Tổng bí thư lấn quyền Thủ tướng và Chủ tịch nước? talawas blog
Việc Tổng bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh ký kết 3 văn bản hợp tác trong chuyến thăm Nga hồi đầu tháng Bảy 2010 dẫn tới câu hỏi liệu hành động này có đúng với thẩm quyền của một Tổng bí thư đảng hay không?
Đài RFA phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần, nhà báo tự do tại Moscow và từng là Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội, người cho rằng đây là một sự vi phạm nghiêm trọng những quy chế thông thường trong ngoại giao quốc tế và là hành động lấn lướt trên quyền của Chủ tịch nước, tức trên quyền của nguyên thủ quốc gia. Vậy hành động trên của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh có phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam?
Việc sát nhập các doanh nghiệp vận tải của VINASHIN vào VINALINES theo Quyết định 926/QĐ-TTG của Thủ tướng là trường hợp tập trung kinh tế bị cấm Bauxite Việt Nam
Theo quyết định 926/QĐ-TTg ngày 18/6/2010 trong số các doanh nghiệp được điều chuyển về Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) có Công ty Vận tải Biển Đông, Công ty TNHH 1 thành viên Vận tải Viễn Dương Vinashin, phần vốn góp của Tập đoàn Vinashin trong các doanh nghiệp vận tải biển khác. Thời gian bàn giao từ 1/7/2010 và kết thúc quý 3/2010.
Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 quy định:
“Điều 166. Chuyển đổi công ty nhà nước
1. Thực hiện theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, nhưng chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật này.
Điều 171. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006”.
Như vậy đúng với cam kết WTO, kể từ ngày 1/7/2010, Luật Doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực, các công ty nhà nước sẽ chuyển đổi sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Từ nay các doanh nghiệp bất kể thuộc thành phần kinh tế nào đều phải theo một luật chơi chung.
Cũng theo Luật Doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp chỉ có 04 loại hình: Điều 38, 63 – Công ty TNHH; Điều 77 – Công ty cổ phần; Điều 130 – Công ty hợp danh; Điều 141- Doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra không còn loại hình doanh nghiệp nào khác. Để chấp hành Luật Doanh nghiệp 2005, trong tháng 6/2010 đồng loạt các công ty mẹ tức các tập đoàn kinh tế nhà nước, các tổng công ty nhà nước đã đồng loạt chuyển sang loại hình doanh nghiệp – công ty TNHH một thành viên, là một loại của công ty TNHH, để cán đích trước 01/7/2010.
Luật cạnh tranh ngày 03/12/2004, có hiệu lực từ 01/7/2005 quy định:
“Điều 18. Trường hợp tập trung kinh tế bị cấm
Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.
Điều 19. Trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm
Tập trung kinh tế bị cấm quy định tại Điều 18 của Luật này có thể được xem xét miễn trừ trong các trường hợp sau đây:
1. Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;
2. Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ”.
Theo Thông cáo báo chí số 4401/BGTVT-VP v/v Tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin ngày 01/7/2010 của Bộ Giao thông vận tải là để “duy trì, phát triển ngành công nghiệp cơ khí đóng, sửa chữa tàu biển; khai thác sử dụng có hiệu quả các dự án, các năng lực sản xuất kinh doanh đã và đang đầu tư; không để ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Nghĩa là mục đích tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin không thuộc trường hợp miễn trừ của Điều 19, Luật cạnh tranh.
“Điều 16. Tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm:
1. Sáp nhập doanh nghiệp;
2. Hợp nhất doanh nghiệp;
3. Mua lại doanh nghiệp;
4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp;
5. Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật”.
Theo báo Công thương điện tử, 18:04:00 28/4/2010:
Vinalines chiếm 50% thị phần vận tải hàng hải nội địa
Sau 15 năm hoạt động, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đã trở thành một thương hiệu vận tải số một trong nước và có uy tín cao tại thị trường khu vực cũng như trên thế giới với đội tàu lên tới 150 chiếc có tổng trọng tải 2,7 triệu tấn.
Công thương – Là một tổng công ty lớn hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực vận tải biển, khai thác cảng và dịch vụ hàng hải, Vinalines đã phát huy vai trò của mình trong việc làm đầu mối giao dịch, tìm kiếm nguồn tài chính cho chương trình đầu tư phát triển đội tàu của mình. Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng có nhiều giải pháp nâng cao công suất xếp dỡ, rút ngắn thời gian làm hàng, giảm thời gian chờ tàu để tiết kiệm chi phí cho khách hàng. Với 12 công ty vận tải biển, Vinalines đã chiếm 43% tải trọng của đội tàu quốc gia và 50% thị phần vận tải hàng nội địa.
Như vậy, việc chuyển các doanh nghiệp vận tải và phần vốn góp trong các doanh nghiệp vận tải của Vinashin vào Vinalines sẽ làm cho thị phần vận tải hàng nội địa của Vinalines vượt quá 50%, là trường hợp tập trung kinh tế bị cấm.
Hà Nội, ngày 07/7/2010
HĐS
| BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢISố: 4401/BGTVT-VP
V/v: Tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 01 tháng 7 năm 2010 |
THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Ngày 18 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 926/QĐ-TTg về việc tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Trong những ngày vừa qua, trên một số phương tiện thông tin đại chúng có đăng tải một số thông tin về vấn đề này. Bộ Giao thông vận tải và Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam xin thông báo như sau:
Phát triển ngành cơ khí chế tạo, trong đó cơ khí đóng tàu là một trọng điểm và định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần phát triển kinh tế biển và thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc phòng theo Nghị quyết Trung ương IV Khoá X.
Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam được thành lập từ năm 1996 với vốn điều lệ chỉ hơn 100 tỷ đồng, công nghệ lạc hậu, thị trường nhỏ bé, nay đã phát triển thành Tập đoàn kinh tế mạnh về cơ khí chế tạo (công nghiệp đóng tàu). Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong chiến lược công nghiệp đóng tàu, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam đã có bước phát triển khá nhanh về năng lực đóng mới và sửa chữa tàu biển. Thị trường đóng tàu được mở rộng, đưa Việt Nam thành một quốc gia phát triển trong lĩnh vực đóng tàu. Năng lực chế tạo trong lĩnh vực đóng mới tàu biển phát triển vượt bậc, từ chỗ mới đóng tàu 1.000 DWT qua thời gian ngắn đã đóng được tàu trên 100.000 DWT, tàu chở dầu thô từ 100.000 đến 300.000 tấn, tàu chuyên dùng chở hàng ngàn ô tô, kho nổi chứa xuất dầu; trình độ kỹ thuật công nghệ của các ngành công nghiệp phụ trợ cũng có bước phát triển…
Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ giữa năm 2008 đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội trong đó nhiều ngân hàng bị phá sản, vận tải giảm sút nghiêm trọng… đã ảnh hưởng nặng nề đến Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam gây ra khó khăn về tài chính, không huy động được nguồn vốn vay nước ngoài, cam kết vốn của một số ngân hàng và tổ chức tài chính trong nước bị huỷ… dẫn đến không đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn cho các dự án đầu tư đang thực hiện; mặt khác rất nhiều chủ tàu gặp khó khăn về tài chính (do các ngân hàng đã cam kết nhưng sau đó từ chối tài trợ) đã đề nghị huỷ hợp đồng, giãn tiến độ đóng tàu cũng như giãn thời gian thanh toán…; cộng với những nguyên nhân chủ quan như: đầu tư dàn trải, quản lý dự án, công nợ, dòng tiền… còn hạn chế, hệ thống quản lý có nhiều khâu chưa theo kịp và thích ứng nhanh với tình hình biến động khủng hoảng nên họat động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của Tập đoàn rơi vào tình trạng rất khó khăn, phải khẩn trương, kiên quyết cơ cấu lại, cả về tổ chức sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, với yêu cầu là: duy trì, phát triển ngành công nghiệp cơ khí đóng, sửa chữa tàu biển; khai thác sử dụng có hiệu quả các dự án, các năng lực sản xuất kinh doanh đã và đang đầu tư; không để ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức tín dụng.
Để triển khai chủ trương này, ngày 18 tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 926/QĐ-TTg về việc tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam. Ngày 21/6/2010, Bộ GTVT và Văn phòng Chính phủ đã có buổi làm việc với Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam để triển khai Quyết định này. Bộ yêu cầu Tập đoàn phải duy trì hoạt động bình thường của các cơ sở mà Tập đoàn đang quản lý và chuyển giao ngay các cơ sở theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước ngành, Bộ GTVT sẽ kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn Tập đoàn triển khai nghiêm Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng như phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan để giúp Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn này.
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, những doanh nghiệp và dự án dở dang tại các ngành nghề không gắn với ngành nghề sản xuất kinh doanh chính (là đóng tàu và công nghiệp phụ trợ): như vận tải biển, xây dựng các cảng và khu công nghiệp…, các công ty không thật cần thiết trong chiến lược phát triển của Tập đoàn mà trong điều kiện khó khăn hiện nay Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam chưa có điều kiện hoàn thiện, thì được chuyển giao cho các doanh nghiệp khác phù hợp và có điều kiện hơn để có quản lý, đầu tư, khai thác có hiệu quả. Điều này cũng tạo điều kiện cho Tập đoàn giảm nợ và bổ sung nguồn vốn vào các dự án đóng tàu hiện nay.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan, Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu tài chính của Tập đoàn, gắn với kế hoạch sản xuất kinh doanh – tài chính tổng thể của Tập đoàn; giải quyết hoặc báo cáo đề xuất biện pháp giải quyết khi vượt thẩm quyền, hoàn thành tốt mục tiêu chiến lược phát triển ngành công nghiệp tàu thuỷ, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm cho người lao động.
Tập đoàn cũng đã triển khai nghiêm túc ngay chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 22 tháng 6 năm 2010, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam đã ban hành Nghị quyết liên tịch của Đảng uỷ và Hội đồng quản trị để đề ra các biện pháp nhanh chóng thực hiện chủ trương trên, ổn định sản xuất, cố gắng tập trung giữ vững thị trường, nhằm mục tiêu vượt qua khó khăn và từng bước phát triển ngành công nghiệp tàu thuỷ, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng, đảm bảo việc làm cho hàng chục ngàn lao động.
Bộ GTVT và Tập đoàn Vinashin trân trọng đề nghị các cơ quan báo chí chung sức, đồng lòng giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, ổn định tình hình sản xuất, kinh doanh, giữ vững và tiếp tục phát triển uy tín, thương hiệu của Tập đoàn trong nước và trên trường quốc tế, góp phần phát triển ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam và đạt được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế biển mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
TL. BỘ TRƯỞNG
CHÁNH VĂN PHÒNG
NGƯỜI PHÁT NGÔN CỦA BỘ TRƯỞNG
(đã ký)
Nguyễn Văn Công
Nơi nhận:
– Các cơ quan thông tin báo chí;
– Văn phòng Chính phủ;
– Ban Tuyên giáo TW;
– Bộ TTTT, Cục Báo chí (Bộ TTTT);
– Bộ trưởng (để b/c);
– Các Thứ trưởng (để b/c);
– Lưu VT – TTTT.
