuyên tâm vào nghiên cứu, giảng dạy. Ai sẽ là người đảm bảo cơ chế lương cho những TS sau khi được đào tạo về yên tâm công tác tại các trường ĐH, CĐ? Hay vì mưu sinh, các TS lại tiếp tục bỏ giảng dạy để làm các việc khác, tạo nên hiện tượng chảy máu chất xám tại các trường ĐH trong thời gian qua.

Đào tạo được một TS đã khó, để TS đó phát triển trở thành một giảng viên giỏi, có học hàm PGS, GS là cả một quá trình. Một giảng viên ĐH thường giảng dạy một số môn học liên quan đến chuyên ngành nghiên cứu TS, vì thế rất cần thời gian để trau dồi, hoàn thiện thêm kiến thức cũng như đưa kinh nghiệm thực tế vào trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên, với cơ chế quản lý GDĐH rất bất cập hiện nay như bổ nhiệm lãnh đạo, quản lý chuyên môn phi học thuật, dựa trên thâm niên công tác, mối quan hệ cá nhân và những ràng buộc chính trị, quan điểm “sống lâu lên lão làng”…thì e rằng không có cơ hội cho các TS chân ướt chân ráo về trường ĐH.Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu và giảng dạy còn rất thiếu thốn. Hầu hết các trường ĐH tại VN vẫn giảng dạy theo lối truyền thống, thầy đọc- trò chép, kể cả khối các trường kỹ thuật. Kinh phí dành cho NCKH rất ít, và các TS mới về trường không đơn giản mà nhận được kinh phí cho các đề tài của mình, vì còn phải xếp hàng, ưu tiên cho những cây đa, cây đề…

Không có cơ sở vật chất để nghiên cứu, không được tham gia thực hiện các đề tài, dự án…có nghĩa là TS không có thu nhập gì ngoài lương. Để trở thành chuyên gia và được mời tham gia các đề tài, dự án, hay được các đơn vị nghiên cứu thuê khoán là cơ hội để gây dựng uy tín khoa học và nâng cao thu nhập.

Nhưng điều này không phải là một sớm một chiều các TS trẻ làm được, chí ít cũng năm ba năm, thậm chí lâu hơn. Vậy ai dám chắc họ không phát sinh  tiêu cực trong quá trình giảng dạy. Theo đánh giá tại các trường ĐH, những tiêu cực như mua bán điểm, nhận tiền chạy điểm của sinh viên phần lớn do các giảng viên có năng lực kém, ít có uy tín khoa học.

Chủ nghĩa cào bằng và phương thức đánh giá thành tích cũng là một hạn chế cho việc phát huy chuyên môn của những TS mới về giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ. Có lẽ căn bệnh kinh niên kìm chế sự phát triển của GD ĐH là cơ chế trả lương, cơ chế khuyến khích NCKH, cơ chế tự chủ trong chuyên môn, cơ chế đánh giá thành tích công tác, cơ chế bổ nhiệm quản lý chuyên môn…chứ không phải là do chúng ta thiếu các tiến sĩ giảng dạy.

Nếu thay đổi được cơ chế này, tôi tin rằng những GS, PGS, TS sẽ rất yên tâm công tác và cống hiến. Sẽ không còn những tiêu cực phát sinh trong GD ĐH, sẽ không còn hiện tượng học giả, bằng thật…Tại sao ngành GDĐH chúng ta có bệnh không chữa cho khỏi, mà lại bày đặt ra yêu cầu bổ sung “khẩu phần ăn” với niềm tin cơ thể sẽ khỏe mạnh trở lại, hay đó chính là một kiểu tiếp cận ngược rất duy ý chí.

Đào tạo 23.000 giảng viên thành TS trong 10 năm- liệu có là một “giấc mơ”?

————–

[1]: http://sgtt.com.vn/Thoi-su/124765/”Neu-la-bang-gia-phai-thu-hoi-ky-luat”.html

[2]: http://tuanvietnam.net/2010-06-18-nhu-cau-dan-den-bang-gia-tu-truong-dom

[3]: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/Giao-duc/2009/10/3BA151A0/

CÓ NÊN “TỊ NẠN GIÁO DỤC” BẰNG MỌI GIÁ? BS Hồ Hải

Hôm 04/7/2010 tôi viết bài: Nói với phụ huynh du học sinh, báo PLTP có nhã ý lấy làm nền cho một bài tổng hợp về du học, khi tình trạng du học những năm gần đây là một thị trường béo bở cho các trung tâm tư vấn và cũng là tại họa cho nhiều trẻ bị cha mẹ đẩy và địa ngục du học. Tôi đem nó về blog để làm tư liệu. Bài viết có edit, nhưng vẫn giữ tốt nội dung chính.

Có nên “tị nạn giáo dục” bằng mọi giá?

Thiếu niềm tin vào giáo dục trong nước, nhiều vị cha mẹ mù quáng ép con đi du học với bao kỳ vọng mà thiếu chuẩn bị cho trẻ. Thậm chí có người xem du học như phương thức xuất ngoại lao động kiếm tiền. Suy nghĩ ấy đẩy trẻ vào nhiều nguy cơ, rủi ro.

Vừa qua, trên các diễn đàn mạng của giới sinh viên du học xôn xao về thông tin Nguyễn Mạnh Cường 19 tuổi, sinh viên đang theo học tại Trường ĐH Golden West Community (cố Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn trước đây từng học trường này), đã treo cổ tự tử chết tại nhà trọ trên đường Stoneridge, TP Westminster, Mỹ.
Theo cảnh sát, Cường ở với một người dì và đã tự tử bằng cách treo cổ. Cường dùng khăn lông quấn bên ngoài một sợi dây điện và tự treo cổ trong nhà xe. Cảnh sát tìm thấy trong người nạn nhân có một lá thư tuyệt mệnh và một vé lôtô. Nội dung lá thư cho biết Cường muốn để lại di sản cho mẹ. Cảnh sát cũng cho biết Cường có ít bạn, không thích giao du và không có dấu hiệu uống rượu hay dùng ma túy.
Nhận định nguyên nhân Cường tự tử, nickname onthi trên diễn đàn lamchame.com ghi: “Chắc do bị bố mẹ ép buộc đi du học mà bản thân lại không muốn, để bố mẹ vui nên đi du học. Qua bên đó do không thích ứng được với hoàn cảnh mới, không có bạn bè chia sẻ rồi rơi vào trạng thái trầm cảm, dần dần bệnh càng nặng thêm và cuối cùng là treo cổ”.
Ngoài ra, tình trạng ít giao tiếp, thiếu người chia sẻ cũng là một trong những nguyên nhân có thể đẩy những người trẻ tuổi đến suy nghĩ cùng quẫn. Phú Phạm, một sinh viên vừa tốt nghiệp Orange Coast College, chuẩn bị vào Cal State Fullerton, chia sẻ: “Những tác động về chuyện tình cảm đối với những người du học như tụi em là rất lớn”. Phú cho biết từ kinh nghiệm bản thân: “Khi tình yêu đổ vỡ, nếu ở Việt Nam, mình còn có chỗ nương tựa để tìm sự chia sẻ từ bạn bè, người thân, gia đình. Còn ở đây, mình chỉ có một mình. Cô đơn và lẻ loi khủng khiếp. Nỗi buồn vì vậy mà tăng lên gấp nhiều lần”. Chính từ như vậy, theo Phú: “Nếu không vững vàng, chuyện tìm đến cái chết cũng rất có thể xảy ra”.
Hồ Nguyễn Anh Minh, sinh tháng 11-1990. Năm 2005 nhận học bổng trung học Mỹ. Tháng 9-2007 xuất bản cuốn sách với tựa đề: How to receive a scholarship in USA for international students? (Làm thế nào để nhận học bổng du học ở Mỹ?). Tốt nghiệp phổ thông với bằng ưu, có bằng khen của Tổng thống George Walker Bush (Bush con), Minh nhận học bổng vào đại học và sắp vào năm thứ ba cử nhân sinh học. Trong ảnh: Minh đang trong phòng thí nghiệm của lớp học Microarray.
Thanh Mai nêu suy nghĩ: “Có thể do Cường ít bạn, ít nói. Nếu là con gái, khi có chuyện gì tụi em “tám” với nhau rồi thì sẽ hết. Con trai khác, đâu bao giờ những đứa con trai lại mang điều không vui, bất lợi của mình ra mà kể với ai đâu. Vậy nên nhiều khi có thể bạn đó cảm thấy bức bối quá mà không biết có ai để nói ra, nên càng ngày càng stress hơn nữa”.
Trong khi đó, nickname AK tâm sự: “AK không thấy lạ gì thông tin trên vì chính AK đã tự tử gần 10 lần nhưng toàn được cảnh sát và bệnh viện cứu hay thượng đế chưa cho AK chết. Hoàn cảnh và đau khổ mà AK đang phải chịu còn thê thảm hơn thông tin trên rất nhiều, nó đeo đuổi AK từ lúc AK sinh ra rồi chứ không phải từ lúc qua Úc. AK từ bé chẳng có bạn bè gì cả vì AK toàn gặp người lừa đảo và tầm thường nên AK không thích kết bạn. Các bạn cứ xỉ vả AK hay cho là AK bất hiếu thoải mái đi vì đối với các bạn, ai mà tự tử cũng bị đánh giá là người chẳng ra gì, bất chấp hoàn cảnh sống mà họ đang khổ sở. AK sẽ tự tử thành công trong thời gian rất sớm thôi. Không đêm nào mà AK không có ý định để tự tử hết. Tất cả bác sĩ đa khoa, nhà tâm lý học và chuyên gia về tâm thần học đều từ bỏ AK rồi nên cái chết sẽ là sự giải thoát AK”.

Những rủi ro của du học sinh Việt
– Ngày 17-7-2009, thi thể cô Ng. được phát hiện trong tủ áo trong phòng cô ở KTX. Ng. sang Singapore được gần hai tháng và đang học tiếng Anh tại Học viện Quản lý phát triển Singapore.
– Ngày 24-10-2009, San Jose, California, sinh viên Việt Nam Phuong Ho, 20 tuổi, bị cảnh sát đánh bằng gậy sắt hơn 10 lần, trong đó có cả một lần bị đập vào đầu, vì bị nghi ngờ tấn công một người bạn ở cùng phòng.
– Sáng 10-1-2009, Tăng Quốc Bình, sinh viên năm thứ nhất ĐH Tổng hợp quốc gia về quản lý (GUU), đã bị đâm gần một nhà ga tàu điện ngầm ở Matxcơva (Nga) khi đang trên đường về nhà.
Hành trang cho con du học
Theo kinh nghiệm của tôi, muốn con du học thành công, cha mẹ cần chuẩn bị tinh thần cho trẻ từ rất sớm. Trẻ phải thấy đây là việc yêu thích chứ không phải là trách nhiệm, hoặc làm vì sức ép, kỳ vọng của gia đình. Những chuẩn bị phải bắt đầu từ khi còn cấp tiểu học, gồm có:
Học lực: Trẻ du học không thể là đứa học làng nhàng, vì không thể học tốt ở quê nhà bị quẳng đi du học. Cứ nghĩ một cách đơn giản, khi các cháu học với tiếng mẹ đẻ không thể giỏi thì làm sao học giỏi bằng tiếng nước ngoài. Một trẻ muốn học giỏi ở xứ người thì ở quê nhà trẻ phải là học sinh xuất sắc, chí ít cũng khá giỏi. Nếu không trẻ sẽ bị áp lực từ nhiều phía đưa đến tự kỷ, co vào vỏ sò của mình, thậm chí tâm thần chỉ sau vài năm du học.
Ngôn ngữ: Không thể học tốt khi chưa giỏi tiếng của nước sở tại. Trẻ không thể quan hệ tốt với cộng đồng mới khi còn chờ học ESL (English as a second language). Kinh nghiệm cho thấy ngay cả chương trình ESL ở nước Mỹ hay Úc, Anh cũng không dạy tốt hơn ở Việt Nam. Sự thiếu trang bị ngôn ngữ là sai lầm lớn nhất đẩy trẻ vào nhiều bất trắc. Đó là sự kỳ thị chủng tộc, ngại giao tiếp, sợ cộng đồng và stress kéo dài, học lực kém…
Văn hóa: Mỗi dân tộc có lịch sử và văn hóa sống riêng. Người thành đạt là người biết ứng xử phù hợp với văn hóa sống của xã hội. Câu nói đã trở thành chân lý mà các cha mẹ cần nhớ nằm lòng nếu muốn con mình thành công là: “IQ (Intelligence Quotient) làm người ta chọn bạn nhưng EQ (Emotional Quotient: chỉ số cảm xúc) sẽ làm người ta đề bạt bạn”. Để EQ tốt, trẻ phải hiểu biết văn hóa sống của nước trẻ đến du học. Cultural shock (sốc văn hóa) là từ phổ biến của du học sinh trên toàn thế giới. Trước du học, bạn cần cho trẻ tiếp xúc với nền văn hóa ấy qua du lịch và hướng dẫn trẻ về văn hóa học cơ bản. Sau khi trẻ đi cần tiếp tục hỗ trợ. Đừng nghĩ rằng trẻ đã đi du học năm năm rồi, quá quen với môi trường du học rồi là không cần quan tâm nó nữa.
Giáo dục kỹ năng sống: Giáo dục phổ thông hiện đại không cho trẻ kiến thức tổng quát quá cao, quá nặng nề như Việt Nam nhưng cho trẻ tư duy độc lập trên nền giáo dục kỹ năng sống nhuần nhuyễn. Trẻ cần trang bị kỹ năng sống thật đầy đủ trước khi du học. Ngay từ tiểu học phải cho trẻ tham gia hoạt động cộng đồng, hoạt động liên quan đến thiên nhiên và cuộc sống xung quanh nhằm giúp trẻ hoạt bát, năng nổ và dễ thích ứng với môi trường, cộng đồng mới. Không thể hy vọng trẻ được ấp ủ trong chăn êm, nệm ấm, nắng sợ đen, mưa sợ cảm lạnh có thể thành công mỹ mãn ở môi trường du học. Hãy trao nhiệm vụ và dạy cho trẻ biết chịu trách nhiệm với những hành động của trẻ ngay từ khi còn chập chững biết đi, bạn sẽ không bao giờ hối hận với những việc này. Đừng sợ trẻ còn non nớt, cần nhìn trẻ là người lớn và trao trách nhiệm cho trẻ để trẻ dạn dày khi còn ở trong vòng tay của bạn.
Tập cho trẻ sống tự lập: Ngay từ lúc nhỏ nằm nôi, cần cho trẻ ngủ riêng. Cần giao cho trẻ những việc làm nhỏ hằng ngày để trẻ tự giải quyết và chỉ giúp trẻ khi thật cần thiết. Hãy để hay gợi ý trẻ tự đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề mà trẻ tiếp xúc hằng ngày. Tập cho trẻ có thể ở nhà một mình và theo dõi trẻ một cách kín đáo những xử lý tình huống xảy ra quanh trẻ khi trẻ một mình và tham gia giúp đỡ khi cần. Những việc nhỏ này sẽ giúp trẻ đương đầu với nỗi cô đơn trong du học. Alone shock (sốc cô độc) là cú sốc có thể đánh quỵ cả những cái đầu chai sạn của người lớn. Đừng cho rằng trẻ đi du học là sung sướng mà là sự phấn đấu cam go dưới sự học hành nặng nhọc với nỗi cô đơn ngày đông giá rét, những cơn bệnh ập tới mà thiếu vòng tay che chở của người lớn và sự thấu hiểu, an ủi cho nỗi cô đơn ở xứ người.
Du học là học một nền văn hóa mới, học cách tiếp cận mới với xã hội mới chứ không chỉ là học khoa học kỹ thuật mới. Du học là để nâng kỹ năng sống qua hiểu biết các nền văn hóa khác nhau để trở thành công dân thế giới, có thể sống và làm việc trong mọi môi trường. Du học là việc lớn và nặng nhọc.
Hãy ghi nhớ rằng chỉ có tiền sẽ không làm cho trẻ thành công trên con đường du học.
Bác sĩ HỒ HẢI