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
————-
Bổ nhiệm ông Trương Chí Trung vào chức vụ Thứ trưởng Tài Chính là vi phạm luật công chức (Blog Phạm Viết Đào 5-7-10) ◄
– ÔNG TRƯƠNG CHÍ TRUNG MỚI BỊ KỶ LUẬT VỀ ĐẢNG TRÊN CƯƠNG VỊ ỦY VIÊN BAN CÁN SỰ ĐẢNG; TRONG KHI ĐÓ ÔNG LẠI VI PHẠM KỶ LUẬT TRÊN CƯƠNG VỊ CHÍNH QUYỀN LÀ THỨ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH. VỀ NGUYÊN TẮC KHI MỘT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐÃ BỊ KỶ LUẬT VỀ ĐẢNG THÌ PHẢI BỊ KỶ LUẬT CHÍ ÍT TƯƠNG ĐƯƠNG VỀ MẶT CHÍNH QUYỀN! KHÔNG RÕ BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH ĐÃ BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH KỶ LUẬT NÀY CHƯA? NẾU CHƯA, CÓ VI PHẠM LUẬT CÔNG CHỨC KHÔNG? VÌ ĐIỀU LỆ ĐẢNG QUY ĐỊNH: ĐẢNG KHÔNG LÀM THAY NHÀ NƯỚC!
– Theo tin của Báo Điện tử Chính phủ, ngày 3/7/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký các quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại có thời hạn 5 Thứ trưởng các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Tài chính, Nội vụ, Tư pháp và Y tế.
Ông Trương Chí Trung, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn, được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính.
Việc bổ nhiệm này, một dạng “ăn cơm trước kẻng ” đã vi phạm Mục 2, Điều 82 của Luật Công chức và Mục 2, Mục 3 của Điều 27 – Các quy định liên quan đến cán bộ, công chức bị kỷ luật của Nghị định 35/2005/NĐ-CP về việc xử lý cán bộ công chức.
Mục 2 của Điều 27 quy định:”Cán bộ công chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức từ khiển trách đến cách chức thì không được nâng ngạch hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời hạn ít nhất là một năm, kể từ khi có quyết định kỷ luật”.
Mục 3 của Điều 27 quy định:” Cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể được bố trí công tác cũ hoặc chuyển công tác khác…”
Mục 2 của Điều 82 của Luật Công chức 2008 ban hành các quy định khác liên quan đến cán bộ, công chức bị kỷ luật: “Cán bộ, công chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực...”
Theo tin của Vietnamnet đưa ngày 1/9/2009: “Sáng nay (1/9/2009), lãnh đạo Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn để công bố quyết định khiển trách Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Trương Chí Trung.
Theo Quyết định số 1634 – QĐ/UBKTTW ngày 7/8/2009, từ tháng 4/2002 đến tháng 3/2008, trên cương vị Ủy viên Ban cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Tài chính, ông Trương Chí Trung đã có khuyết điểm, vi phạm trong việc chỉ đạo áp mã hàng hóa đối với mặt hàng đầu thu truyền hình kỹ thuật số; cho hoàn thuế nhập khẩu đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa để kinh doanh, sau đó xuất vào khu chế xuất và xử lý kết quả thanh tra đối với Công ty cổ phần Tân Tạo.
Ông Trung cũng ký ban hành Công văn số 8842/BTC-TCT hướng dẫn đăng ký lại thời gian bắt đầu hưởng ưu đãi miễn, giảm thế thu nhập doanh nghiệp; thiếu chỉ đạo, kiểm tra việc Tổng cục Thuế xóa nợ cho một số doanh nghiệp và đồng ý trong việc xóa nợ cho Nhà máy thuốc lá Cửu Long; chậm hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực từ 1/1/2004, dẫn đến một số doanh nghiệp lợi dụng làm trái, vi phạm pháp luật bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can, trong đó có cán bộ của Bộ Tài chính.
Những khuyết điểm, vi phạm nêu trên làm thất thu ngân sách Nhà nước với số tiền lớn, ảnh hưởng đến uy tín của Bộ Tài chính…”
Như vậy, thời hiệu thụ lý ký luật của ông Trương Chí Trung từ 1/9/2009 đến nay chưa tới 1 năm nhưng đã được bổ nhiệm cương vị Thứ trưởng Bộ Tài chính là vi phạm Nghị định 35/2005/NĐ-CP và Luật Công chức năm 2008 ?!
Bởi vì: Khi được bổ nhiệm chức vụ Chủ tịch tỉnh Bắc Kạn ông Trương Chí Trung được hưởng phụ cấp chức vụ là 1,25; như vậy khi ông Trương Chí Trung được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Tài chính, hệ số phụ cấp trách nhiệm được nâng lên 1,3…
Thứ 2, việc bổ nhiệm ông Trương Chí Trung vào chức vụ Thứ trưởng Bộ tài chính nơi mà ông Trương Chí Trung đã vi phạm và bị kỷ luật; xét theo tính chất vi phạm là nghiêm trọng: “làm thất thu ngân sách Nhà nước với số tiền lớn, ảnh hưởng đến uy tín của Bộ Tài chính” – lý ra ông Trương Chí Trung phải được điều chuyển sang công tác khác mới đúng với các quy định của Nghị định 35 và Luật Công chức.
P.L.T.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có biết luật riêng của Văn Phòng Chính Phủ?
Căn cứ nội dung các quyết định này thì lãnh đạo Văn phòng chính phủ đã dựa trên 2 nghị định là nghị định 10 và nghị định 43 để ban hành. Tuy nhiên lãnh đạo Văn phòng chính phủ không biết hay cố tình không biết nghị định 43 đã thay thế nghị định 10 vì vậy việc ban hành quy định dựa trên nghị định đã bãi bỏ nhằm tạo lợi ích cho riêng mình là không thể chấp nhận được đối với cơ quan cấp bộ quan trọng như Văn phòng chính phủ.
chinhsach2010, X-Cafe
03.07.2010
Văn phòng Chính phủ được phép có luật riêng?
Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ vừa ký ban hành các quyết định số 755,756,757,758 quy định về chức năng nhiệm vụ của 4 đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Văn phòng Chính phủ ( theo Xa lộ tin tức).
Theo các quyết định này, lãnh đạo Văn phòng Chính phủ đã tự cho phép mình đề ra những quy định vượt qua mọi quy định đã được Chính phủ ban hành (Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2010 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập).
Nghị định 43 đã nêu rõ: sau khi trang trải các khoản chi phí, các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có) đơn vị được sử dụng theo trình tự:
– Trích tối thiểu 25 % để lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (đối với đơn vị đảm bảo chi phí hoạt động hoặc đảm bảo 1 phần chi phí hoạt động);
– Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
– Trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Nghị định 43 không quy định các đơn vị sự nghiệp phải lập quỹ hỗ trợ người lao động với cơ quan chủ quản nhằm tạo điều kiện tối đa để các đơn vị sự nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động.Tuy nhiên lãnh đạo VĂn phòng Chính phủ đã tự cho mình quyền yêu cầu các đơn vị sự nghiệp phải nộp tới 40% chênh lệch thu chi về quỹ hỗ trợ người lao động Văn phòng Chính phủ, trong khi chỉ cho phép các đơn vị sự nghiệp lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập cho người lao động từ 5 đến 10%. Mặc dù Nghị định 43 đã nêu rõ các đơn vị sự nghiệp trích tối thiểu 25 % phần chênh lệch thu lớn hơn chi để lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp nhưng lãnh đạo VPCP vẫn phớt lờ để quy định Nhà khách 37 Hùng Vương trích 20% chênh lệch lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp nhưng phải nộp đủ 40 % chênh lệch cho quỹ của Văn phòng.
Với người lao động trực tiếp làm ra sản phẩm chỉ được phép trích 5 % chênh lệch thu chi để ổn định thu nhập, trong khi cán bộ cấp chủ quản lại được hưởng tới 40 % liệu có phải là quá bất công và mang tính bóc lột ? Với 40% chênh lệch thu chi của các đơn vị nộp về Văn phòng Chính phủ có phải Văn phòng Chính phủ đã ngang nhiên thành lập 1 quỹ đen và số tiền đó thực sự là bao nhiêu: 5 tỷ, 10 tỷ hay 100 tỷ ? lãnh đạo VPCP sử dụng quỹ này như thế nào ?, cán bộ VPCP đang có những đặc quyền, đặc lợi riêng ?. Nếu cơ quan nào cũng ra những quy định riêng để hưởng lợi ích như Văn phòng chính phủ thì tính nghiêm túc của các nghị định như thế nào ? là cơ quan Trung ương gần Chính phủ nhất, liệu Chính phủ có biết VĂn phòng Chính phủ đang làm bậy, làm ẩu ?.
Thiết nghĩ Văn phòng Chính phủ là cơ quan siêu bộ gần Chính phủ nhất, mọi việc làm đều có tính nêu gương, vậy mà với 1 nghị định quan trọng có tính phổ biến rộng rãi như nghị định 43, Văn phòng Chính phủ lại chỉ vì lợi ích của mình tạo nên một đặc quyền riêng liệu có còn là đơn vị tham mưu giúp việc Chính phủ ? Câu hỏi này xin chuyển đến các đồng chí lãnh đạo Văn phòng Chính phủ.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có biết?
Tôi đã đọc 4 quyết định của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ về các quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và chế độ quản lý tài chính của 4 đơn vị sự nghiệp có thu thuộc Văn phòng chính phủ trên mạng thông tin điện tử của Chính phủ.Điều tôi không thể nghĩ ra là tại sao giữa thời buổi bùng nổ thông tin và trong khi Quốc hội đang thảo luận về việc để các đơn vị sự nghiệp được tự chủ trong hoạt động thì Văn phòng chính phủ – một cơ quan tham mưu giúp việc Chính phủ lại ra những quyết định trái luật, trái Nghị định như vậy.