QUỐC DŨNG tổng hợp
Bài đăng trên báp PLTP. Asia Clinic, 8h09′ thứ ba, ngày 13/7/2010

TÂM TÌNH CỦA THẾ HỆ TRẺ MUỐN QUAY VỀ PHỤC VỤ ĐẤT NƯỚC BS Hồ Hải

Tôi đã xin phép tác giả của bộ hồ sơ xin việc để đăng lên blog của tôi nội dung hồ sơ xin việc (Job Application Letter & CV) mà một du học sinh đã hoàn thành tấm bằng kỹ sư ở một cường quốc trong nhóm G7, vì hoàn cảnh gia đình, nên cháu muốn về làm việc ở Việt Nam, mặc dù đã xin được công việc ở nước đang du học. Mọi sự hồ hởi ban đầu cứ tắc lịm dần theo ngày tháng. Cháu có đến chỗ tôi xin tư vấn tâm lý và chọn giải pháp cho tương lai.
Những dòng tâm sự của cháu ấy trong thư gửi đến tôi: “Con gửi lại chú cái file chú hỏi con (thư xin việc). Giờ đọc lại con cũng thấy buồn cười quá, lúc quẫn trí con người ưa làm chuyện bột phát thì phải? Con gửi cho chú và mấy công ty, ngân hàng lớn ở Việt Nam nữa, tổng cộng là 11 cái thư như vậy! Con cũng gửi cho ông Mark Kent, Đại sứ Anh ở Việt Nam, để ông thấy tình trạng thực sự ở Việt Nam không có sinh viên muốn quay trở về, mà thực sự khi quay về cũng chẳng biết phải bắt đầu làm gì, làm thế nào? Đâu đâu cũng thấy người ta thủ sẵn mọi thứ cho riêng mình, không chào đón “kẻ lạ” như con.

Con cám ơn chú,

Con, tên tác giả”
Sau đây là thư xin việc
Xin chào nhà tuyển dụng!

Tôi tên Ng Tr XXX, nam, 23 tuổi. Tôi vừa tốt nghiệp ngành Điện ở Canada và trở về Việt Nam cách đây một tháng. Tôi đã gửi hồ sơ bằng tiếng Anh đến nhiều công ty khác nhau, nhưng có lẽ hồ sơ chưa thể hiện đủ sự nhiệt tình, hoặc còn thiếu “sự quen biết”, cho nên tới giờ tôi vẫn là kẻ vô công rỗi nghề, ngồi nhà vẽ tranh hoặc đi xem kịch ở Idecaf.

Hôm nay, tôi quyết định soạn lá thư xin việc bằng tiếng Việt này gửi đến quý vị (và đồng thời một số công ty/tổ chức khác nữa) ở Việt Nam, hy vọng sự thay đổi sẽ làm nên kz tích. Nguyên do là tôi tình cờ đọc được một thông điệp hay của Elbert Hubbard mà tôi bắt gặp mình trong đó, rằng : “Không phải tất cả các ông chủ hay người lãnh đạo đều là người bóc lột, xấu xa; và cũng không phải tất cả những người công nhân, người nghèo khổ là thánh nhân, là hiền triết… Một con người tháo vát, có tinh thần trách nhiệm và làm việc bằng tất cả tâm hồn thì ở đâu và ai cũng cần họ. Họ không cần đấu tranh để tăng lương hay mánh khóe âm mưu để thỏa mãn tham vọng lợi ích cá nhân. Khi họ thực sự có tinh thần trách nhiệm, tinh thần tháo vát, tinh thần như anh Rowan, họ sẽ có tất cả những gì họ cần…”

Tôi không có nhiều những bằng cấp xa xỉ, cũng không có bề dầy kinh nghiệm mà các vị trí cao cấp ở Việt Nam thường đòi hỏi. Trên mặt giấy tờ, tôi chẳng có gì để chứng minh năng lực của mình, nhưng tôi tự tin rằng với bất cứ vị trí thuộc bất cứ lĩnh vực nào, nếu như có được sự huấn luyện cần thiết, tôi sẽ làm hơn sự mong đợi của quý vị. Trong khi hoàn thành chương trình ngành Điện, tôi đi làm bán-thời-gian cho văn phòng kế toán của tập đòan thực phẩm Sobeys ở Canada trong 3 năm từ mùa hè 2007. Điều này có vẻ trớ trêu? Mặc dù kiến thức ở nhà trường là nền tảng quan trọng, nhưng tôi không bao giờ bị lệ thuộc để phải làm những gì tôi học được. Mỗi người xung quanh đều là một người thầy ở khía cạnh nào đó, và mọi công việc đều có thể làm được nếu có sự nhiệt tình theo đuổi. Tôi chấp nhận bất cứ thử thách nào mà quý vị muốn dành cho tôi, ngay cả một vị trí chẳng liên quan gì đến chuyên môn được đào tạo của tôi.

Về mặt giao tiếp, tôi có khả năng trình bày và tranh luận bằng tiếng Việt tốt. Tôi thích viết (và viết giỏi hơn nói). Khi viết, tôi có thể trình bày được những { tưởng sâu sắc của mình bằng câu chữ khúc chiết, rõ ràng. Ngày trước, tôi có một trang blog cá nhân trên Yahoo! 360 (Văn Sen’s blog), chuyên viết về những vấn đề xã hội, đạo, cuộc sống và có một lượng bạn đọc sẻ chia thân tình. Khi trang blog mất đi, tôi lập một website riêng ở địa chỉ muavechai.com, nhưng “máu viết” dường như bị thuyên giảm đôi chút. Về mặt ngoại ngữ, mạnh nhất của tôi cũng là viết. Sáu năm học ở Canada từ lớp phổ thông cũng giúp tôi trong việc phát âm rõ, thói quen “chịu sửa giọng” theo đúng quy cách của loại ngoại ngữ phổ biến này. Có khá nhiều du học sinh trở về với lối suy nghĩ rằng bản thân đã lột xác thành Tây và đòi hỏi những ưu đãi trên mây xanh, đối với tôi, tiếng mẹ đẻ là đôi chân còn tất cả mọi ngọai ngữ khác chỉ là những đôi giày, chân mà đi không vững thì chẳng có đôi giày nào là vừa vặn. Trước khi nhận mình là một con người lĩnh hội được nhiều ưu điểm của thế giới tiến bộ, tôi vẫn là một người Việt Nam với những tố chất Á Đông đáng quí.

Tôi có khuynh hướng nhân văn (não bên trái), nhưng lại đi học về kỹ thuật (não bên phải), không biết đó có phải là sự dại dột tự ép mình lội ngược dòng? Tuy nhiên, quá trình học hành gian khó đã giúp tôi nhận ra rằng thành công mãi chỉ là khái niệm, nếu không biết cố gắng vượt qua thử thách. Tôi cũng có sự nhạy cảm với những khổ đau của cuộc đời, tâm niệm cố gắng sẻ chia những gì có được với những người kém may mắn hơn xung quanh. Cuộc đời ngắn ngủi, thành công nào rồi cũng qua đi, vĩ nhân nào cũng phải một lần ngã xuống, rốt ráo lại thì tình người, cách đối nhân xử thế mới là điều còn lại…

Qua hồ sơ này, nếu quý vị tin rằng tôi có thể trở thành một cá nhân tích cực, phù hợp với công việc nào đó trong tổ chức của quý vị, xin cho tôi một cơ hội khẳng định mình.