Trước hết các quyết định này đã vi phạm luật ngân sách, vi phạm Luật cán bộ công chức, vi phạm nghị định 43-các luật, nghị định này đều đã quy định rõ về quyền hạn, trách nhiệm, việc thực hiện các khoản thu chi, lập các quỹ của đơn vị sự nghiệp. Lãnh đạo Văn phòng chính phủ đã không đọc, không hiểu hay ở Văn phòng chính phủ vẫn tồn tại cơ chế xin cho vì trong 4 quyết định này việc trích quỹ của các đơn vị sau khi trừ chi phí cũng khác nhau :
– Quỹ ổn định thu nhập áp dụng 5% đối với nhà khách La thành và Hội trường thống nhất, 10% đối với Nhà khách Tao đàn và 37 Hùng vương
– Quỹ phúc lợi và khen thưởng là 30% đối với Nhà khách La thành, 37 Hùng vương và Nhà khách Tao đàn, 45% đối với Hôị trường thống nhất;
– Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Nhà khách La thành và Hội trường thống nhất là 25%, 37 Hùng vương và 20%, Nhà kháchTao đàn là 40%.
– Nộp quỹ hỗ trợ người lao động của Văn phòng chính phủ: 40% đối với Nhà khách La thành và 37 Hùng vương, 30% đối với Nhà khách Tao đàn và 45% đối với Hội trường Thống nhất.
Điều đặc biệt là mức trích lập quỹ khen thưởng và phúc lợi của các đơn vị sự nghiệp này tối đa không vượt quá 3 tháng lương thực tế bình quân hàng năm của người lao động trực tiếp trong khi lương của người lao động ở các đơn vị sự nghiệp thường rất thấp nhưng mức nộp về quỹ hỗ trợ người lao động của Văn phòng chính phủ lại trung bình là 40%. Với cơ sở vật chất được đầu tư như hiện tại, mức 40% chênh lệch thu chi của các đơn vị sự nghiệp này hàng năm nộp về Văn phòng Chính phủ cũng phải đến 50 đến 70 tỷ đồng. Vậy lãnh đạo Văn phòng Chính phủ đã làm gì với quỹ này?
Căn cứ nội dung các quyết định này thì lãnh đạo Văn phòng chính phủ đã dựa trên 2 nghị định là nghị định 10 và nghị định 43 để ban hành. Tuy nhiên lãnh đạo Văn phòng chính phủ không biết hay cố tình không biết nghị định 43 đã thay thế nghị định 10 vì vậy việc ban hành quy định dựa trên nghị định đã bãi bỏ nhằm tạo lợi ích cho riêng mình là không thể chấp nhận được đối với cơ quan cấp bộ quan trọng như Văn phòng chính phủ.
Các quy định về trách nhiệm của Giám đốc và Phó Giám đốc các đơn vị sự nghiệp cũng không được rõ ràng và mang tính song trùng. Luật cán bộ công chức đã quy định tại đơn vị sự nghiệp chỉ có Giám đốc, Phó Giám đốc và Kế toán trưởng là công chức nhà nước còn các chức danh khác đều do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp quyết định. Tại các quyết định này, Văn phòng chính phủ vẫn yêu cầu giám đốc các đơn vị phải trình Bộ trưởng, Chủ nhiệm phê duyệt biên chế cán bộ, viên chức, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức trưởng phòng, Phó trưởng phòng sau khi có ý kiến thẩm định của Vụ Tổ chức cán bộ. Chính từ điều này đã tạo nên cơ chế xin cho, mua bán đối với các chức danh lãnh đạo của các đơn vị sự nghiệp, bởi với tầm bao quát rộng như vậy liệu vụ Tổ chức cán bộ Vănn phòng chính phủ có thực sự nắm được tư cách đạo đức, khả năng quản lý, điều hành của người sẽ bổ nhiệm, miễn nhiệm hay phụ thuộc hoàn toàn vào đề nghị của các đơn vị nhưng vẫn ôm đồm nhằm tìm kiếm lợi ích riêng. Tại các quyết định này Văn phòng Chính phủ quy định “các Phó Giám đốc và Kế toán trưởng các đơn vị sự nghiệp chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng, Chủ nhiệm và trước Giám đốc về lĩnh vực công tác được phân công”. Điều này đã thể hiện rõ nhất sự ôm đồm, cơ chế xin cho, trục lợi cá nhân đối với từng chức danh được bổ nhiệm.
Việc xây dựng các quy chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp của Văn phòng chính phủ đã thể hiện rõ năng lực yếu kém của cán bộ, chuyên viên bởi mỗi một quyết định khi ban hành đều phải căn cứ trên các quy định của pháp luật và nghị định của Chính phủ để đảm bảo sự ổn định và phát triển lâu dài. Là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước nhưng Văn phòng Chính phủ vẫn ban hành các quy định sai phạm như thế thì các cơ quan khác sẽ như thế nào? Văn phòng chính phủ đã được Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đồng ý cho phép ban hành các quy định trái luật như vậy? Thật đáng tiếc đối với một cơ quan tham mưu đã có bề dầy thành tích như Văn phòng chính phủ nhưng đang dần đánh mất đi uy tín của mình.
Chức năng, nhiệm vụ của 4 đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc VPCP
<!–
–>
![]() |
| Hội trường Thống Nhất, một đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Văn phòng Chính phủ |
4 đơn vị sự nghiệp có thu nói trên có chức năng tổ chức phục vụ các cuộc họp, hội nghị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, các hội nghị và hoạt động khác của Đảng, Nhà nước, Quốc hội khi có yêu cầu; phục vụ ăn nghỉ cho khách và đại biểu về dự họp; được tận dụng cơ sở vật chất, lao động để kinh doanh dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Giám đốc của các đơn vị này được quyền tuyển dụng (ký hợp đồng lao động), bố trí, phân công, điều động, luân chuyển, đánh giá, nâng lương, chuyển ngạch, kỷ luật, chấm dứt hợp đồng lao động… đối với cán bộ, viên chức từ cấp Quản đốc, Tổ trưởng trở xuống.