Chân thành cám ơn

(Họ và Tên của tác giả thư xin việc)
Còn đây là CV của cháu ấy

XXX(‘YYY’)NG
His home address is in Hochiminh city
Tel: XXXX-YYY-ZZZZ Email: XYZ@gmail.com

OBJECTIVES
To apply for professional position in good companies that may lead to management opportunities in near future.

SUMMARY OF QUALIFICATIONS
 Professional, highly motivated, innovative, well-timed, thorough and organized.
 Detailed knowledge of monitoring and maintaining technical systems and equipments.
 Strong base of accounting and office administration.
 Proficient in MS Office, including Word, Excel, PowerPoint, FrontPage, Access.
 Good attitude around customers and colleagues.

EMPLOYMENT HISTORY
 Billing & Data management specialist Sep 2008 – May 2010
Sobeys Edmonton Data Centre
 Accounts Payable clerk Apr 2008 – Sep 2008
Sobeys West Head Office

EDUCATION
 Graduate of Electrical Engineering Technology program
Northern Alberta Institute of Technology (NAIT), Edmonton, Canada
 Bachelor of Commerce (incomplete)
Grant MacEwan University, Edmonton, Canada
 Alberta High School Diploma
Ross Sheppard Composite High School, Edmonton

PROFESSIONAL AFFILIATION
Membership of Alberta Society of Engineering Technologists (ASET) in good standing.

PERSONAL INTERESTS
Charity works, travelling, painting, and gardening.

Tôi xin được giữ bí mật họ tên cho cháu, nếu ai muốn đón chào cháu ở Việt Nam hay ở nước cháu đã du học thì liên hệ với tớ. Ngày 03/8/2010 cháu sẽ lên đường trở lại con đường tha hương cầu thực. Xin cảm ơn cháu và cảm ơn những ai đọc entry này.

Nghe bản nhạc “Gia tài của mẹ” của Trịnh do Lê Uyên hát để ngấm nỗi buồn
Asia Clinic, thứ hai, 10h50′ ngày 05/7/2010

NÓI VỚI PHỤ HUYNH DU HỌC SINH BS Hồ Hải

Năm ngoái tôi có một bài viết cho các du học sinh Việt sau vụ cháu Hồ Quang Phương bị cảnh sát San Diego đánh. Mấy hôm nay trên báo người Việt ở Mỹ và các bloggers loan tin cháu Nguyễn Mạnh Cường 19 tuổi thắt cổ tự vẫn trong căn nhà thuê ở cùng với người dì của cháu. Làm cha mẹ, ai không đau xót khi nuôi con đến tuổi sung sức nhất lại bỏ mình ra đi vì một chút nông nổi, bốc đồng, thiếu sức chịu đựng vì người lớn đã sai lầm khi trao con mình những đòi hỏi quá sức chịu đựng của chúng. Như vậy, những người làm cha, làm mẹ cần phải hiểu biết gì trước khi quyết định cho con, em mình đi du học? Là một phụ huynh đã từng cho con đi du học khi còn tuổi 14, tôi xin có mấy lời đến với các phụ huynh sẽ và đang có ước mộng thả con mình vào một vùng đất mới, nền văn hóa mới với một ngôn ngữ mới và những kỳ vọng với con mình.
Con có nhiệm vụ đi du học theo kỳ vọng của cha mẹ, vậy cha mẹ chuẩn bị cho con những gì? Theo kinh nghiệm của tôi, cha mẹ cần chuẩn bị tinh thần cho trẻ từ rất sớm, để hun đúc tinh thần cho trẻ. Trẻ phải thấy việc đi du học là một việc yêu thích thực sự, chứ không phải là một trách nhiệm với gia đình và là sức ép theo kỳ vọng của gia đình, bạn bè và người thân. Những chuẩn bị phải bắt đầu từ khi còn cấp lớp học tiểu học gồm có:
Học lực: Học lực của trẻ du học không thể là đứa trẻ học hành làn nhàn và vì không thể nuôi dạy tốt ở quê nhà, nhưng vì muốn con có trách nhiệm với bản thân rồi cha mẹ lại quẳng cháu đi du học được. Các phụ huynh học sinh hãy cứ nghĩ một cách đơn giản rằng, ngay cả khi các cháu học với ngôn ngữ mẹ đẻ ở quê nhà còn không thể giỏi thì làm sao trẻ có thể học giỏi bằng ngôn ngữ của người khác? Cho nên, không thể kỳ vọng một trẻ học với mức trung bình ở quê nhà có thể giữ được mức trung bình ở xứ người. Một trẻ muốn học giỏi ở xứ người thì ở quê nhà trẻ phải là học sinh xuất sắc. Nếu không như thế trẻ sẽ bị áp lực từ nhiều phía đưa đến tự kỷ, co vào vỏ sò của mình, thậm chí tâm thần chỉ sau vài năm du học. Nặng hơn hậu quả sẽ là như cháu Nguyễn Mạnh Cường mà bài báo đã đưa.
Ngôn ngữ: Không thể học tốt khi ngôn ngữ chưa trôi chảy, đây là điều tiên quyết cần và đủ phải có cho trẻ du học. Trẻ không thể hoạt bát và quan hệ tốt với cộng đồng mới khi ngôn ngữ mới của trẻ chỉ là chờ học ESL (English as a Seconde Language) hay phải bỏ thêm một năm để học ngôn ngữ nước du học. Kinh nghiệm cho thấy ngay cả chương trình ESL ở nước Mỹ hay Úc, Anh cũng không dạy tốt hơn ở Việt Nam. Một trẻ học tốt Anh văn ở Việt Nam rồi sang du học thẳng chương trình của dân bản xứ tốt hơn nhiều lần phải mất một thời gian học ESL ở xứ người. Sự thiếu trang bị ngôn ngữ trước khi du học là sai lầm lớn nhất đẩy trẻ vào mọi bất trắc khi đi du học. Hậu quả đó là kết quả của kỳ thị chủng tộc, ngại giao tiếp, sợ cộng đồng và stress kéo dài, học lực kém trở thành áp lực tâm lý thất vọng với kỳ vọng của bản thân và gia đình, bạn bè… sẽ đẩy trẻ vào bi kịch không xa. Đặc biệt, người Mỹ có Martin Lutherking với ông Obama làm tổng thống, nhưng đừng nghĩ họ quên đối xử phân biệt chủng tộc với dân đầu đen, mũi tẹt và mắt xếch!
Văn hóa: Mỗi một dân tộc có một lịch sử và văn hóa sống riêng và đặc thù. Người thành đạt là người biết ứng xử một cách có sự phù hợp với văn hóa sống của xã hội chứ không phải là kẻ thông minh hay cần cù. Một câu nói đã trở thành chân lý cho cuộc sống ngày nay mà các cha mẹ cần phải nhớ nằm lòng khi muốn cho con mình thành công trong mọi việc là: “IQ (Intelligence Quotient) làm người ta chọn bạn, nhưng EQ (Emotional Quotient: chỉ số cảm xúc) sẽ làm người ta đề bạt bạn”. Để EQ tốt, trẻ phải hiểu biết văn hóa sống của nước trẻ phải đến du học. Vì văn hóa là phong tục, tập quán, thói ăn, nết ở của một dân tộc được hình thành qua lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó. Là cái mà học suốt đời cũng không hết. Một trẻ không hiểu biết văn hóa sống, pháp luật của xã hội mà trẻ sẽ hội nhập, đó là nguyên nhân cho mọi thất bại khi cần hội nhập với một nền văn hóa mới. Cultural Shock là từ đã trở thành thường qui cho tất cả các du học sinh trên toàn thế giới. Thất bại và dẫn đến mọi bi kịch từ những cú sốc văn hóa giao tiếp hằng ngày sẽ đánh quỵ trẻ bất cứ lúc nào. Đừng nghĩ rằng trẻ đã đi du học 5 năm rồi, nó quá quen với môi trường du học rồi là không cần quan tâm nó nữa. Các bạn và con các bạn sẽ thất bại đấy. Trước khi thả trẻ đến một nền văn hóa khác ăn học, bạn cần cho trẻ tiếp xúc với nền văn hóa ấy qua một vài cuộc du lịch hoặc tham quan, và giáo dục về văn hóa học cơ bản.
Giáo dục kỹ năng sống: Giáo dục phổ thông hiện đại là nền giáo dục trao cho trẻ một kiến thức tổng quát không cần quá cao và có chính trị xen vào như Việt Nam đang làm. Nền giáo dục phổ thông hiện đại là nền giáo dục phi chính trị, cung cấp cho trẻ một tư duy độc lập với một kiến thức tổng quát vừa phải, trên nền giáo dục kỹ năng sống một cách nhuần nhuyễn. Nên ở các nước có nền giáo dục tiên tiến luôn đặt giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lên hàng đầu. Những người thành đạt là người có nhiều kỹ năng sống phù hợp với thời đại. Cho nên trẻ du học cần trang bị kỹ năng sống thật đầy đủ. Muốn thế, ngay từ những ngày đầu trẻ học cấp lớp tiểu học cha mẹ phải cho trẻ tham gia vào nhiều những hoạt động cộng đồng, hoạt động liên quan đến thiên nhiên và cuộc sống xung quanh, nhằm cho trẻ hoạt bát, năng nổ và dễ thích ứng với môi trường, để trẻ dễ hòa nhập với một cộng đồng mới trong tương lai. Không thể hy vọng một trẻ được ấp ủ trong chăn êm, nệm ấm, nắng sợ đen, mưa sợ cảm lạnh có thể thành công mỹ mãn ở môi trường du học. Hãy biết trao nhiệm vụ và dạy cho trẻ biết chịu trách nhiệm với những hành động của trẻ ngay từ khi còn chập chững biết đi, bạn sẽ không bao giờ hối hận với những việc này. Một trẻ biết chịu trách nhiệm với hành động của mình, trẻ sẽ dư sức đương đầu với nghịch cảnh. Đừng sợ trẻ còn non nớt, cần nhìn trẻ là người lớn và trao trách nhiệm cho trẻ, để trẻ dạn dày khi còn ở trong vòng tay của bạn.
Tập cho trẻ biết sống tự lập: Ngay từ lúc nhỏ nằm nôi, bạn cần cho trẻ ngủ riêng. Không nên cho trẻ ngủ chung. Biết giao trách nhiệm cho trẻ những việc làm nhỏ hằng ngày, để trẻ tự giải quyết và chỉ giúp trẻ khi thật cần thiết. Hãy để hay gợi ý trẻ tự đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề mà trẻ tiếp xúc hằng ngày. Tập cho trẻ có thể ở nhà một mình và theo dõi trẻ một cách kín đáo những xử lý tình huống xảy ra quanh trẻ khi trẻ một mình và tham gia giúp đỡ khi cần. Tất cả những việc nhỏ này sẽ giúp trẻ đương đầu với nỗi cô đơn trong du học. Cái cô đơn ở xứ người lạnh lẻo, hiu quạnh mà chỉ có những người lớn đã từng trải qua mới thấu hiểu nó có tác động khủng khiếp thế nào với trái tim non nớt của trẻ mới chập chững vào đời. Alone Shock là cú sốc có thể đánh quỵ cả những cái đầu chai sạn của người lớn. Và con người ta sinh ra đời, phần lớn là để giải quyết sự hợp tan và nỗi cô đơn trong lòng. Đừng cho rằng trẻ đi du học là sung sướng mà là sự phấn đấu cam go dưới sự học hành nặng nhọc với nỗi cô đơn ngày đông giá rét, những cơn bệnh ập tới mà thiếu vòng tay che chở của người lớn và sự thấu hiểu an ủi cho nỗi cô đơn ở xứ người.
Du học là học một nền văn hóa mới, học một cách tiếp cận mới với một xã hội mới chứ du học không chỉ là học những khoa học kỹ thuật mới. Du học là để nâng kỹ năng sống qua hiểu biết các nền văn hóa khác nhau để trở thành công dân thế giới, có thể sống và làm việc trong mọi môi trường, ngoài việc phải học khoa học kỹ thuật tiên tiến. Bạn không thể cho con bạn đi du học ở anh nhà giàu hàng xóm có nền văn hóa giông giống với văn hóa dân tộc mình. Nên du học là một việc lớn và nặng nhọc. Du học không phải là đi du lịch và kỳ vọng. Nên đã muốn cho con đi du học thì phải cho con đi du học có nền văn hóa khác biệt với nền văn hóa dân tộc mình và chuẩn bị cho con thật đầy đủ năm lĩnh vực tôi đã nói ở trên. “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường sẽ bớt đi đổ máu”. Bạn cần chuẩn bị con mình như một người lính trên thao trường khi trẻ còn nằm trong tay bạn, trước khi bạn thả con mình vào chiến trường khốc liệt của con đường du học. Hãy ghi nhớ rằng tiền sẽ không làm cho trẻ thành công trên con đường du học. Lúc ấy bạn sẽ không thất vọng và sẽ tự tin cùng đồng hành với bước đường con mình sẽ đi tới.
Hãy chuẩn bị cho con các bạn thật kỹ càng để biến ước mơ của bạn và của trẻ một cách vững vàng. Chúc các bạn thành công với những ước mơ cùng con cái, tương lai của gia đình và xã hội.
Asia Clinic, Chúa Nhật, 1604′ ngày 04/7/2010
Một sinh viên gốc Việt bị sát hại Thanh Niên
(TNO) Báo The Washington Post dẫn thông tin từ cảnh sát hạt Fairfax, bang Virginia (Mỹ) hôm 2.7 cho biết họ đã tìm được một số nhân chứng khẳng định đã nhìn thấy Vanessa Pham tại một trung tâm mua sắm vào chiều 27.6, khoảng 30 phút trước khi thi thể

Nữ sinh gốc Việt chết vì nhiều vết đâm chí mạngVietNamNet
Thiếu nữ gốc Việt đi làm móng trước khi bị giếtVNExpress
Cô gái gốc Việt bị hãm hại dã man24 giờ
Người Lao ĐộngTin nhanhBáo Đất Việt
tất cả 10 bài viết »

‘Tại sao lại ra nông nỗi này!’ Friday, July 02, 2010

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER (NV) – Bản tin “Sinh viên Việt du học tự tử tại Westminster,” đăng trên nhật báo Người Việt vào Thứ Ba vừa qua, tạo sự xúc động và quan tâm lớn đối với sinh viên Việt Nam đang du học tại Mỹ, đặc biệt là ngay tại Orange County, nơi tập trung đông đảo cư dân gốc Việt.

Bản tin ngày 21 tháng 6 viết về chuyện một sinh viên du học, tên Nguyễn Mạnh Cường, 19 tuổi, đang theo học tại đại học Golden West College, tự tử bằng cách treo cổ tại một căn nhà thuộc thành phố Westminster.

Cảnh sát tìm thấy trong người nạn nhân một lá thư tuyệt mệnh và một vé lô tô. Nội dung lá thư cho biết Cường “muốn để lại di sản cho mẹ.” Cũng theo bản tin, “đây là một sinh viên Việt du học, có ít bạn, không thích giao du và không có dấu hiệu uống rượu hay dùng ma túy trong quá khứ.”

Từ sự việc này, qua phỏng vấn một số sinh viên Việt Nam đang du học tự túc tại Mỹ, áp lực mà một sinh viên xa nhà phải gánh lấy, quả là một vấn đề cần được nhìn nhận và chia sẻ một cách tích cực hơn.