Giám đốc của các đơn vi này được quyết định việc xây dựng, sửa chữa, cải tạo cơ sở vật chất và mua sắm tài sản có giá trị dưới 500 triệu đồng.
Các khoản thu của các đơn vị sự nghiệp có thu nói trên sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý và các khoản thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước theo quy định, phần chênh lệch được phân phối theo trình tự.
Cụ thể, lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập là 5% áp dụng đối với Nhà khách La Thành, Hội trường Thống Nhất, 10% đối với Nhà khách Tao Đàn và Nhà khách 37 Hùng Vương.
Lập Quỹ phúc lợi và khen thưởng là 30% đối với Nhà khách La Thành, Nhà khách 37 Hùng Vương và Nhà khách Tao Đàn, 25% đối với Hội trường Thống Nhất.
Nộp Quỹ hỗ trợ người lao động của Văn phòng Chính phủ là 40% đối với Nhà khách La Thành và Nhà khách 37 Hùng Vương, 30% đối với Nhà khách Tao Đàn và 45% áp dụng đối với Hội trường Thống Nhất.
Đối với Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Nhà khách La Thành, Hội trường Thống Nhất phải trích nộp 25%, Nhà khách 37 Hùng Vương 20% và Nhà khách Tao Đàn là 30%.
Mức tối đa trích lập Quỹ khen thưởng và phúc lợi của 4 đơn vị sự nghiệp tối đa không vượt quá 3 tháng lương thực tế bình quân hàng năm, số còn lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.
Về cơ cấu tổ chức, các đơn vị sự nghiệp có Giám đốc và không quá 3 Phó Giám đốc, riêng Nhà khách Tao Đàn chỉ được bổ nhiệm không quá 2 Phó Giám đốc.
Minh Đức
(Nguồn: Các Quyết định số 755,756,757,758/QĐ-VPCP)-http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Chuc-nang-nhiem-vu-cua-4-don-vi-su-nghiep-co-thu-truc-thuoc-VPCP/20105/30991.vgp
———
Sống chung với thông tin đa chiều 14/5
Xã hội cần thông tin đa chiều và mỗi cá nhân phải làm quen, thích nghi và tự trang bị năng lực để “sống chung” với điều đó.
Thị trường tồn tại các góc nhìn khác nhau:
Những ngày gần đây, thông tin được phát ra từ Bloomberg, một hãng tin có uy tín trong lĩnh vực tài chính tiền tệ quốc tế, đã làm thị trường ngoại tệ biến động, làm xáo động môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
Ngày 10/5, Bloomberg đưa tin: “Ngày 10/5, đại diện Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) cho biết là có thể trong năm nay Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) Việt Nam sẽ phá giá 4% đồng tiền quốc gia.”
Lập tức, từ ngày 11/5, giá USD trên trường tự do tăng nhanh, liên tục nhiều đợt trong ngày. Đến sáng 14/4, giá USD đã “giảm nhiệt” còn 19.100 VND từ mức cao nhất hôm trước là 19.250 VND sau khi NHNN bác bỏ thông tin phá giá VND chiều 13/5.
Trên thị trường tài chính hiện nay, thường xuyên, hàng ngày, xuất hiện các báo cáo đánh giá tình hình môi trường kinh tế vĩ mô của các tổ chức tài chính quốc tế, các ngân hàng trong và ngoài nước và các công ty chứng khoán, các tổ hức tư vấn đầu tư. Mục đích của các báo cáo nhằm thuyết phục hoặc định hướng kinh doanh cho các nhà đầu tư.
![]() |
Trên sàn chứng khoán, các nhà đầu tư đã phát hiện hoặc có thể nhận biết rất rõ mục đích của các bản báo cáo đó đối với xu hướng đầu tư vào một hoặc một vài mã chứng khoán nhất định. Và, cố nhiên tính khách quan và khoa học của các bản báo cáo phải đứng sau mục tiêu tư vấn của các bản Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh, nhận định về ngành …
Tiếp nhận thông tin cần lý trí và năng lực phân tích:
Mới đây, Bộ tài chính đã có văn bản đề nghị những người xây dựng báo cáo thị trường hoặc các nhà báo viết về lĩnh vực tài chính tiền tệ cần thận trọng và cân nhắc trước khi xuất bản.
Cố nhiên, vè quản lý Nhà nước, một yêu cầu như trên là cần thiết. Nhưng với môi trường kinh doanh đa dạng, tác động đến từ nhiều phía và không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, một ngành…thì sự hạn chế hay “khoanh vùng” thông tin không giảm đi sức phức tạp của vấn đề hay đem đến sự lựa chọn đúng đắn và hợp lý của mỗi cá nhân.
Vấn đề, từ phía Nhà nước, là sự nhanh nhạy và minh bạch thông tin. Phản ứng từ phía NHNN chiều 13/5 bác bỏ thông tin “phá giá VND” là một hành động có kịp thời và cần được xây dựng thành một quy chế ổn định.
Xã hội nói chung, từ các nhà đầu tư; kinh doanh đến người nội trợ cũng cần làm quen và phải chấp nhận nhiều cách nhìn; nhận định và dự báo đến từ nhiều tổ chức; cá nhân và các chuyên gia kinh tế.