Chia sẻ nỗi buồn

“Nghe tin mà cảm thấy bàng hoàng cả người,” em Trịnh Thị Kim Liên, sinh viên du học tại Santa Ana College, và Vũ Tuyết Nhung, vừa tốt nghiệp bằng hai năm tại trường Golden West College, chuẩn bị vào trường Cal State Long Beach vào Mùa Thu tới, đều thốt lên bằng giọng sửng sốt.

“Tại sao lại ra nông nỗi như vậy chứ!”

Trong khi đó, em Nghiêm Thị Thanh Mai, vừa sang du học tại Golden West College được một học kỳ Mùa Xuân vừa qua, cho biết em “hết hồn” sau khi đọc bản tin trên Người Việt.

Theo Mai, dù không biết mặt Cường, Mai vẫn nghe như có vẻ gì quen thuộc lắm. “Có thể em đã từng gặp Cường trong trường, hoặc vì thấy Cường cũng bằng tuổi mình, học cùng trường với mình, cũng là người Việt Nam và cũng đi du học như mình.” Mai xót xa: “Một cảm giác thấy buồn và tiếc lắm.”

Sau sự “bàng hoàng,” “hết hồn,” những du học sinh xa nhà đều tự đưa ra những giả thuyết về lý do đẩy người sinh viên đến quyết định từ bỏ cuộc đời ở lứa tuổi đẹp nhất như thế.

Lý do “gặp phải khó khăn về tài chánh” được hầu hết du học sinh nghĩ đến trước tiên.

“Có thể là do áp lực về tiền bạc. Vì em đọc thấy bạn để lại cho mẹ cả tờ vé số, như vậy 70-80% là bạn bị áp lực về tiền rồi,” Thanh Mai giả định.

Kim Liên dè dặt hơn: “Em nghĩ có lẽ bạn ấy đã phải chịu nhiều áp lực gì đó về vấn đề tiền học, hay cũng có thể là tình cảm.”

Lý do không bạn bè, ít giao tiếp, thiếu người chia sẻ cũng là một trong những nguyên nhân có thể đẩy những người trẻ tuổi đến suy nghĩ cùng quẫn.

Phú Phạm, một sinh viên vừa tốt nghiệp Orange Coast College, chuẩn bị vào Cal State Fullerton, chia sẻ: “Những tác động về chuyện tình cảm đối với những người du học như tụi em là rất lớn.”

Phú cho biết từ kinh nghiệm bản thân: “Khi tình yêu đổ vỡ, nếu ở Việt Nam, mình còn có chỗ nương tựa để tìm sự chia sẻ từ bạn bè, người thân, gia đình. Còn ở đây, mình chỉ có một mình. Cô đơn và lẻ loi khủng khiếp. Nỗi buồn vì vậy mà còn tăng lên gấp nhiều lần.”

Chính từ như vậy, theo Phú, “nếu không vững vàng, chuyện tìm đến cái chết cũng rất có thể xảy ra.”

Thanh Mai nêu suy nghĩ, “có thể do Cường ít bạn, ít nói. Nếu là con gái, khi có chuyện gì, tụi em ‘tám’ với nhau rồi thì sẽ hết. Con trai khác, đâu bao giờ những đứa con trai lại mang điều không vui, bất lợi của mình ra mà kể với ai đâu. Vậy nên nhiều khi có thể bạn đó cảm thấy bức bối quá mà không biết có ai để nói ra, nên càng ngày càng ‘stressed’ hơn nữa.”

Dù lý do gì đi nữa, sự ra đi của người sinh viên đó cũng ít nhiều để lại nỗi cảm hoài trong lòng sinh viên đang du học xa nhà. Và, họ “cầu mong cho linh hồn bạn ấy sớm siêu thoát.”

“Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay”

Từ những giả thuyết được các du học sinh đưa ra, có thể thấy, những người đang mang trên mình chiếc áo “du học sinh” không hoàn toàn hạnh phúc như bạn bè ở quê nhà ngưỡng mộ. Ðằng sau niềm tự hào đó, những áp lực nặng nề đặt lên vai, lên suy nghĩ, của người sinh viên du học tự túc, có lẽ, “chỉ người trong cuộc mới hiểu hết.”

Với nhiều tâm trạng băn khoăn, Kim Liên bày tỏ: “Với em, áp lực lớn nhất và nặng nề nhất là nỗi lo không có tiền đóng học phí, lo là không biết mình còn có khả năng tài chánh để học được tới đâu. Nhìn ra chỉ thấy một tương lai mờ mịt thôi. Lúc nào cũng loanh quanh với nỗi lo: tiền đâu?”

Kim Liên là một trong số những sinh viên “du học tự túc” theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Liên phải tự mình lo trang trải tất cả mọi chi phi phí ăn ở, học hành, sinh sống tại xứ sở đắt đỏ này. Và, không chỉ phải tự lo cho bản thân nơi xứ lạ, Liên còn gánh nặng trong lòng nỗi lo cánh cánh tiền phụ giúp ba mẹ đóng học phí cho bảy đứa em còn lại ở quê nhà mỗi khi mùa tựu trường đến.

Tuy không bị áp lực tài chánh nặng nề như Kim Liên, Tuyết Nhung “cũng bị ‘stressed’ nhiều lắm trong chuyện học hành, kiếm việc làm.”

Nhung tâm sự: “Chưa học xong mùa này đã lo cho tiền học mùa tới.”

Nhung tiếp: “Một áp lực khác của em là chuyện sợ đi làm giữa chừng lại bị chủ đuổi. Tiền đâu để trả tiền nhà, tiền xe, tiền ăn? Ba mẹ cho tiền học là nhiều rồi, còn lại phải tự xoay sở thêm.”

Mặc cảm mình là người đi làm “không hợp pháp,” đôi lúc bị chủ chèn ép, nói nặng nhẹ, nhiều lúc Nhung “cảm thấy tủi thân, cũng khóc.”

Với Phú Phạm, đã chấp nhận đi du học, tức là chấp nhận những áp lực nặng nề, để cảm thấy mình được trưởng thành và lớn lên, thế nhưng không phải không có lúc “dường như tuyệt vọng.” Tiền nhà gửi sang không còn, cũng không dám gọi về bởi biết “bên đó cũng đang khó khăn.” Công việc thì bị mất. “Có ai tin được là có những hôm em phải nhịn đói không?”

Trân Trần, sinh viên du học tại Golden West College, cho biết: “Với em, áp lực của sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa là quan trọng nhất.”

Trân kể, có khi vào lớp, cô giáo kể chuyện cười, người thông thạo tiếng Anh, ai cũng cười, “chỉ có vài đứa Việt Nam nhìn nhau chẳng hiểu gì hết thì làm sao mà cười.” Cũng do vấn đề ngôn ngữ, du học sinh Việt Nam chỉ tìm chơi với bạn Việt Nam, và ngại tiếp xúc với các bạn ngoại quốc.

Với Trân, sự bối rối trong chuyện chọn ngành học phù hợp với môi trường bên này hay bên kia cũng là một áp lực. Trân tâm sự: “Bản thân em thích học ngành tâm lý, nhưng ở Việt Nam ngành đó chưa phát triển, thành ra em lại chọn học về thương mại để có nhiều cơ hội hơn khi quay về.”

Tuy mới sang Mỹ du học được sáu tháng, Thanh Mai cũng nếm trải mùi “stressed” như bao du học sinh khác. Trong đó, nặng nề nhất chính là “chuyện tiền bạc.”

Thanh Mai nói về kinh nghiệm của mình: “Khi chưa tìm được việc làm, cứ cảm thấy lo lắng, sốt ruột, bởi thấy tiền cứ ra hoài mà chẳng thấy vô. Có lúc gọi điện thoại đến mấy chục nhà hàng hỏi xin việc mà ở đâu cũng lắc đầu: ‘Không, không, không nhận, đủ rồi.’ Lúc đó thật sự muốn khùng luôn. Cứ nghĩ đến cảnh không còn tiền mà sinh ra bị căng thẳng. Căng thẳng rất nhiều.”

Ngoài những áp lực “có tên gọi cụ thể,” những chuyện tưởng chừng như nhỏ nhặt, vớ vẩn, đôi khi cũng trở thành nỗi gặm nhắm dai dẳng trong lòng nhiều sinh viên xa nhà, lại vốn dĩ nhạy cảm.

Có những sinh viên trước khi rời khỏi vòng tay cha mẹ, chưa từng phải nghe một lời nặng nhẹ, chưa từng biết cầm đến miếng giẻ rửa chén, cái cây lau nhà, bàn ủi quần áo thì, nay sang Mỹ du học, ở trọ nhà người lạ, cái restroom không biết chùi, thùng rác không biết đổ, thức ăn thừa trong tủ lạnh không biết vứt, phòng ngủ không biết sắp đặt gọn gàng, khiến bị chủ nhà nói là “nhìn vào không biết phòng dành cho người ở hay chuột ở.”

Uất ức, nghẹn ngào. Không biết “tại sao những việc như vậy mình cũng không quen làm, khiến người ta phải nhắc, hay vì đã có ai trong đời dám nhắc nhở mình như vậy đâu.” Chuyện chỉ vậy, đôi khi lại thành stressed, và suy sụp tinh thần.

Tình bạn và niềm tin tôn giáo

“May mắn là em còn có bạn bè và người thân chia sẻ,” Tuyết Nhung, người đang chuẩn bị chuyển tiếp lên Cal State Long Beach, nhìn nhận.

Cùng chung suy nghĩ với Tuyết Nhung, còn có Thanh Mai, Trân Trần, Phú Phạm, Kim Liên. Tất cả đều cho rằng, có bạn bè, có thân nhân ở đây là một sự may mắn, góp phần hỗ trợ rất nhiều cho sinh viên du học trong việc giảm bớt áp lực, căng thẳng mà những đứa trẻ xa nhà lần đầu đối diện.

Thanh Mai liến thoắng: “Ða phần sinh viên du học sang đây thường rơi vào cảm giác lẻ loi, nhớ nhà. Em thì may mắn có gia đình dì, cậu, chú ở đây, lại thêm có được người bạn thân đã sang đây trước nên em cảm thấy rất vui. Lại thêm em là người dạn dĩ, nên dễ dàng kết được nhiều người bạn tốt.”

Trân Trần vui vẻ: “Em cảm thấy may mắn là tuy không có người thân ở đây, em lại có được những người bạn thân thiết. Thấy đỡ rất nhiều, chứ không thì chắc cô đơn lắm.”

Có bạn bè, mỗi khi có chuyện, các du học sinh lại mang ra chia sẻ với nhau, “nói ra hết rồi thấy cũng nhẹ.”

Một thực tế là hầu như không có du học sinh nào mỗi khi gặp khó khăn lại gọi điện thoại về kể sạch sành sanh mọi chuyện cho cha mẹ ở Việt Nam nghe.

“Khi có chuyện gì xảy ra, em cũng chỉ gọi về nói với gia đình một chút thôi. Nhiều lúc thật khó khăn nhưng chỉ nói khó hơi hơi thôi. Bởi nói ra sợ gia đình lo lắng. Mà lo lắng quá cũng có làm được gì đâu!” Tuyết Nhung chia sẻ.

Trân Trần cũng thế. Em cho rằng, mỗi khi gặp những vấn đề khó khăn, em chỉ gọi điện thoại nói một phần với gia đình thôi, “bởi ba mẹ ở xa quá, có nói cũng chỉ làm ba mẹ lo thêm, già thêm thôi.” Chính vì thế, “chuyện khó 10 phần, em chỉ nói khó có 2 thôi. Rồi khi mọi chuyện qua hết rồi em mới lại kể cho ba mẹ nghe.” Trân nêu “kinh nghiệm.”

Không có nhiều bạn bè, Kim Liên đặt niềm tin vào tôn giáo. Liên cho hay, em là người Công Giáo nên điều giúp em vượt qua những áp lực nặng nề chính là việc “bám víu vào Chúa và Ðức Mẹ.”

Một số sinh viên khác thì lạc quan, và tin tưởng vào tương lại. Tuyết Nhung tâm sự: “Em cứ nghĩ là mình may mắn hơn nhiều người, và tương lai sẽ khác hơn rất nhiều nếu mình học xong và quay về Việt Nam. Cho nên thôi thì đã được đi du học thì bằng mọi cách phải mà ráng ở lại học chứ không bao giờ có ý định bỏ cuộc quay về, cho dù bất kỳ lý do gì.”

Với sinh viên Thanh Mai thì khác. Cô khẳng định rằng, những quyết định do mình đặt ra, mình phải tự chịu trách nhiệm: “Quyết định đi du học là của em, nên em không có quyền than vãn. Em cũng nghĩ nếu chỉ mới có khó khăn như vậy mà mình đã bỏ cuộc, đầu hàng thì làm sao mình sống ở đời được. Cuộc đời còn nhiều cái khó khăn hơn. Cứ nghĩ những chuyện đó không là gì hết thì mình sẽ vượt qua thôi.”

Trên trang blog của một sinh viên du học, người ta đọc được những dòng chữ sau:

“Du học là phải nén nhịn mỗi khi rất buồn, muốn gọi ngay cho người thân để tâm sự nhưng phải nén lại vì không muốn để ai phải lo lắng cho mình.

Du học là cảm giác hụt hẫng mỗi khi có chuyện gì rất vui, muốn gào thét đùa vui nhưng rồi chợt nhận ra quanh mình hình như không ai quan tâm cả.

Du học là muốn khóc cũng không được khóc vì mình phải mạnh mẽ, phải vững vàng.

Du học là khó thở khi phải nhận cái áp lực, sự kỳ vọng từ mọi người vì mang tiếng đi xa học mà lại không làm được gì thì thật là xấu hổ.”

Và,

Du học là không được xưng là du học nếu không muốn nhận thêm áp lực từ những ánh nhìn kỳ thị của những người cùng mái tóc màu da của con Hồng cháu Lạc.”

Sinh viên Việt du học tự tử tại Westminster 29/6-Linh Nguyễn – Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER (NV Monday, June 28, 2010) – Một sinh viên Việt Nam du học tại Hoa Kỳ treo cổ tự tử hôm 21 tháng 6, tại căn nhà anh thuê, trong thành phố Westminster.

Theo cơ quan khám nghiệm tử thi Quận Cam (OC Sheriff Coroner) xác nhận với Người Việt, nạn nhân tên là Nguyễn Mạnh Cường, 19 tuổi, sinh viên đang theo học tại Ðại Học Golden West Community College, treo cổ tự tử chết tại một căn nhà thuộc thành phố Westminster trong tuần qua.


Căn nhà ở Westminster, nơi người ta tìm thấy Nguyễn Mạnh Cường, 19 tuổi đã treo cổ tự tử,
cảnh sát Westminster phát giác vào ngày 22 tháng 6, 2010. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Thanh niên này tự tử, bằng cách treo cổ, lúc 7 giờ sáng, ngày 21 tháng 6, 2010 tại căn nhà trên đường Stoneridge, Westminster. Nạn nhân ở với một người dì.” Ông Bruce Lyle của cơ quan này cho biết như vậy.

Mặt khác, sau khi tìm hiểu từ Sở Cảnh Sát Westminster, Nghị Viên Tyler Diệp Miên Trường thông báo cho Người Việt, rằng: “Cảnh sát Westminster phát giác vụ này vào ngày 22 tháng 6, nhưng kết quả khám nghiệm cho biết nạn nhân đã chết hơn một ngày trước đó.”

“Nguyễn Mạnh Cường dùng khăn lông quấn bên ngoài một sợi dây điện và tự treo cổ, trong nhà xe. Cảnh sát tìm thấy trong người nạn nhân có một lá thư tuyệt mệnh và một vé lô tô. Nội dung lá thư cho thấy, Cường muốn để lại di sản cho bà mẹ.”