Không thể xác minh được bản chất; sự thật và bậc cao hơn của nhận thức là chân lý mà không xem xét sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn và chính kiến khác nhau. Hơn nữa, mỗi tổ chức tài chính; tư vấn khi nghiên cứu đã đặt cho mình mục tiêu cụ thể và ngay bản thân đội ngũ nghiên cứu viết báo cáo cũng có quan điểm riêng khi bắt đầu tiếp cận thông tin.
Trong hoạt động của xã hội nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, những nhận định, đánh giá khác nhau càng có môi trường để “nở rộ” do liên quan mật thiết đến lợi ích vật chất của từng tổ chức, nhóm người và cá nhân. Ở lĩnh vực này, không bao giờ có “thông tin vô tính”.
Mỗi tổ chức, đặc biệt là từng cá nhân cần nhìn hiện tượng và đọc thông tin một cách có lý trí, có khả năng phân tích. Muốn vậy, mỗi người cần một năng lực tri thức vừa đủ để không bị tâm lý “đám đông”; “tin đồn” dẫn dắt.
Một nguồn tin, chưa được khẳng định chính thức, nếu có thể đã đủ dẫn dắt hành động của cả một cộng đồng thì chất lượng của “cộng đồng” cần phải được nâng cấp.
Hôm nay (14/5), trang tin Bloomberg đã gỡ tin đăng trước đó dù bạn đọc chưa biết lý do thực sự của hành động “không bình thường” này của một hãng tin uy tín mang tầm quốc tế. Và, thị trường ngoại tệ đã “hạ nhiệt” trong lúc giá niêm yết của hệ thống ngân hàng thương mại do Nhà nước chi phối quản lý trong suốt mấy ngày qua vẫn ổn định ở mức 19.050 VND/USD.
Xã hội cần thông tin đa chiều và mỗi cá nhân phải làm quen, thích nghi và tự trang bị năng lực để “sống chung” với điều đó. Sống chung với thông tin đa chiều
—————
Nghi án đại gia chứng khoán phản đòn nhau Việt Báo
Hết tháng 4-2010, nhập siêu hơn 3 tỷ USD
Lạm phát lên, lãi suất xuống Con đường nào chúng ta sẽ đi?
SGTT – Mới đây, về chính sách, chỉ số lạm phát được điều chỉnh từ 7% lên 8% (tăng 1%). Lãi suất huy động phải khẩn trương điều chỉnh từ 11,5% xuống 10% (giảm 1,5%), lãi suất cho vay điều chỉnh xuống 12%.
Công thức chính sách và đời sống kinh tế
| Lãi suất huy động tiền gửi đang được định hướng phải nhanh chóng giảm xuống 10%/năm. Ảnh: Phan Quang |
Đó có thể xem là một phần của công thức điều hành vĩ mô trong nghị quyết 23/NQ-CP của Chính phủ đặc biệt dành cho lãnh vực hoạt động kinh doanh tiền tệ – tín dụng tại Việt Nam trong thời gian còn lại của năm 2010. Một công thức đã được giản lược từ những rối rắm của những đại lượng kinh tế vĩ mô của nhiều bộ ngành để chuyển thành một công thức số học đơn giản.
Theo lẽ thường, lạm phát và lãi suất là một cặp đại lượng với quy tắc bất khả phân ly và tăng giảm theo tỷ lệ thuận. Thế mà, theo công thức chính sách này: lạm phát tăng thêm 1% và lãi suất hạ bớt 1,5%. Hai đại lượng bị tách rời! Theo tỷ lệ nghịch!
Thực tế đời sống kinh tế và hành vi thị trường không phải là những tương tác, cấu thành trong một công thức đơn giản như thế.
Ngày 10.5.2010, trong một bài phỏng vấn, ông Lê Đức Thuý, chủ tịch uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, nguyên thống đốc ngân hàng Nhà nước nhận định: “Định hướng của Chính phủ điều hành giữ lạm phát cả năm ở mức 8%, lãi suất huy động khoảng 10% hoặc hơn một chút cũng là hợp lý. Nhưng nó là hợp lý theo cách tư duy của người điều hành chính sách, chứ không phải là hợp lý theo tư duy người đi gửi tiền và của các lực lượng khách quan của thị trường”. Như vậy, tư duy hợp lý và khách quan chung của người điều hành chính sách – người đi gửi tiền – ngân hàng – thị trường là gì và ở vị trí nào?
Đời sống kinh tế và những hành vi thị trường thường có những khoảng cách với chính sách của Chính phủ. Khoảng cách này gần hay xa tuỳ theo mức độ phù hợp của chính sách với thực tế. Nhưng với phương án sắp đặt lạm phát và lãi suất theo tỷ lệ nghịch này thì có thể sẽ phải trả một giá rất cao mới kéo giảm được khoảng cách này. Từ công thức tỷ lệ nghịch này cho thấy chính sách tiền tệ vẫn bất cập ở một, hai hoặc vài khâu nào đó (thống kê, phương pháp, tư duy,…) Chính sách tiền tệ bất cập thì đời sống kinh tế bất trắc và thậm chí méo mó.
Nếu phải khẩn trương thực hiện công thức chính sách trên, hệ thống ngân hàng, đặc biệt đối với những ngân hàng thương mại cổ phần không được ưu ái bảo hộ, với vai trò chuyển tải các nguồn vốn – tín dụng qua lại trong thị trường chắc chắn sẽ phải chật vật với nhiều bất trắc và sẽ méo mó. Rủi ro lại chồng chất lên rủi ro! Rủi ro mang tính hệ thống sẽ phình lớn hơn.
Thời nào cũng vậy. Một khi hệ thống ngân hàng chật vật với những bất trắc mang tính hệ thống tự thân hoặc từ chính sách thì không những cổ đông của ngân hàng sẽ bị bất trắc mà người sử dụng dịch vụ ngân hàng (người gửi tiền và người vay tiền) cũng sẽ phải chịu bất trắc nhiều hơn. Đó là một quy ước không văn bản. Đó là kinh tế và thị trường. Thị trường bất ổn. Kinh tế mệt mỏi. Cơ hội mất đi. Thời nào cũng vậy.
“Hải đăng” lạm phát – lãi suất
| Lạm phát và lãi suất là một cặp đại lượng với quy tắc bất khả phân ly và luôn tăng hoặc giảm theo tỷ lệ thuận. Lạm phát và lãi suất như hai ngọn hải đăng vần định vị đúng. |
Lãi suất là yếu tố cốt lõi chi phối gần như toàn diện hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng. Lạm phát là yếu tố cơ bản có nhiều ảnh hưởng và chi phối đến mức tăng giảm của lãi suất ngân hàng. Đó là hai ngọn “hải đăng” chỉ hướng đi cho nền kinh tế nói chung và thị trường tiền tệ – tín dụng nói riêng. Và vai trò “hải đăng” đó càng thiết yếu hơn trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế như hiện nay.
“Hải đăng” lạm phát phản ảnh chính sách và điều hành kinh tế của Chính phủ và thường được điều hành thông qua một trong hai hoặc cả hai kênh chính là ngân hàng Nhà nước và bộ Tài chính. Vì vậy, vị trí của “hải đăng” lạm phát phải được đặt ở nơi có tầm nhìn tốt và cường độ chiếu sáng phải mạnh.
Để hoạt động tốt vai trò “hải đăng” lãi suất của ngân hàng và thị trường thì ngân hàng và thị trường phải luôn hướng tìm, nhìn và bám víu với “hải đăng” lạm phát – không có sự lựa chọn nào khác và không thể khác được. Khác sẽ bị lạc hướng. Ngân hàng lạc hướng. Thị trường lạc hướng. Lãi suất lạc hướng. Lãi suất lạc hướng là lãi suất thua, lỗ, và sụp đổ.
Thế nhưng, dường như cả hai ngọn “hải đăng” này vẫn chưa định vị lại được vị trí hợp lý và đúng với vai trò của nó, và cường độ chiếu sáng cũng vẫn còn chập chờn với tỷ lệ nghịch.
Đời sống kinh tế và thực tế của “người đi gửi tiền và của các lực lượng khách quan của thị trường”, như ông Lê Đức Thuý đã đề cập, đang mong chờ những chính sách và điều chỉnh hợp lý và hợp lý hơn nữa.
Tỷ lệ thuận hoặc tỷ lệ nghịch. Con đường nào ta đi và đi bằng gì? Bây giờ đã là 12 giờ khuya!
Lạm phát lên, lãi suất xuống Con đường nào chúng ta sẽ đi?
————
Nới chỉ tiêu lạm phát: ‘8% vẫn là con số tham vọng’
> Nới chỉ tiêu lạm phát lên 8%
Trong đó, 14 doanh nghiệp và đại lý nhận ký gửi cà phê và đang nợ của nông dân với tổng số lượng lên tới 1.788 tấn cà phê (trị giá gần 50 tỉ đồng) hoặc vay tiền của nông dân khoảng 37 tỉ đồng tiền mặt.
(VnMedia) – Theo dự báo cuối tháng 4 của BHXH Việt Nam, năm 2022 số thu vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng số chi của quỹ; từ năm 2023 trở đi, để bảo đảm chi trả phải trích thêm từ số dư của quỹ. Tới năm 2040, số thu và số tồn tích bắt đầu không bảo đảm khả năng chi trả và các năm sau đó số chi lớn hơn rất nhiều so với số thu trong năm.
(14/5/2010)
Việt Nam thoát khỏi cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu nhanh Lao Động
– Tổng cục Thuế cho biết, cơ quan này đã biên soạn tài liệu hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN) năm 2009 gồm 5 phần chính: các văn bản thuế TNCN, hướng dẫn kê khai quyết toán thuế TNCN, hướng dẫn sử dụng phần mềm HTKK thực hiện quyết toán thuế TNCN, một số vấn đề lưu ý khi quyết toán thuế TNCN 2009 và giải đáp một số tình hướng vướng mắc về thuế TNCN.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Toàn bộ nội dung tài liệu đã được đăng tải trên website ngành Thuế tại địa chỉ http://www.gdt.gov.vn/. Tổng cục Thuế cho biết, mục đích của việc công khai tài liệu quyết toán thuế TNCN 2009 trên mạng nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính, minh bạch hóa chính sách liên quan tới thuế, giúp người nộp thuế hiểu rõ các quy định về quyết toán thuế TNCN, đặc biệt là quyết toán thuế TNCN năm 2009.
Filed under: KINH TẾ, PHÁP LUẬT | Tagged: kinh tế VN |









Can I send directly to TT nguyen tan Dung by his email or his office in Ha noi? address ?
Thủ tướng Chính phủ có trang riêng tại đây. Có thể gửi thư trực tiếp tại đó.
S E1 BB 91ng chung v E1 BB 9Bi thong tin da chi E1 BB 81u.. WTF? 🙂
———-
ttngbt: Ai mao danh ttngbt vậy ?!
Hổng hiểu , …. điều gì đang xảy ra dzậy ??!