Cảnh sát cũng thông báo đến Nghị Viên Tyler Diệp rằng: “Ðây là một sinh viên Việt du học, có ít bạn, không thích giao du và không có dấu hiệu uống rượu hay dùng ma túy trong quá khứ.”

Ðược hỏi về kinh nghiệm đối với sinh viên, Giáo Sư Phạm Thị Huê, khoa trưởng phụ trách về cố vấn (Counseling) của Ðại Học OCC, nói với Người Việt: “Tôi tiếp xúc với nhiều du học sinh từ Việt Nam sang học tại Ðại Học Orange Coast (OCC). Ða số chỉ cần cố vấn về chương trình học. Ít thấy các em than về mặt tinh thần.”

Giáo Sư Huê nói thêm: “Trước khi cho con em đi du học tại OCC, phụ huynh ở Việt Nam đều biết rằng họ phải đủ sức chi trả khoảng $18,000 một năm. Ða số sinh viên trong trường hợp này không tỏ ra gặp khó khăn về tài chánh.”

Qua điện thoại, bà Janelle Lieton, giám đốc Trung Tâm Sinh Viên Quốc Tế (International Student Center) của Ðại Học Golden West tỏ ra dè dặt khi được hỏi về trường hợp sinh viên Nguyễn Mạnh Cường. Bà nói rằng: “Vì thông tin giới hạn về sinh viên này, chúng tôi không thể xác nhận hoặc từ chối. Tuy nhiên, chúng tôi rất buồn về sự thể đã xảy ra. Hy vọng cảnh sát sẽ điều tra và cho biết nhiều thông tin hơn.” Sinh viên Việt du học tự tử tại Westminster

Tiến sĩ rởm và cuộc “chạy đua vũ trang” bằng cấp Cập nhật lúc : 5:30 PM, 29/06/2010

(VOV) – Câu chuyện 1 Giám đốc Sở lấy bằng Tiến sĩ ở Mỹ nhưng lại không biết tiếng Anh một lần nữa minh chứng thêm cho tình trạng chạy đua về bằng cấp, với mục tiêu lớn nhất là tạo được lợi thế khi thăng quan, tiến chức.

Gần đây, báo chí bàn luận nhiều về chuyện ở tỉnh Phú Thọ có một Giám đốc Sở đã lấy bằng Tiến sĩ ở Mỹ nhưng lại không biết tiếng Anh. Sau đó, báo chí cũng phát hiện ra rằng cơ sở cấp bằng cho vị cán bộ này là một tổ chức rởm, thành lập ra chỉ để bán bằng và đã giải thể.

Từ một cử nhân hệ tại chức của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, vị Giám đốc này đã ghi danh vào trường đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ. Sau hai năm, chủ yếu là tự nghiên cứu băng đĩa được dịch sang tiếng Việt, ông đã được cấp bằng Tiến sĩ quản trị kinh doanh với học phí tiền túi bỏ ra là 17.000 USD (tương đương 320 triệu đồng).

Điều kỳ khôi là mặc dù nghiên cứu sinh ở Mỹ nhưng ông lại không biết tiếng Anh. Trong 2 năm làm luận án Tiến sĩ, ông chỉ sang Mỹ học 2 đợt, mỗi đợt 1 tuần, nghe giảng qua phiên dịch, ngay cả khi bảo vệ luận án cũng có người dịch hộ, trường này chỉ yêu cầu thí sinh gửi đề cương luận án cho họ chỉnh sửa là được. Trong quá trình học tập, nghiên cứu sinh này cũng không có người hướng dẫn nhưng có đến 3 người phản biện! Theo báo Sài gòn tiếp thị, tờ báo đầu tiên “khui” ra vụ việc này, thì ở tỉnh Phú Thọ có đến 10 vị được đào tạo thành Tiến sĩ theo kiểu tương tự.

Vụ việc này được nêu ra đúng vào thời điểm nhạy cảm, khi các địa phương, các ngành đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp. Cái bằng Tiến sĩ này, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến “vấn đề qui hoạch” của vị Giám đốc Sở này. Khi “trần tình” với báo chí, ông chỉ biết than thở là do không may!

Khỏi phải phân tích nhiều, ai cũng biết cái bằng Tiến sĩ kiểu này chẳng mang lại cho chủ nhân của nó nhiều kiến thức khoa học. Nhưng nó lại mang cho người ta cái danh “Tiến sĩ”, và cái danh này (lại là hàng ngoại), có thể mang lại rất nhiều lợi thế khi tổ chức xem xét đưa vào qui hoạch hay cất nhắc lên những vị trí cao hơn.

Bệnh “sính” bằng cấp là mặt trái của một truyền thống rất tốt đẹp của dân tộc ta là tôn trọng tri thức, trọng dụng hiền tài. Trong nhiều trăm năm, chế độ khoa cử chính là hình thức chủ yếu, thậm chí là duy nhất để chọn lựa quan lại của các triều đại phong kiến. Hiện nay, trong công tác tổ chức cán bộ, cũng có một thực tế là những người nào có học hàm học vị cao cũng luôn được trọng dụng, ưu ái. Giữa hai cán bộ cho một vị trí công tác, nếu các điều kiện khác là ngang nhau, anh nào có học hàm, học vị cao hơn thì sẽ giành ưu thế lớn hơn khi xem xét bổ nhiệm, cất nhắc.

Tất nhiên, lựa chọn như vậy là không sai nhưng điều đáng lo ngại là nguy cơ quá thiên lệch các chỉ số về bằng cấp trong khi không xem xét đầy đủ các chỉ số khác quan trọng hơn nhiều, như năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý điều hành và hiệu quả công tác của cán bộ. Thực tế này cũng có nguyên nhân là các chỉ số về năng lực lãnh đạo hay hiệu quả công tác thường rất khó đong đếm hay lượng hoá được cụ thể.

Thế là, để “yên tâm  công tác” và phấn đấu lâu dài, nhiều cán bộ bị cuốn vào cuộc “chạy đua vũ trang” về bằng cấp. Học thực cũng có nhưng học hành láo nháo, đánh trống ghi tên cốt để có bằng cũng không phải là hiếm. Nhiều người vừa làm công tác quản lý vừa làm nghiên cứu sinh, hai loại công việc khác hẳn nhau, nhưng cuối cùng đều gặt hái được kết quả tốt cả!

Tỷ lệ cán bộ cấp Sở, Vụ và cấp tỉnh, hoặc Bộ ở Việt Nam có học vị Tiến sĩ có lẽ không thua kém nhiều so với thế giới. Điều đáng lo ngại là không ít người trong số này dù có bằng thật nhưng không có thực học, và chưa chắc năng lực quản lý của họ đã tốt. Đấy là chưa nói những người “vũ trang” bởi bằng giả! Những người học giả này lẫn vào những người học thật, có trình độ thật. Họ làm nhiễu quan trường và làm nhiễu cả môi trường giáo dục.

Một công việc cực kỳ hệ trọng của Đại hội Đảng các cấp là công tác nhân sự, chọn lựa được những người có đức có tài để giao những công việc quan trọng. Yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài đặt ra với bộ máy Đảng và Nhà nước là phải rà soát, thanh lọc được những cán bộ, tuy được “vũ trang” đầy đủ bằng cấp nhưng lại không có đức và không thực tài; đồng thời xây dựng được một hệ thống tiêu chí đanh giá công khai, minh bạch, cụ thể, dân chủ để chọn được người hiền tài. Chỉ có như vậy, tệ bằng giả, học giả, đào tạo giả mới không còn đất sống. Và những cuộc “chạy đua vũ trang” bằng cấp thiếu lành mạnh cũng sẽ tiêu tan./.

Tiến sĩ: ‘Không xưng danh thì ai biết là ai…?’ ( Vnn Thứ hai 28 Tháng Sáu 2010)

Advertisements

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: