Việt Nam ra tạp chí về nhân quyền: Vụ trưởng Vụ Báo chí xuất bản làm Phó Ban Tuyên giáo


Một vụ xử bất đồng chính kiến Một cuộc chiến truyền thông tại VN, từ tạp chí nhân quyền, một loạt các thứ trưởng CA, Ban tuyên giáo cũng mới, Tôn giáo cũng vậy …. và !!!! RFA lại có qui chế phát thanh thường trực …

Vụ trưởng Vụ Báo chí xuất bản làm Phó Ban Tuyên giáo

Ông Nguyễn Thế Kỷ, Vụ trưởng Vụ Báo chí xuất bản, vừa được bổ nhiệm giữ chức Phó Ban Tuyên giáo Trung ương.

DB Ed Royce: Hãy cung cấp cho người dân VN những thông tin trung thực

Trung tuần tháng 7 vừa qua, đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA) đạt được qui chế “chương trình phát thanh thường trực” (permanent authorization), qua một luật được Tổng Thống Obama ký thông qua.

Khai trương cổng thông tin điện tử Bộ Công an

TT – Ngày 16-8, Bộ Công an chính thức khai trương cổng thông tin điện tử Bộ Công an trên mạng Internet tại địa chỉ http://www.mps.gov.vn

anhbasam: – Bộ Công an khai trương cổng thông tin điện tử giữa lúc nhiều cuộc tập dượt uýnh võ tay không, cả bắn đạn thật liên tiếp xảy ra. Hy vọng người dân sẽ có được thông tin đầy đủ để yên tâm hơn (VOH)

“Công an phải biết phát huy quyền làm chủ của dân”

Mỗi cán bộ, chiến sĩ công an phải tôn trọng và phát huy quyền, lợi ích chính đáng của công dân, không phiền hà sách nhiễu – Bộ trưởng Lê Hồng Anh.

Bổ nhiệm Phó Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư 17/08/2010 09:04:37

Ngày 16/8, Ban Bí thư T.Ư Đảng đã ký Quyết định số 1744-QĐNS/TƯ bổ nhiệm ông Nguyễn Thế Kỷ (Vụ trưởng Vụ Báo chí-Xuất bản) giữ chức Phó Trưởng ban Tuyên giáo TƯ, thời hạn 5 năm.Ông Nguyễn Thế Kỷ sinh năm 1960, là Tiến sĩ Ngữ văn quê Nghệ An.

TIN LIÊN QUAN

Ông Nguyễn Thế Kỷ sinh năm 1960, là Tiến sĩ Ngữ văn  quê Nghệ An; từng trải qua các vị trí công tác: Giám đốc Đài PTTH Nghệ An; Tổng biên tập Báo Nghệ An; Phó ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An; Bí thư Huyện ủy Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; Vụ trưởng Vụ Báo chí Xuất bản thuộc Ban Tuyên giáo TƯ.

(Theo Hà Nội mới)

Có cái nè nè: CHÙM ẢNH LẠ truongduynhat

Xin giới thiệu chùm ảnh lạ tôi chụp được trong chuyến dọc đường gió bụi qua vùng đỉnh chóp cực Bắc vừa rồi.

Cờ tổ quốc và lồng chim (ảnh chụp tại nhà khách Lũng Cú, Hà Giang)

Thủ tướng bị “nhốt” trong rọ cây (ảnh chụp tại Mèo Vạc, Hà Giang)

Quảng cáo trên nền cờ tổ quốc và cờ đảng (ảnh chụp tại Trùng Khánh, Cao Bằng)

Kiên định cái chi hè? (ảnh chụp tại Trùng Khánh, Cao Bằng)

Sự “thay lòng đổi dạ” của “người tiêu dùng” tin tức (I)

Tác giả: Vadim Lavrusik–Ngập trong trận lụt tin tức, các độc giả “sớm nắng chiều mưa” ngày nay bắt đầu thay đổi cách tiếp nhận cũng như “kén chọn” những nguồn tin giỏi chiều lòng họ hơn.

Mạng xã hội đang nhanh chóng trở thành nguồn tin tức được cá nhân hóa quan trọng của độc giả. Đó là vì trong vòng 5 năm vừa qua chúng ta đã có một cuộc cách mạng trong cách tiếp nhận thông tin. Thay vì tiếp nhận thông tin qua các phương tiện truyền thông kiểu cũ và trang web tin tức, chúng ta lấy thông tin từ các mạng xã hội. Trên thực tế, 75% số tin tức được tiếp lan truyền trực tuyến là nhờ việc chia sẻ các trang xã hội hoặc qua email. Tin tức xã hội đang tự tìm đến với chúng ta.

Độc giả vẫn chủ động tìm những tin tức mình muốn đồng thời cũng muốn những tin tức này được điều chỉnh cho phù hợp với sở thích và thị hiếu cá nhân. Các hãng thông tấn, các mạng xã hội cũng như công ty công nghệ đang cố gắng sử dụng mọi trang web và công cụ để có thể đáp ứng xu hướng mới về dòng tin tức xã hội cá nhân này.

Cá nhân hóa tin tức và xã hội hóa nguồn cung cấp tin

Xu hướng cá nhân hóa tin tức, về nhiều mặt, không chỉ là lời giải cho vấn đề có quá nhiều tin tức, mà còn cho thấy sự thay đổi lòng tin từ các hãng thông tấn sang những cá nhân có vai trò như người phụ trách thông tin. Jay Rosen, giáo sư ngành báo chí trường Đại học New York kiêm nhà phê bình truyền thông, đã dẫn lời Clay Shirky, một nhà văn nổi tiếng của Mỹ: “không có cái gọi là sự quá tải thông tin mà chỉ có những thất bại trong việc sàng lọc thông tin”.

Trong khi đó, dòng thông tin xã hội, theo Rosen lại là: “một phương tiện sàng lọc hữu ích. Việc dựa vào bạn bè và mạng cá nhân để chọn lọc ra những thông tin hay nhất đã giải quyết được vấn đề mà Shirky nêu lên”.

Các mạng xã hội như Twitter, Facebook… đang trở thành bộ “sàng lọc” tin tức cho nhiều người

Rosen cho biết, cách độc giả đặt lòng tin vào con người không giống với cách họ đặt lòng tin vào các hãng thông tấn. Tuy nhiên, trước khi web đạt được vị trí xã hội hiện tại, những người chúng ta biết không thể trở thành nguồn tin uy tín như nguồn tin từ các công ty truyền thông danh tiếng.

Song hiện nay, tình thế này đã thay đổi. Đó là bởi cộng đồng ngày càng có tiếng nói hơn trong các mô hình phân phối xã hội mới, đồng thời được tham gia nhiều hơn vào các cuộc đối thoại với vai trò những cá nhân tạo ra thông.

Rosen khẳng định: “Mọi người có thể sử dụng chức năng news feed trên Facebook và stream trên Twitter để biên tập thông tin cho chính mình”.

Bạn bè là sợi dây thông tin

Các hãng thông tấn đã nhận ra xu hướng mới này và đang hy vọng có thể thuyết phục được độc giả trở thành “biên tập viên” bằng cách làm cho việc truyền tải thông tin cá nhân trên các mạng xã hội trở nên dễ dàng hơn. Một số công ty, trong đó có Đài phát thanh nhân dân quốc gia Mỹ NPR, đã bắt đầu chú ý tới thính giả đến từ các mạng xã hội và tăng cường đầu tư nguồn lực để tìm hiểu thói quen tiếp cận thông tin của lớp thính giả này.

Sau hơn 2 năm xuất hiện trên Facebook, NPR quyết định thực hiện một cuộc điều tra nhằm tìm hiểu kĩ về hơn 1 triệu fan trên Facebook của mình. Andy Carvin, nhà chiến lược cấp cao tại NPR, đã tiến hành khảo sát chính mạng lưới bạn bè trên Twitter và Facebook của ông nhằm kiểm chứng vấn đề: Mọi người có thực sự sử dụng mạng xã hội để tìm kiếm tin tức hay không? Trong số hơn 40.000 người được hỏi, 74,6% cho biết Facebook là nơi họ nhận tin tức từ NPR, và 72,3% trả lời họ “mong đợi” bạn bè sẽ chia sẻ trực tuyến các đường dẫn (link) đến những thông tin và câu chuyện thú vị.

Carvin nhận định: “Không phải mọi người đã mất hứng thú vào tin tức mà là họ đang thay đổi cách thức tiếp nhận thông tin”.

Nhận thức được sự chuyển biến này, Facebook đã bắt đầu hợp tác cũng như cung cấp nguồn lực cho các hãng thông tấn và các tờ báo để sử dụng mạng xã hội này hiệu quả hơn. Ví dụ, hiện nay chúng ta có thể biết bạn bè trên Facebook của mình đã chọn “like” (thích) hay “recommend” (giới thiệu) trên các trang web như CNN hay Washington Post. Điển hình nhất là Washington Post – tờ báo này đã đưa các công cụ xã hội tích hợp plugin của Facebook vào trang web của mình nhằm đem lại cho độc giả một trải nghiệm tin tức xã hội mới.

Washington Post đã đưa các công cụ xã hội tích hợp plugin của Facebook vào trang web của mình

Khi bạn bè của chúng ta giới thiệu các trang web mới, việc đó sẽ được thể hiện trên trang xã hội cá nhân của họ ở phần “recent activity” (hoạt động gần đây). Nhờ vậy, chúng ta có thể biết bạn bè mình đang đọc gì mà không phải trực tiếp vào các trang web này.

Justin Osofsky, người lãnh đạo hiệp hội truyền thông của Mạng lưới những người phát triển Facebook, nói rằng các hãng thông tấn đang sử dụng các công cụ tích hợp plugin không chỉ để tạo ra liên kết dẫn đến trang web của mình, mà còn để cung cấp những nội dung có trọng tâm và đáp ứng đúng nhu cầu của độc giả.

Ngày nay các tờ báo đã có thể sử dụng một vài công cụ trên Facebook để thêm vào yếu tố xã hội và truyền tải nội dung trọng tâm cho đúng đối tượng độc giả trên Facebook cũng như các độc giả khác. Chẳng hạn, các tờ báo có thể công bố những tin tức thích hợp cho một số lượng “fan” tại 1 địa điểm nhất định thay vì toàn bộ số fan của mình. Khi việc tiếp nhận tin tức có những bước tiến triển mới trên Facebook, chức năng news feed chắc chắn cũng trở nên có trọng tâm và đánh đúng đối tượng hơn.

Trang chủ tin tức tùy chỉnh

Mặc dù việc tiếp nhận tin tức đang chuyển sang xu hướng xã hội, nhưng các trang truyền thông cũng đúc rút được một số bài học kinh nghiệm nhất định và bắt đầu thí nghiệm các phương thức mang đến cho độc giả một trải nghiệm tùy chỉnh. Ví dụ, tờ Thời báo Los Angeles (LATimes ) đã hợp tác với công ty VisualDNA để tạo ra Newsmatch – một bài kiểm tra thị giác dành cho người dùng để tìm hiểu thị hiếu và sở thích cá nhân của họ, trên cơ sở đó tạo ra một trang nội dung cá nhân có khả năng thu hút người đọc cao. Sau khi độc giả hoàn thành bài kiểm tra, trang web sẽ xử lý dữ liệu để tạo ra một trang với những nội dung đã được cá nhân hóa phù hợp với thị hiếu đọc của độc giả.

Sean Gallagher, biên tập viên điều hành của trang LATimes.com, cho biết bài kiểm tra này sẽ giúp độc giả tìm thấy những nội dung họ cần nhưng có thể không biết trang web đang có. Gallagher nói: “Trang chủ chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, và bài kiểm tra này sẽ giúp độc giả tìm thấy những bài báo họ yêu thích”. Ông cho rằng “chiếc chén thánh” của việc cá nhân hóa tin tức chính là mô hình giới thiệu mà những trang web như Amazon.com đã xây dựng.

Linh Giang dịch theo Mashable.com

–  Sự sai lầm về khoa học, nguy hại về chính trị (Quân đội ND- Chủ Nhật, 15/08/2010, 22:50 (GMT+7)).

Trong một xã hội, sự tồn tại nhiều đảng và chế độ đa đảng tuy có những điểm giống nhau song không phải là một.

Về mặt hình thức, sự tồn tại nhiều đảng và chế độ đa đảng giống nhau ở chỗ đều là “số nhiều”. Tuy nhiên, đa đảng chỉ với nội dung phân công, phối hợp nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc do một đảng lãnh đạo, cầm quyền thì đó không phải là chế độ đa đảng, mà đơn giản chỉ là sự đa đạng của các tổ chức xã hội. Về bản chất, đó vẫn là chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền.

Chế độ đa đảng là một hình thái chính trị nhà nước trong đó lý do tồn tại của các đảng là sự cạnh tranh về quyền lực. Mỗi đảng thường là đại diện cho các lực lượng chính trị khác nhau, các nhóm lợi ích khác nhau… theo đuổi những lý tưởng, mục tiêu khác nhau, thường là đối lập với nhau về nhiều mặt, từ chính sách đối nội, đối ngoại, đến quan điểm, hệ tư tưởng – chế độ xã hội và ngày nay còn là thái độ, ứng xử đối với môi trường (như các đảng xanh chẳng hạn).

Thực tế cho thấy, trong một xã hội, chế độ đa đảng với sự đối lập, cạnh tranh, đấu tranh giữa các đảng không phải bao giờ cũng đem lại dân chủ và phát triển cho xã hội. Có nơi, có lúc sau sự thay đổi đảng cầm quyền cái gọi là dân chủ sau sự đảo lộn chính trị được mệnh danh vì dân chủ đã trở thành cái độc quyền của những lực lượng chính trị thắng thế. Ví dụ như, khi giành được thắng lợi, người ta có thể chiếm giữ hoặc mua các đài phát thanh, truyền hình, biến những phương tiện truyền thông của xã hội thành tài sản của một người hoặc của một đảng thắng thế, và đương nhiên nó sẽ phục vụ cho những người sở hữu nó. Ở Liên Xô, Đông Âu những năm 1989 – 1991, trong chế độ đa đảng mới được thiết lập, khi Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo thì lập tức xã hội đã chuyển sang con đường khác, hệ lụy là vô cùng to lớn. Không phủ nhận rằng trong chế độ đa đảng, sự thay đổi đảng cầm quyền không phải bao giờ cũng dẫn đến bạo lực hoặc đảo lộn xã hội, mà còn có nhiều kịch bản khác nhau. Ở khu vực Bắc Âu, thường do các đảng Dân chủ xã hội cầm quyền, sự chuyển giao quyền lực giữa các đảng diễn ra khá êm ả. Ở Hoa Kỳ, sự đổi vai giữa hai đảng: Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ có thể dẫn đến những thay đổi quan trọng trong chính sách đối nội, đối ngoại, như vừa qua, khi đảng Dân chủ thắng lợi, Ba-rắc Ô-ba-ma lên cầm quyền. Ở châu Phi, sự thay đổi đảng cầm quyền thường dẫn đến xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo…

Trên đây là phác thảo chế độ đa đảng và sự vận hành của chế độ đó trên thế giới.

Ở Việt Nam chế độ đa đảng được đặt ra từ bao giờ và trong bối cảnh nào?

– Ai cũng biết, trước khi Liên Xô tan rã, chế độ XHCN ở Đông Âu sụp đổ chưa có ai đặt ra vấn đề chế độ đa đảng ở Việt Nam (với đúng ý nghĩa của khái niệm đó). Ngay sau khi ra đời (1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành lực lượng chính trị tiến hành cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc. Trước khi cách mạng giành được thắng lợi, trong các vùng giải phóng, hệ thống chính trị Việt Nam (bao gồm các đoàn thể xã hội, mặt trận, Chính phủ lâm thời…) đã hình thành do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sau cách mạng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng càng được củng cố. Sự tham gia của một số đảng như Việt Nam Quốc dân đảng – “Việt Quốc”, Việt Nam cách mạng đồng minh hội – “Việt Cách”, trong những năm 1945, 1946 là do tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc” của cách mạng mà có.

Việc Chính phủ Hồ Chí Minh chấp nhận dành 72 ghế tại Quốc hội (Khóa I) không qua bầu cử, về thực chất là sách lược nhân nhượng với kẻ thù của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi cách mạng còn đang trong thời kỳ trứng nước. Vụ án bắt cóc, cướp của, giết người ở phố Ôn Như  Hầu, mà thủ phạm là Việt Nam quốc dân đảng gây ra, cũng như sự tan rã của Việt Nam cách mạng đồng minh hội, khi âm mưu “Hoa quân nhập Việt” (lực lượng Tưởng Giới Thạch kéo vào chiếm giữ miền Bắc) bị thất bại đã chứng minh rằng – Việt Quốc, Việt Cách ở vào thời kỳ lịch sử 1945 – 1946 là những tổ chức khủng bố, bán nước hại dân. Thế mà có người nhân danh là tiến sĩ, luật sư viết bài và tung lên mạng, rằng ở Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, với minh chứng là sự tồn tại của hai đảng trên. Thử hỏi:

– Phải chăng Việt Quốc, Việt Cách là những người yêu nước, đại diện cho đồng bào ta? Nếu không thì vì lý do gì mà người ta lại nhiều lần dẫn ra sự kiện đó?

– Phải chăng chế độ đa đảng có thể dung nạp những đại diện không cần phải thông qua bầu cử? Thử hỏi có nơi nào trên trái đất này có chế độ đa đảng kiểu như vậy không?

Thực tế cho thấy, không có một đảng cầm quyền nào, một chính phủ nào lại dại dột tạo cơ hội cho các thế lực chính trị đối lập trong nước câu kết với ngoại bang tìm chỗ đứng trong chính trường quốc gia cả.

Còn sự ra đời và hoạt động của hai đảng là đảng Xã hội và đảng Dân chủ trong những năm 60 – 80, thế kỷ XX cũng không thể cho rằng đó là thời kỳ đa đảng, đơn giản vì hai đảng này đều do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Hơn nữa, trước sau Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội đều không hề có ý tưởng cạnh tranh với vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như vậy là ở Việt Nam chưa bao giờ có chế độ đa đảng theo đúng nghĩa của nó. Vấn đề đa đảng mới chỉ đặt ra ở Việt Nam từ khi xuất hiện cái gọi là “tư duy chính trị mới”, mà nội dung cơ bản của nó là đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” trong thời kỳ cải tổ ở Liên Xô, Đông Âu.

Về khách quan, việc tuyệt đối hóa, áp đặt chế độ đa đảng, bất chấp các điều kiện lịch sử cụ thể là một sai lầm về khoa học, nguy hại về chính trị.

Nếu như “tất cả đều có thể” – một châm ngôn được nhiều người ngưỡng mộ, thì vì sao một đảng lãnh đạo, cầm quyền lại không có thể mà nhất thiết phải là đa đảng? Vấn đề là ở chỗ – chỉ những cái có thể mới có thể. Còn những cái không thể thì không thể chuyển thành cái có thể được. Đời sống đã chỉ ra như vậy. Ví dụ như người ta “không thể” hy sinh thành quả của cách mạng mà nhân dân ta đã giành được bằng bao nhiêu mồ hôi, xương máu để đổi lấy cái gọi là dân chủ, nhân quyền mơ hồ, trìu tượng, phi lịch sử cụ thể…

Trong lịch sử Việt Nam, dân chủ, nhân quyền do nhân dân ta tự đứng lên mà giành lấy, chẳng có “mẫu quốc” hoặc quốc gia “đồng minh” nào chia sẻ cho chúng ta những giá trị đó cả. Nếu như ngày nay xã hội ta vẫn còn nhiều vấn đề nhức nhối, như tình trạng quan liêu, tham nhũng, vi phạm dân chủ, nhân quyền, thì đó là điều Đảng và Nhà nước ta không mong muốn và chúng ta đang nỗ lực xóa bỏ tình trạng đó. Nhưng để giải quyết những vấn đề trên, nhất thiết không thể trông cậy vào những lực lượng chính trị đối lập dưới bất cứ hình thức nào. Chúng ta phải tự giải quyết lấy công việc của mình, cho dù đó là một công việc vô cùng khó khăn, phức tạp./.

Lệ Chi

Thủ tướng bổ nhiệm 7 Thứ trưởng mới

(VnMedia(16/8/2010)) – Ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ đã ký các Quyết định bổ nhiệm 4 Thứ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ, Công Thương. Trước đó, Thủ tướng Chính phủ cũng bổ nhiệm 3 thứ trưởng mới của Bộ Công an.

Bộ Công an có ba thứ trưởng mới

Chiều 13-8, Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ Công an đã tổ chức công bố quyết định bổ nhiệm chức vụ thứ trưởng Bộ Công an đối với ba ông: Trung tướng Phạm Minh Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật Công an nhân dân; Trung tướng Tô Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh 1; Trung tướng Phạm Quý Ngọ, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm.

Tạp chí Xây dựng Đảng cần tăng tính phản biện

16/08/2010 (GMT+7) – Phát biểu tại lễ kỷ niệm 45 năm Tạp chí Xây dựng Đảng ra số đầu tiên (16/8/2010), Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Hạt yêu cầu đội ngũ làm báo ở Tạp chí phải sắc sảo, tăng tính phản biện.

>> Không giấu giếm mặt trái

Theo ông Nguyễn Đức Hạt, mặc dù đã đạt được nhiều thành tích, có những tiến bộ và trưởng thành nhưng so với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới thì Tạp chí cần cố gắng nhiều hơn nữa.

Mô tả ảnh.
Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Hạt. Ảnh: ĐC

“Những bài nghiên cứu mang tính tổng kết, có tính lý luận sâu sắc chưa nhiều, những bài vừa định hướng đúng vừa hấp dẫn còn ít, tính tương tác và chất diễn đàn chưa đáp ứng yêu cầu”, ông Hạt lưu ý.

Phó Ban Tổ chức Trung ương cũng nhấn mạnh, thời gian tới, công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng tiếp tục được xác định là then chốt, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của Đảng, của chế độ.

“Tạp chí cần mạnh dạn đi vào những vấn đề thực tiễn cần được nghiên cứu, phân tích, lý giải, tổng kết. Nhanh nhạy, sắc sảo, tăng tính phản biện, nâng tính chiến đấu là yêu cầu thường xuyên của những người cầm bút ở Tạp chí Xây dựng Đảng”, ông Hạt nhấn mạnh.

Ngoài ra, theo ông Nguyễn Đức Hạt, tạp chí cần tạo ra diễn đàn để trao đổi, tranh luận về một số vấn đề mang tính thời sự, mới, quan trọng của công tác tổ chức xây dựng Đảng.

Trước đó, Tổng biên tập Đỗ Xuân Định ôn lại quá trình 45 năm xây dựng và phát triển của Tạp chí, trong đó luôn luôn thể hiện quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng và tính chiến đấu ngày càng được nâng cao.

Tạp chí Xây dựng Đảng với chức năng là cơ quan hướng dẫn công tác tổ chức xây dựng Đảng của Ban Tổ chức Trung ương, đến nay, mỗi số phát hành hơn 55.000 bản.

– Cù Huy Hà Vũ: Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường – Phản nước, hại dân mới là tội phạm (boxitvn)

Vietnam: The involvement of lay Catholics among the Vietnamese Montagnards (Spero News)

Nguyễn Ngọc Già – Phản biện bài viết của Tiến sĩ Lê Văn Bảo: “Dân chủ phụ thuộc vào bản chất đảng cầm quyền”

Theo cái tứ của ông Bảo, lẽ ra ông phải viết chính xác hơn: “Chỉ có tại Việt Nam và những quốc gia độc tài như Cuba, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc… dân chủ phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền”.

Tôi ngỡ ngàng khi nghe ông “Tiến sĩ” Lê Văn Bảo tuyên bố: “Dân chủ phụ thuộc vào bản chất đảng cầm quyền”. Điều đó có nghĩa: bản chất đảng cầm quyền là dân chủ thì xã hội sẽ có dân chủ, bản chất đảng cầm quyền là bảo thủ, độc đoán thì xã hội sẽ không có dân chủ hoặc có rất ít (tùy vào lòng hảo tâm của đảng đó ban phát dân chủ)???

Ông Bảo còn nhấn mạnh: “Có hay không có dân chủ, dân chủ trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị“. Lý luận này xem ra cần được mổ xẻ nghiêm túc.

I. Dân chủ là tiền đề cho các đảng phái hoạt động:

Chúng ta hãy cùng xem lại định nghĩa “dân chủ là gì” trước khi bàn về bài viết của ông Bảo Tiến sĩ. Để mang tính phổ quát, tôi xin lấy nguồn từ Wikipedia

Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực thông qua một hệ thống bầu cử tự do. Thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Hy Lạp với cụm từ δημοκρατία ([dimokratia] (trợ giúp·thông tin)), “quyền lực của nhân dân”[1] được ghép từ chữ δήμος (dēmos), “nhân dân” và κράτος (kratos), “quyền lực” vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 trước Công nguyên để chỉ hệ thống chính trị tồn tại ở một số thành bang Hy Lạp, nổi bật nhất là Anthena sau cuộc nổi dậy của dân chúng vào năm 508 TCN[2].Trong học thuyết chính trị, dân chủ dùng để mô tả cho một số ít hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị. Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về ‘dân chủ'[3], có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào.

Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng

Nguyên tắc thứ hai, tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi[4]

Tiếp đến, chúng ta cũng cần xem lại “Đảng phái chính trị là gì?”

Cũng theo Wikipedia:

Đảng phái chính trị (thường được gọi vắn tắt là chính đảng hay đảng) là một tổ chức chính trị tự nguyện với mục tiêu được một quyền lực chính trị nhất định trong chính quyền, thường là bằng cách tham gia các chiến dịch bầu cử. Các đảng thường có một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, nhưng cũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ. Các đảng thường có mục tiêu thực hiện một nhiệm vụ, lý tưởng của một tầng lớp, giai cấp, quốc gia để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp, giai cấp hay quốc gia đó

Qua hai định nghĩa có thể xem là chính thống và đúng nguồn mà ĐCSVN không thể nói “các thế lực thù địch” bóp méo, chúng ta có thể thấy: Dân chủ là một khái niệm được con người biết đến cách đây cả 2.500 năm, nó chẳng là điều gì quá mới mẻ hoặc quá đỗi xa lạ với con người. Dân chủ có từ trước khi có… đảng (!) (trong khi ĐCSVN mới chỉ có tám chục năm nay thôi). Ông Bảo còn cho rằng: “trình độ dân chủ cao hay thấp cũng phụ thuộc bản chất đảng cầm quyền”, nghĩa là trình độ đảng cầm quyền cao thì trình độ dân chủ cao, trình độ đảng cầm quyền thấp thì trình độ dân chủ thấp?!

Với cách lập luận của ông Bảo, hình như ông cho rằng “đảng cầm quyền tạo ra dân chủ(?!)”, điều này mặc nhiên ông Bảo đã tự bộc lộ sai phạm cơ bản của những khái niệm cơ bản. Sai phạm cơ bản của ông Bảo ở chỗ: ngỡ rằng đảng phái chính trị có trước dân chủ!!!

Mặt khác, phải chăng ông Bảo đánh đồng nội dung (bản chất chính đảng) và hình thức (tên gọi chính đảng)? Có phải ý ông định nói rằng:

– Đảng “Dân chủ” thì bản chất là… dân chủ (?!)

– Đảng “Bảo thủ” thì bản chất là… bảo thủ (?!)

– Đảng “Cộng hòa” thì bản chất là… cộng hòa (?!)

– Đảng “Cộng sản” thì bản chất là… cộng sản (?!)

Đảng “Xanh” thì bản chất là… thiên nhiên (?!)

Đảng “săn bắn, câu cá, thiên nhiên, truyền thống” thì bản chất là…. tiêu khiển (?!)

Đảng Komei (công minh) thì bản chất là… công bằng, minh bạch (?!)

– Đảng “nhân dân” thì bản chất là… “làm chủ”(?!)

– Đảng “Lao động” thì bản chất là… cầm lưỡi liềm, cầm búa chỉ để …lao động(?!)

Nếu quả vậy thì rất đáng buồn và tủi cho “đảng ta”.

Ông hẳn biết ngoài các chính đảng trên, còn có nhiều đảng phái khác trên thế giới như ở Singapore, Thái Lan, kể cả Hoa Kỳ cũng nhưNhật Bản, còn nếu ông Bảo có thời gian nghiên cứu thì có thể gặpĐảng bảo thủ của “bà đầm thép – Thatcher”. Tất nhiên ông có thể tham khảo tài liệu ở nhiều nơi và có thể chu du một số quốc gia, mà tôi nghĩ “đảng ta” sẵn sàng “tạo điều kiện” cho ông để “tham quan học tập nghiên cứu” trước khi phát ngôn… rất phản động: Đảng cầm quyền định đoạt việc có hay không có dân chủ!!!

Tôi có thể khẳng định với ông “Tiến Sĩ”, các chính đảng lâu đời nhất cũng chỉ mới được tạo ra vào thế kỷ 16, 17 sau công nguyên như: Đảng Bảo thủ (1662) Đảng dân chủ của Hoa kỳ được thành lập vào đầu thập niên 1790.

Hoàn toàn có thể nói, chính dân chủ là tiền đề để các đảng phái chính trị có cơ hội mà “góp mặt với đời”, sử dụng hết các chiêu thức (PR, lobby), vận dụng toàn bộ “sở trường” của đảng mình “khuyến dụ” dân chúng, chứng tỏ cho người dân thấy rằng giữa “các đại anh hào”, ta mới đáng để cho bá tánh “chọn mặt gởi vàng”, họ cũng sẵn sàng dùng hết “thủ đoạn”, cũng như phải “tả xung hữu đột” trước các đối thủ khác v.v… để mong nhân dân để mắt tới, thêm vào đó, các đảng phái luôn hiểu rõ phải có dân chủ thì đảng mình mới mong “đời gọi tên em” mà “đem tài ra giúp nước”, do đó bất kỳ đảng phái nào dù cầm quyền hay liên minh cầm quyền đều hiểu dân chủ đã cho đảng phái mình cơ hội để mang “tài” ra thi thố. Đảng phái nào “lọt mắt xanh” của nhân dân mà quá trình cầm quyền “bậy bạ” thì lập tức nội bộ đảng của họ phải chấn chỉnh ngay (mà thật ra chưa cần đến khoản đó, vị nguyên thủ “bậy bạ” đó đã tự từ chức vì danh dự cá nhân rồi, đó đây tại Hàn Quốc, Nhật Bản là các ví dụ mà không cần dẫn ra chi tiết). Khi tới kỳ bầu cử các đảng phái lại tiếp tục “sát phạt” nhau, tiếp tục chứng tỏ với nhân dân cái tốt, cái hay, cái giỏi của mình để mong sao “lọt mắt xanh” nhân dân lần nữa v.v… cái sự đời cứ tuần tự mà tiến.

Trong khi đó, ông Bảo Tiến sĩ “tuyên bố hết hồn”: “Dân chủ phụ thuộc vào bản chất đảng cầm quyền”! Lại một lần nữa, chắc hẳn “đảng ta” đang… ban bố (hay bố thí?) cái “dân chủ” cho nhân dân? Ban nhiều thì hưởng nhiều? ít thì hưởng ít? không ban thì khỏi hưởng? Cấm có ý kiến ý cò?!

Theo cái tứ của ông Bảo, lẽ ra ông phải viết chính xác hơn: “Chỉ có tại Việt Nam và những quốc gia độc tài như Cuba, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc… dân chủ phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền”.

Chẳng lẽ “đảng ta” “ngờ nghệch” đến mức không hiểu một điều cơ bản: dân chủ chính là tiền đề để các đảng phái ra đời và hoạt động?!

“Phi dân chủ bất thành đảng phái”, tất nhiên chuyện các đảng phái tranh giành đấu đá nhau là điều dễ hiểu, vì cạnh tranh nào trong xã hội (kể cả cạnh tranh chính trị) cũng phải xảy ra và nó chính là điều kiện tiên quyết để xã hội phát triển, nếu dựa trên học thuyết của Marx, chuyện tranh giành đấu đá giữa các đảng phái cũng hoàn toàn phù hợp với quy luật 1 của Marx: quy luật “Đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập”,đấu tranh để thống nhất, thống nhất rồi lại đấu tranh để tiến đến cái cao hơn… và quy luật cứ thế mà diễn ra do đó không thể nói “tại đa đảng mà bất ổn”, lập luận này đã quá lỗi thời.

Nếu ông Bảo lấy ví dụ bất ổn chính trị Thái Lan vì “phe áo đỏ” (không ủng hộ chính phủ hiện thời) thì ông sẽ giải thích như thế nào khiphe áo vàng (ủng hộ chính phủ hiện thời) cũng đã biểu tình phản đối chính phủ của họ??? Đối với Kyrgyzstan, với một tổng thống tham quyền cố vị, điều hành đất nước quá kém dẫn đến những hệ lụy mà người dân phải gánh chịu do đó người dân buộc lòng phải nổi dậy là điều tất nhiên. Bảo Tiến sĩ lẽ ra phải phân tích nguyên nhân nào dẫn đến “phe áo đỏ’ biểu tình, tại sao dân chúng Kygystan nổi dậy thay vì chỉ đưa ra hiện tượng mà không nói về nguyên nhân nội tại của những biểu tình, bạo loạn đó, phải chăng Bảo Tiến sĩ chỉ muốn lấy những hình ảnh “lửa đạn ngút trời” để hù dọa người dân Việt Nam trong “cơn say sóng” giữa một xã hội “thất điên bát đảo” và mọi chân giá trị đều đang bị đảo lộn?!

Đa đảng từ dân chủ mà ra, dân chủ tạo ra đa đảng, đa đảng để phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc bằng chính sự cạnh tranh do năng lực của các chính đảng, đó gọi là : “chơi đẹp” (theo ngôn ngữ bình dân)! Chứ đâu phải cái kiểu “một mình một chợ” mà “đảng ta” đang chuẩn bị độc diễn vào đầu năm sau. Đọc bài của ông Bảo Tiến sĩ mà thấy ngượng chín người với “bà con” (chữ ông tướng Hưởng khi nói về nhân quyền).

II. Một bộ phận đảng viên:

Trong bài viết của ông “Tiến sĩ” Lê Văn Bảo, tôi rất chú ý đến cụm từ “MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN”, theo đó tôi tò mò và tìm kiếm trên mạng để đảm bảo những gì nói ra là khách quan, không tùy tiện, hoặc hằn học với “đảng ta”, chúng ta hãy cùng lướt qua:

MỘT BỘ PHẬN ĐÃNG VIÊN có động cơ không đúng đắn, không vì mục tiêu phụng sự cho nhân dân, cho Tổ quốc

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN đang công tác chưa nhận thức một cách đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của Quy định 76

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN đáng bị chê trách, lập trường tư tưởng không vững vàng, thiếu tinh thần trách nhiệm, ỷ thế cậy quyền, không gương mẫu, không đoàn kết, lánh nặng tìm nhẹ, đùn đẩy công việc cho người khác..

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN phai nhạt lý tưởng cách mạng, thái độ thờ ơ, chưa tích cực đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống, trong đó nổi lên là tình trạng quan liêu, thiếu trách nhiệm, nhũng nhiễu khi thực thi công vụ.

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN xa rời quần chúng. Cá biệt có cán bộ, đảng viên có lối sống sa đọa, bị dư luận xã hội lên án gay gắt.

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN có mức thu nhập cao, chủ yếu là những chủ xí nghiệp tư nhân, chủ hộ nuôi trồng với quy mô lớn thường tiêu xài lãng phí, an phận với sự giàu có của mình. Thậm chí, có người còn sử dụng các thủ đoạn lừa gạt, trốn thuế… làm tổn hại lợi ích của nhà nước, tập thể và nhân dân để làm giàu bất chính

sự tha hóa biến chất của MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN đã ảnh hưởng không nhỏ tới xu hướng phấn đấu và lý tưởng chung của thanh niên

tình trạng suy thoái đạo đức của MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN, kể cả cấp cao, làm cho uy tín của Đảng giảm sút nghiêm trọng

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN trẻ càng hạn chế, dễ bị dao động trước những thông tin sai lệch, đặc biệt là thông tin xuyên tạc tư tưởng; dễ bị lôi kéo, kích động. Một bộ phận đảng viên trẻ ngại tham gia hoạt động xã hội, sợ khó khăn, gian khổ, cá nhân chủ nghĩa sống buông thả, thực dụng, đòi hỏi hưởng thụ quá khả năng đáp ứng của bản thân, gia đình và xã hội; băn khoăn, lo lắng về tiêu cực, tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, trong khi khả năng tự đề kháng của đảng viên trẻ trước các vấn đề xã hội còn yếu

MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN, cán bộ, công chức chưa có sự chuyển biến tích cực và đồng bộ. Có cán bộ, đảng viên vẫn còn làm việc theo cách cũ; tình trạng sách nhiễu, tham ô, hối lộ vẫn còn xảy ra

… và còn “chỉ khoảng”… 44.000 kết quả có liên quan đến “MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN”, dành cho những ai “quan tâm” đến đảng tha hồ tham khảo và suy ngẫm.

Thiển nghĩ, cách dùng từ “MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN” (không riêng ông “Tiến sĩ” Lê Văn Bảo mà cả các nhà báo “lề phải”) là cái cách (nói nhẹ nhất)… “làm biếng”!

Một bài báo để đảm bảo tính thuyết phục độc giả, bài báo đó luôn cần phải được lượng hóa bằng các con số cụ thể, lúc đó mới biết: “một bộ phận đảng viên”, “một bộ phận nhỏ đảng viên”, “một bộ phận đảng viên không nhỏ” (*) là bao nhiêu. Thế nào là “nhỏ”, thế nào là “không nhỏ” chứ nhỉ?!

Nói nặng hơn một chút, đó là cách nói đậy điệm, nói cho xong, nói suông, nói bè (hổng phải hát bè), nói theo đuôi mà chẳng thể nào thuyết phục độc giả.

Thử hỏi trong vài triệu đảng viên hiện nay, đảng đã bao giờ dám công bố thật sự con số “MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN” THAM NHŨNG, SUY ĐỒI ĐẠO ĐỨC, HÈN NHÁT, KHINH LỜN PHÁP LUẬT, KÉO BÈ KẾT CÁNH, KHINH RẺ NHÂN DÂN, … LÀ BAO NHIÊU KHÔNG??? Làm được vậy thì hãy đề cập đến cái gọi là “một bộ phận…”

Trở lại với bài viết của ông “Tiến sĩ” Lê Văn Bảo, ông nói: Trong khi “nhất định kiên trì” (chữ ông Bảo là “kiên định”) theo chế độ dân chủ do (một) Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ quên nguy cơ của một đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chuyên quyền độc đoán, mất dân chủ, vi phạm quyền làm chủ chân chính của nhân dân.” .

Thử hỏi “Tiến sĩ” Lê Văn Bảo, giả như tạm chấp nhận điều ông vừa nói trên đây, tôi – một người dân, một độc giả, xin phép hỏi ông vài câu:

– Vui lòng định nghĩa hoặc đưa ra khái niệm “chế độ dân chủ do (một)Đảng Cộng sản cầm quyền” và từ đó phân tích so sánh “chế độ này” khác với chế độ dân chủ đa đảng như thế nào? Xin nhắc bài trước cho ông: dân chủ có trước khi có đảng.

– Ông nhắc đến cụm từ “nguy cơ” nghĩa là sự chuyên quyền độc đoán, mất dân chủ luôn là mối đe dọa thường trực đối với chế độ độc đảng? Vậy, ông đã thấy tai họa của độc đảng là “sự chuyên quyền độc đoán, mất dân chủ” luôn luôn treo trên đầu nằm của chế độ độc đảng(?!) tại đây, chính ông đã tự vạch ra cho người dân thấy rằng: chế độ độc đảng luôn song hành với độc đoán, phi dân chủ. Đúng không?

– Vậy, để “không bao giờ quên “nguy cơ” : chuyên quyền độc đoán, mất dân chủ, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân” thì ĐCSVN đã có những chính sách và hành động cụ thể nào, để chứng tỏ ĐCSVN luôn tránh xa việc “chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ”?

– Kết quả của những chính sách, hành động đó là gì? Hãy dẫn chứng người thật, việc thật để chứng minh luận điểm trên và cũng để tránh cụm từ “MỘT BỘ PHẬN ĐẢNG VIÊN” như tôi đã dẫn như trên.

Nhân tiện đây, tôi muốn nhắc nhở ông Bảo với học vị “Tiến sĩ”, có lẽ ông nên đọc lại 3 quy luật cơ bản của Triết học Marx :

– Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
– Quy luật lượng đổi chất đổi.
– Quy luật phủ định của phủ định.

Ông cũng nên dành chút thời gian để liên hệ giữa ba quy luật này với “tuyên bố hết hồn”: “Dân chủ phụ thuộc vào bản chất đảng cầm quyền” !!!.

Mặt khác, ông Bảo cũng nói Đảng Cộng sản Việt Nam cũng CHẤP NHẬN (chữ của ông bảo là: không phủ nhận) tình trạng vi phạm dân chủ, hay dân chủ hình thức còn diễn ra ở một số nơi (không biết là bao nhiêu nơi?! lại một minh chứng về… tính làm biếng!). Nhưng tình trạng đó không bắt nguồn từ bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, từ chế độ một đảng cầm quyền, mà trước hết do sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức và những sơ hở, thiếu đồng bộ của những cơ chế, chính sách cũng như những khiếm khuyết trong phương thức lãnh đạo.

Lại tiếp tục xin hỏi ông:

– Khi ĐCSVN đã CHẤP NHẬN có tình trạng “vi phạm dân chủ hay dân chủ hình thức”,có nghĩa tình trạng này là có? Lạ thay! Ông vừa tuyên bố “dân chủ phụ thuộc vào bản chất đảng cầm quyền”, vậy hóa ra bản chất ĐCSVN là phi dân chủ nên xã hội Việt Nam hiện nay đầy rẫy những biểu hiện phi dân chủ? Hiện tượng nói lên bản chất, đúng vậy không?

– Ông cho rằng nguyên nhân chính là do “sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức và những sơ hở, thiếu đồng bộ của những cơ chế, chính sách cũng như những khiếm khuyết trong phương thức lãnh đạo..

Điều này có nghĩa, chỉ cần khắc phục 3 yếu tố:

+ đảng viên suy thoái
+ cơ chế chính sách sơ hở, thiếu đồng bộ
+ phương thức lãnh đạo khiếm khuyết

là dân chủ sẽ xuất hiện?

Tôi e rằng, ông lại tiếp tục sai lầm nữa. Ông vui lòng xem lại định nghĩa dân chủ để hiểu rằng, dân chủ không hề và chưa bao giờ được tạo ra từ 3 yếu tố ông vừa đưa ra.

+ đảng viên suy thoái: để giải quyết vấn đề này, ĐCSVN đã “tổ chức cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM” mấy năm qua mà có khá hơn không? Phan Thanh Bình và Nguyễn Trường Tô là ví dụ quá lớn mà lại còn nóng hổi, chẳng lẽ không ai thấy kết quả của “cuộc học tập” sao? Đừng để người dân buộc phải nhắc nhở đến những “biểu hiện suy thoái của một bộ phận đảng viên” qua các sự kiện khác mà dư luận xã hội đã và đang ầm ĩ khắp nơi như : khai thác bauxite, thuê đất rừng 50 năm, QĐ 97, tham nhũng đại lộ đông tây, in tiền polymer, Nexus Technologies… và danh sách không chỉ dừng lại đây.

+ cơ chế chính sách sơ hở, thiếu đồng bộ: ai làm chính sách? ai tạo cơ chế? chính do “một bộ phận đảng viên” làm chứ người dân có được “nhào” vô làm?!

+ Phương thức lãnh đạo khiếm khuyết: lại hỏi, ai lãnh đạo? cũng do “một bộ phận đảng viên” lãnh đạo, nào phải do người dân nhào vô để lãnh đạo?!

Cả ba yếu tố nghe tưởng có lý của ông Bảo đã bị chính “một bộ phận đảng viên” của ĐCSVN đánh đổ hoàn toàn.

III. Kết:

Chỉ cần áp dụng 2 nguyên tắc:

– Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng.

– Nguyên tắc thứ hai là tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi.

là tự khắc dân chủ sẽ đến với nhân dân Việt Nam. Dân chủ không phải từ “một bộ phận đảng viên” suy thoái , cũng không từ “cơ chế chính sách”, lại càng không từ “phương thức lãnh đạo khiếm khuyết”.

Thật buồn cho một cây viết chính luận chỉ có những lập luận lỗi thời, phản khoa học và thiếu hẳn thuộc tính quan trọng: tính vận động khi nghiên cứu các vấn đề xã hội!!!

Nguyễn Ngọc Già

Tham khảo:

(*) http://vietbao.vn/Chinh-Tri/Mot-bo-phan-can-bo-dang-vien-xuong-cap-nghiem-trong/20562427/96/

(*) http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:5qLP74-1X5MJ:vietlove.com/board/lofiversion/index.php/t61719.html+%22m%E1%BB%99t+b%E1%BB%99+ph%E1%BA%ADn+kh%C3%B4ng+nh%E1%BB%8F%22&cd=6&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

(*) http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:MFnm0itEX2gJ:vneconomy.vn/20100520074719489p0c17/neu-co-tien-toi-cung-khong-mua-dat-ba-vi.htm+%22m%E1%BB%99t+b%E1%BB%99+ph%E1%BA%ADn+kh%C3%B4ng+nh%E1%BB%8F%22&cd=25&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

(*) http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:lxnSPTDf2CUJ:concaiday.vnweblogs.com/print/18564/241358+%22m%E1%BB%99t+b%E1%BB%99+ph%E1%BA%ADn+kh%C3%B4ng+nh%E1%BB%8F%22&cd=27&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

(*) http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:NNEImSeB9UAJ:truongchinhtrina.gov.vn/ArticleDetail.aspx%3F_Article_ID%3D108+%22m%E1%BB%99t+b%E1%BB%99+ph%E1%BA%ADn+kh%C3%B4ng+nh%E1%BB%8F%22&cd=30&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

—————–

Dân chủ phụ thuộc vào bản chất đảng cầm quyền (Quân đội). “Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá xã hội chủ nghĩa.”

Tiến sĩ Lê Văn Bảo
Trong khi kiên định chế độ dân chủ do một Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ quên nguy cơ của một đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chuyên quyền độc đoán, mất dân chủ, vi phạm quyền làm chủ chân chính của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không phủ nhận tình trạng vi phạm dân chủ, hay dân chủ hình thức còn diễn ra ở một số nơi. Nhưng tình trạng đó không bắt nguồn từ bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, từ chế độ một đảng cầm quyền, mà trước hết do sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức và những sơ hở, thiếu đồng bộ của những cơ chế, chính sách cũng như những khiếm khuyết trong phương thức lãnh đạo. Đảng ta luôn nghiêm túc khắc phục những thiếu sót và có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá xã hội chủ nghĩa. Một trong những mũi nhọn chúng thường sử dụng là đả phá mô hình chính trị-xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó đặc biệt là chế độ một Đảng Cộng sản cầm quyền. Chúng tuyên truyền một đảng là không có dân chủ, muốn có dân chủ phải chấp nhận tồn tại nhiều đảng…

Đảng là một tổ chức chính trị của những người có chung một mục tiêu, lý tưởng tồn tại trong một chế độ xã hội nhất định. Đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Nói chung ở các nước tư bản, về hình thức, đa đảng chính trị đều “tự do”, “bình đẳng” trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế chỉ có các đảng lớn, có thế lực mới có khả năng chiến thắng và bao giờ cũng có một đảng cầm quyền hoặc lãnh đạo, có khi kéo dài nhiều thập kỷ. Mặt khác, chế độ đa đảng ở phương Tây, về thực chất, cũng là dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị, vì tất cả các đảng cánh hữu đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Đa đảng đưa lại một số tác động tích cực nhất định cho các đảng tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ khả năng tránh nguy cơ độc quyền, độc đoán, thông qua cọ xát, kiềm chế, đối trọng lẫn nhau. Tuy vậy, thể chế đa đảng cũng dễ khuyến khích các lực lượng đối lập vì lợi ích cục bộ chỉ biết phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền, bất chấp phải-trái, đúng-sai, không tôn trọng những lợi ích chính đáng của nhân dân. Thực tế đã và đang diễn ra ở không ít các quốc gia là các đảng tranh giành quyền lực, đấu đá lẫn nhau, gây ra rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thậm chí, sự tranh giành quyền lực giữa các đảng đã đẩy một số nước lâm vào khủng hoảng chính trị, chẳng những quyền dân chủ của người dân không được đảm bảo mà tính mạng của họ cũng bị đe dọa. Cuộc xung đột giữa những người “áo đỏ” với Chính phủ đương nhiệm ở Thái Lan và cuộc xung đột giữa chính phủ và phe đối lập Cư-rơ-gư-xtan vừa qua là những ví dụ.

Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất, là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay Đảng là nhân tố bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không phải là ý chí chủ quan về chính trị mà là tất yếu khách quan của lịch sử. Việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan cho việc hình thành chế độ đa đảng đối lập. Vì trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam không có một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được những cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cũng đã có lúc trên đất nước Việt Nam có nhiều đảng, nhưng những đảng khác không vượt qua được những thách thức gay gắt của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân chủ; sứ mệnh lịch sử của dân tộc ta chỉ do Đảng Cộng sản Việt Nam gánh vác. Những lần vượt qua khó khăn, thách thức đã thể hiện bản lĩnh vững vàng và trách nhiệm lớn lao của Đảng đối với vận mệnh của dân tộc và cuộc sống, quyền tự do, dân chủ của nhân dân.

Trong từng thời điểm cụ thể, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo. Có hay không có dân chủ, dân chủ trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.

Để thực hành dân chủ rộng rãi, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiến hành tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp để thể chế hóa quyền lực của nhân dân. Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền nhằm khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và bản thân Đảng cũng tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều bước tiến quan trọng. Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng việc bảo đảm cho mọi người dân quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do người dân lựa chọn. Trong các kỳ họp của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phần đại biểu Quốc hội chất vấn các thành viên của Chính phủ đều được phát thanh, truyền hình trực tiếp để đông đảo các tầng lớp nhân dân theo dõi và được ghi thành biên bản, nghị quyết để giám sát tổ chức thực hiện. Đây thật sự trở thành diễn đàn để người dân thông qua đại biểu do họ bầu ra chất vấn về chính sách, cách thức điều hành, đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn, thách thức. Cũng như nhiều đại hội trước, các văn kiện dự thảo Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ được phổ biến rộng rãi để xin ý kiến của nhân dân. Việc làm đó thể hiện dân chủ, tôn trọng những ý kiến đóng góp của nhân dân trong xây dựng đường lối lãnh đạo đất nước. Đó là sự thực hiển nhiên chứng tỏ Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng bảo đảm cho mọi người dân phát huy quyền làm chủ trong xây dựng và quản lý nhà nước, quản lý xã hội của chính mình, điều mà nhiều nước đa đảng không làm được.

Trong khi kiên định chế độ dân chủ do một Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ quên nguy cơ của một đảng cầm quyền, nhất là nguy cơ chuyên quyền độc đoán, mất dân chủ, vi phạm quyền làm chủ chân chính của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không phủ nhận tình trạng vi phạm dân chủ, hay dân chủ hình thức còn diễn ra ở một số nơi. Nhưng tình trạng đó không bắt nguồn từ bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, từ chế độ một đảng cầm quyền, mà trước hết do sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức và những sơ hở, thiếu đồng bộ của những cơ chế, chính sách cũng như những khiếm khuyết trong phương thức lãnh đạo. Đảng ta luôn nghiêm túc khắc phục những thiếu sót và có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

Như vậy, dân chủ hay không dân chủ không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa đảng đối lập. Trong từng thời điểm cụ thể, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo. Có hay không có dân chủ, dân chủ trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.

Tiến sĩ Lê Văn Bảo

Chính trị: Protests rise as Vietnam social unrest simmers (BBC 8-8-10) ◄

-THD- Công tác tuyên giáo hàm chứa và thể hiện tri thức khoa học, các giá trị và lý tưởng nhân văn trong sáng của Đảng, của Dân tộc (VHNA 27-7-10)

Tổ chức Theo dõi nhân quyền trong vai một “quân sư tồi”

Làm tuyên giáo cần bồi dưỡng lý tưởng độc lập dân tộc (VNN 31-7-10)  —  Đổi mới nội dung, phương thức, biện pháp tuyên truyền… (CAND 31-7-10) —

HOẠT ĐỘNG VU CÁO VIỆT NAM “VI PHẠM NHÂN QUYỀN” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Tạp chí Nhân Quyền Việt Nam -Phát hành tháng một kỳ : Số 1 – 6/2010

TS. BÙI THẾ ĐỨC *

  1. Trong khi tiến hành chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng các vấn đề nhạy cảm: dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá các nước XHCN. Đặc biệt từ sau năm 1991 đến nay, lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng sử dụng các vấn đề trên để chống phá, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, hướng lái Việt Nam theo chế độ TBCN. Hoạt động chống ta về dân chủ, nhân quyền luôn gắn liền với vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhằm can thiệp, gây sức ép, kích động chủ nghĩa li khai, gây mất ổn định chính trị – xã hội diễn ra ngày càng gay gắt, tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau đây:

–         Thông qua các tổ chức quốc tế, các đạo luật, các báo cáo vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Vấn đề nhân quyền và nghĩa vụ thực hiện nhân quyền là mối quan tâm chung của nhân loại, là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu. Các nước phương Tây đang gia tăng lợi dụng vấn đề này để can thiệp vào công việc nội bộ nước ta, tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành các nghị quyết, dự luật… nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Các cơ quan, tổ chức như: Bộ Ngoại giao Mỹ, Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện châu Âu, các tổ chức theo dõi nhân quyền, Ân xá quốc tế … trong các báo cáo hàng năm đều buộc phải thừa nhận Việt Nam có “chuyển biến tích cực”, nhưng luôn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam. Lợi dụng quan hệ hợp tác với Việt Nam, nhiều nước, nhất là một số nước EU luôn tìm cách gắn vấn đề hợp tác phát triển viện trợ, đầu tư với những điều kiện đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền. Trên các diễn đàn đa phương và song phương, các nước phương Tây thường đưa ra những lập luận tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của vấn đề dân chủ, nhân quyền với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” mà không tính đến đặc thù văn hóa, xã hội của từng quốc gia, khu vực.

–         Lợi dụng dân chủ, nhân quyền để phá hoại tư tưởng, tác động “tự diễn biến” vào nội bộ ta.

Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, tệ tham những và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ, Đảng viên để tuyên truyền xuyên tạc, đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc chủ nghĩa Mác -Lênin đã lỗi thời nhằm làm suy giảm niềm tin của quần chúng với chế độ. Chúng triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để mở các chiến dịch tuyên truyền đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, gây nghi kị, chia rẽ trong nội bộ ta. Thông qua các chương trình hợp tác về văn hóa, giáo dục, đào tạo để truyền bá mô hình lập pháp và nền dân chủ tư sản phương Tây, cho rằng Việt Nam cần phải cải cách luật pháp và hệ thống xét xử theo hướng tam quyền phân lập; một số đối tượng tìm cách tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng thực hiện ý đồ hình thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

–         Lợi dụng chiêu bài “nhân quyền” để kích động tư tưởng li khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số.

Các thế lực thù địch ở bên ngoài công khai ủng hộ khích lệ bọn phản động trong người dân tộc thiểu số lưu vong, móc nối, kích động và chỉ đạo số chống đối bên trong ráo riết phục hồi tổ chức, phát triển cơ sở, kích động tư tưởng li khai tự trị, kích động quần chúng biểu tình, bạo loạn. Tại Tây Nguyên, chúng kích động người dân trốn sang Campuchia, tạo chỗ đứng chân, tập hợp lực lượng gây mất ổn định lâu dài. Các phần tử phản động Khmer Krom lưu vong gia tăng các hoạt động tuyên truyền vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, kích động gây hận thù dân tộc Kinh – Khmer, tìm cách móc nối với số chống đối trong nội địa tập hợp quần chúng kích động, biểu tình đòi đất, đòi li khai, tự trị. Ở Tây Bắc, các tổ chức người Mông, Thái lưu vong cũng đang tích cực tuyên truyền luận điệu Việt Nam phân biệt đối xử với người Mông, Thái; gia tăng phát triển đạo trái pháp luật để nắm quần chúng.

–         Gia tăng kết hợp, móc nối số đối tượng chống đối trong nước và bọn phản động nước ngoài để chống Việt Nam.

Vận động số nghị sĩ cực đoan trong Hạ viện Mỹ, Nghị viện châu Âu… ban hành các “Dự luật”, “Nghị quyết”, “Báo cáo”… tạo cơ sở pháp lí cho các hoạt động chống Việt Nam và hợp thức hóa sự ủng hộ với số chống đối; thu thập thông tin về những sơ hở, thiếu sót của ta trong chính sách dân tộc, tôn giáo ở cơ sở để tạo cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Bọn phản động lưu vong đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, “mit tinh” ủng hộ “phong trào dân chủ trong nước”. Số cơ hội chính trị trong nước liên kết với “Đảng cấp tiến quốc gia” (TRP) đưa tổ chức “Quĩ người Thượng” của Ksor Kok đến vu cáo Việt Nam tại một số diễn đàn của Liên Hợp quốc. Đáng chú ý là các tổ chức của Võ Văn Ái, Nguyễn Gia Kiểng ở Pháp; Ngô Thị Hiền ở Mỹ thường xuyên tiến hành các hoạt động xuyên tạc, vu cáo ta.

2. Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

–         Tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động, giáo dục sát hợp từng vùng, địa phương nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền trong tình hình mới. Nắm chắc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và những thành tựu to lớn về nhân quyền chúng ta đã đạt được. Tập trung giáo dục tầng lớp thanh niên, sinh viên, học sinh…, chống sự xâm nhập của các loại tư tưởng sai trái, tài liệu độc hại từ bên ngoài.

–         Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lí hoạt động báo chí, xuất bản, giáo dục, đào tạo… ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, bôi nhọ hình ảnh đất nước, lộ bí mật, gây phức tạp cho an ninh, tổ chức tốt công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại.

–         Nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn hoạt động mới của các thế lực thù địch lợi dụng nhân quyền chống phá ta, nhất là lợi dụng quyền tự do tôn giáo, quyền tự trị của dân tộc thiểu số, quyền tự do ngôn luận, báo chí, bày tỏ ý kiến… để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Phải tạo được sự thống nhất nhận thức và hành động, trước hết là trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể ở Trung ương và địa phương về công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền.

–         Tập trung thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng ở các vùng chiến lược. Đặc biệt là triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX); Nghị quyết số 23 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Nghị quyết số 24 về công tác dân tộc, Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo…

–          Tiếp tục đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đi đôi với việc kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đầu tư nghiên cứu cơ bản về vấn đề nhân quyền làm luận cứ cho việc hoạch định chính sách, pháp luật, tôn trọng thực quyền và nghĩa vụ của công dân. Đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đi đôi với chống các luận điểm lợi dụng dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch.

–         Nắm chắc tình hình, theo dõi, phân tích thông tin dư luận trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền; dự báo kịp thời âm mưu, hoạt động mới của các thế lực thù địch, nhất là lợi dụng nhân quyền can thiệp, gây sức ép của các thế lực thù địch để chủ động đấu tranh vô hiệu hóa.

–         Tăng cường phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên giữa các bộ, ban, ngành, địa phương; phối hợp giữa hoạt động đối nội và đối ngoại. Trong xử lí các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, đảm bảo yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại; phân biệt rõ mâu thuẫn địch ta và mâu thuẫn nội bộ nhân dân để giải quyết phù hợp, không làm phức tạp thêm tình hình,  không sơ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

–         Có biện pháp chủ động tấn công về nhân quyền, như: công bố thành tựu nhân quyền hàng năm của Việt Nam, phê phán các hoạt động vi phạm nhân quyền ở chính các nước phương Tây. Đối với các “vấn đề” nổi cộm mà bên ngoài quan tâm, cần tập trung giải quyết, không để tình hình phức tạp thêm.

–         Đấu tranh, bảo vệ nhân quyền là đấu tranh, bảo vệ về chính trị, tư tưởng. Vì vậy, Ban Cán sự Đảng các bộ, ban, ngành, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chính phủ, các tỉnh ủy, thành ủy chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ và đấu tranh nhân quyền theo chức năng, nhiệm vụ được phân công. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị, xã hội theo chức năng của mình góp phần tích cực tham gia công tác bảo vệ và đấu tranh về nhân quyền.

–         Đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, xây dựng nội dung, phương pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, xác lập hệ thống lập luận sắc bén, phù hợp với từng loại đối tượng, đối tác; triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế về nhân quyền, làm cho các nước và nhân dân thế giới hiểu rõ về những thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, không bị ngộ nhận do những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đặc biệt cung cấp kịp thời thông tin định hướng để giúp gần 4 triệu người Việt Nam hiểu đúng, hiểu rõ tình hình và tích cực tham gia công cuộc đổi mới đất nước, như doanh nhân Nguyễn Công Chánh từ thành phố San Fransisco (Mỹ) về dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ nhất đã nói: “Chúng ta cùng ngồi lại với nhau để giải quyết các vấn đề giữa trong nước và hải ngoại. Mọi người phải đoàn kết. Tôi tin tưởng một sự hòa hợp chắc chắn sẽ trở thành hiện thực”.

* Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương

——

Ba Sàm mời xem thêm:

Dân Biểu Loretta Sanchez Và Cao Quang Ánh Lên Án Nhà Nước Việt Nam (CLBDCTD)

Dân biểu Mỹ họp báo về Nhân quyền VN trước chuyến thăm của TT Nguyễn Tấn Dũng (RFA)

Bài phát biểu của Dân biểu Luke Simpkins tại Hạ viện Liên bang Úc châu về tình trạng vi phậm nhân quyền tại Việt Nam và hai nhà dân chủ Phạm Thanh Nghiên và Trần Khải Thanh Thủy (Cộng đồng người Việt Tự do Úc châu)

–  Chống hội nghị Việt kiều là chuyện ‘tế nhị’ (BBC). Phỏng vấn ông Nguyễn Công Chánh.

———————

Chuyện nực cười trong bản “Danh sách đen” của mật vụ Mỹ.Trung Hoa tinh túy: Dùng những điều quá ghê tởm đến mức không thể có thật này để che đậy tội ác kia (Vit)

Nga bắt giam những người biểu tình ủng hộ dân chủ (VOA)

——–

Thư bạn đọc : “Nhân quyền” ? Diễn Đàn  Nguyễn Trung Thực Cập nhật : 23/07/2010 01:35

Khi ông thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng nói toạc ” Gặp một số trí thức trong dịp này, ông Hưởng đã dõng dạc tuyên bố như sau: “Nước ta Đảng lãnh đạo, không có phản biện gì cả, phản biện là phản động”, “Các anh muốn phản biện hả? nhà tù còn nhiều chỗ lắm! mà cũng chẳng cần bắt bớ tù đày làm gì, thời buổi này, tai nạn giao thông là chuyện cơm bữa; mà cũng chẳng cần tông xe làm gì, buổi sáng các vị đi uống cà phê, về tới nhà cứng đơ, không làm gì được nữa; các nước người ta đều biết kĩ thuật này, chúng tôi cũng chẳng thua đâu”

Nguồn: Diễn Đàn Thư bạn đọcNhân quyền của ông Thượng Hưởng

Vừa qua nhà nước ta đã xuất bản số 1 Tạp chí Nhân quyền Việt Nam trong đó có bài của ông thứ trưởng Bộ công an, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nhan đề Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam ! (có thể xem toàn văn bài này trên mạng Anh Ba Sàm). Ai có thời giờ đọc bài này sẽ hiểu rằng quan niệm “nhân quyền” của ông Thượng Hưởng này rất khác đời, nó không giống quan niệm mà nhân loại đã từng bước xây dựng trong hơn hai thế kỉ vừa qua. Cũng giống như cái gọi là “xã hội hóa” của Đảng cộng sản Việt Nam : nếu Karl Marx sống lại và được thấy thế nào là “xã hội hóa giáo dục” ở Việt Nam, nghĩa là tư nhân hóa nhà trường (để mấy ông quan chức về hưu kinh doanh bán bằng), là bắt phụ huynh nộp đủ thứ học phí, tiêu cực phí, phung phí… thì chắc ông cụ sẽ hô khẩu hiệu : “ Vô sản toàn thế giới, hãy tha thứ cho tôi ! ”. Nhưng phải nói, ông Thượng Hưởng này hết sức can đảm : ông đã giảng nghĩa nhân quyền ở Việt Nam nằm gọn trong câu nói của Cụ Hồ : “ Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… ” Dân ta được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Coi chừng “ nhân quyền ” kiểu này là của “ phương Tây ” đấy, cụ Hồ sống nhiều năm ở phương Tây, bị nhiễm độc nên nói thế, chứ đâu có phải là “ nhân quyền Việt Nam ” theo kiểu ông Thứ trưởng Bộ công an. Nhưng thôi, cũng chẳng nên mất thời giờ tranh luận với ông ta làm gì. Thư này, tôi chỉ xin giới thiệu đôi lời “nói miệng không đăng báo” của ông Thượng Hưởng về nhân quyền, về tự do. Hè năm ngoái, dư luận xôn xao về vụ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kí quyết định cấm đoán các trung tâm nghiên cứu độc lập được phản biện công khai về các vấn đề chính sách (do đó mà Viện IDS đã tuyên bố tự giải thể để phản đối). Giới trí thức cả nước đã được thông tin miệng về những lời của thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng. Gặp một số trí thức trong dịp này, ông Hưởng đã dõng dạc tuyên bố như sau : “ Nước ta Đảng lãnh đạo, không có phản biện gì cả, phản biện là phản động ”, “ Các anh muốn phản biện hả ? nhà tù còn nhiều chỗ lắm ! mà cũng chẳng cần bắt bớ tù đày làm gì, thời buổi này, tai nạn giao thông là chuyện cơm bữa ; mà cũng chẳng cần tông xe làm gì, buổi sáng các vị đi uống cà phê, về tới nhà cứng đơ, không làm gì được nữa ; các nước người ta đều biết kĩ thuật này, chúng tôi cũng chẳng thua đâu ”. Giá ông Thượng Hưởng cứ viết toạc như ông đã nói toạc, thì thế giới sẽ “hiểu đúng” thế nào là “nhân quyền Việt Nam” theo quan điểm của ông. Trên thế giới, khắp đông tây nam bắc, chứ không phải chỉ ở phương Tây, người ta gọi vắn tắt hơn : bạo quyền.

Nguyễn Trung Thực

(Hà Nội) —-

Phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng? talawas blog

Ngày 14/7, Tạp chí Nhân quyền Việt Nam do Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ xuất bản đã ra mắt số đầu tiên. Trên trang Ba Sàm vừa hoạt động trở lại có toàn văn bài “Hãy hiểu đúng về nhân quyền Việt Nam” của Thứ trưởng Bộ Công an, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, đăng trong số này, trong đó tác giả nêu rõ quan điểm: “… những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ ‘dân chủ, nhân quyền’ mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình” và cho biết “phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam thế nào cho đúng”, rằng: “Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946: ‘Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…’ Và lời khẳng định của Bác ‘Không có gì quý hơn độc lập, tự do’.” Trên blog của mình, Ls Lê Trần Luật đặt câu hỏi: Tại sao tạp chí này “không tuyên truyền các yếu kém, các hạn chế, các vi phạm trong lĩnh vực nhân quyền mà lại tuyên truyền về thành tựu? Phải chăng sau bao nhiêu năm cai trị độc đoán, nay cho ra đời một tạp chí nhân quyền cũng là thành tựu?” Tuy nhiên ông vẫn cho rằng “sự ra đời của tạp chí đã cho chúng ta những hy vọng về một sự thay đổi trong tương lai”. Trên X-Càfe, tác giả Hoàng Chính Tâm đặt ra 5 câu hỏi cho Tổng biên tập Tạp chí Nhân quyền Việt Nam.

In Hanoi, Clinton Criticizes Vietnam on Rights (New York Times)- Bà Clinton đến Việt Nam để làm gì? (BBC) “Hiện giờ Việt Nam chưa có đa đảng và tự do ngôn luận thì hãy khéo léo đấu tranh dân chủ ở các mặt khác để từng bước một làm cho ĐCSVN phải chấp nhận những yếu tố đó.”Vietnam abuzz over Clinton wedding (AP/MSNBC). Clinton Presses Vietnam on Rights (The Wall Street Journal) – Ngoại trưởng Mỹ quan ngại về nhân quyền tại Việt Nam nhưng cam kết tăng cường hợp tác (RFI) – Bà Clinton lên tiếng về nhân quyền ở VN (BBC)-  Đôi lời về nhân quần quyền (talawas)  Phản biện xã hội (Hà Nội mới);

Kami – Trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng về nhân quyền

Nguồn: blog Kami

19.07.2010

Vừa qua tin nhà nước Việt Nam xuất bản Tạp chí Nhân quyền đã gây chấn động dư luận trong và ngoài nước, bởi hai chữ nhân quyền vốn được coi là chiêu bài của các thế lực thù địch và phản động thường lợi dụng để tiến hành diễn biến hòa bình, lật đổ chế độ. Hôm nay tôi có được đọc bài viết ” Hãy hiểu đúng về Nhân quyền ở Việt Nam” của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an đăng trên Tạp chí nhân quyền Việt Nam.


Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc với Công an huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.

Bài viết của đồng chí Thượng tướng có thể tóm tắt các nội dung là muốn truyền tới bạn đọc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền ở phương Tây và nhân quyền của người Việt Nam chỉ gói gọn trong những nhu cầu tối thiểu của con người là mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Được biết dưới con mắt của cán bộ chiến sĩ trong ngành công an thì đồng chí Nguyễn Văn Hưởng là một trong bảy thứ trưởng của Bộ Công an thuộc dạng có học, có sự hiểu biết, được mọi người tin tưởng và tôn trọng. Tôi cũng là một trong những số đó, xong bản thân tôi sau khi đọc bài viết của đồng chí trên Tạp chí Nhân quyền Việt Nam số đầu tiên, thì thú thực hơi thất vọng với sự tin tưởng của tôi đối với đồng chí Thượng tướng đã có từ rất lâu. Nhất là khi đọc tới đoạn viết dưới đây của đồng chí Thượng tướng, đã buộc tôi phải cầm bút viết vài dòng góp ý để đồng chí Thượng tướng rút kinh nghiệm (không viết thì sợ có lớp trẻ họ biết họ cười đồng chí Thượng tướng) trích “Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?”

Trước hết về cơ bản thì tôi đồng ý với đồng chí Thượng tướng khi viết (“trích) Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năm 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Nhưng trong toàn bộ đoạn trích trên đây của đồng chí Thượng tướng thì không hiểu đồng chí quên hay cố tình quên hai chữ tự do, mà đồng chí đã viết nhắc lại tới hai lần mà không hề phân tích, vì cái đó (tự do)theo tôi nó mới là cái quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai chữ tự do ấy nó có giá trị gấp ngàn lần việc có cơm ăn, có áo mặc và được học hành như đồng chí hiểu, cái ăn, cái mặc là lẽ tự nhiên để con người sống và tồn tại, nó cũng như khí trời vậy thôi, mà bất kể động vật nào cũng phải có. Đó là lẽ tự nhiên, đối với con người có nhân cách và phẩm giá thì hai chữ tự do là niềm khát khao thiêng liêng mà cả nhân loại đấu tranh hàng ngàn năm nay mới có được, cái đó là mới là cái lớn nhất. Đó chính là lý do vì sao Hồ Chủ tịch khi sinh thời đã nói “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”, điều đó đã được khẳng định dưới dòng chữ tên quốc hiệu đối với các văn bản hành chính và trong tập Ngục trung nhật ký, Hồ Chủ tịch đã viết “Đau khổ chi bằng mất tự do?” chứ Hồ Chủ tịch không nói đau khổ chi bằng không có cơm ăn, áo mặc, không được học hành…

Nếu còn chưa  tin, xin mời đồng chí Thượng tướng bớt chút thời gian vàng ngọc để đọc bài Khám phá nhà tù “thiên đường” ở Na Uy , xem tù nhân của họ cũng có cơm ăn, có áo mặc, được học hành đầy đủ đàng hoàng, nhưng hạn chế duy nhất là học không có quyền tự do như những công dân bình thường. Đó là cái mà pháp luật dùng để trừng phạt những tội phạm.

Chúng ta cùng ngược lại thời gian trước khi Hồ Chủ tịch trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946, đó là ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba đình lịch sử, Hồ Chủ tịch đã đọc những dòng sau đây trong bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (trích):

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Theo quan điểm của Hồ Chủ tịch thì con người ta sinh ra đều phải bình đẳng, mọi dân tộc đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, không phân biệt mầu da và tiếng nói. Vậy xin hỏi đồng chí Thượng tướng rằng đồng chí căn cứ vào đâu để cho rằng nhân quyền của các nước phương Tây không giống như nhân quyền của Việt Nam, khi đồng chí Thượng tướng viết(trích) “Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì? Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…”

Và khi đồng chí Thượng tướng đặt các câu hỏi “Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?” Điều đó cho thấy đồng chí Thượng tướng đã sai ngay từ khi đặt vấn đề của bài viết, cách đặt vấn đề như thế khác nào đồng chí cãi lại lời của Hồ Chủ tịch đã ghi trong Tuyên ngôn độc lập (trích) “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. (Vậy mà Bác Hồ nói đến hôm nay chúng nó còn cãi đấy!)


Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

Xin lưu ý đồng chí Thượng tướng đừng quên rằng không phải vô tình mà trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn từ Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Chúng ta có quyền hỏi rằng tại sao Hồ Chủ tịch không trích dẫn từ Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản hay Tuyên ngôn của nhà nước Liên xô? Câu trả lời cho đồng chí và bạn đọc hiểu rằng sau chữ “Tự do – Bình Đẳng và Bác ái” chính là động lực thúc đẩy Hồ Chủ tịch đi tìm đường cứu nước để giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ của Thực dân Pháp. Đó chính là tư tưởng cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi hết cả cuộc đời để mang lại. Vì sao bây giờ đồng chí Thượng tướng lại quên nhanh như vậy? Đảng và nhà nước ta luôn phát động các phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh với những chi phí hết sức tốn kém, mà những người hô hào nhiều nhất kêu gọi mọi người tham gia học tập là những người như đồng chí Thượng tướng. Vậy mà tiếc rằng ở cương vị lãnh đạo thứ trưởng cấp Bộ mà điều tối thiểu trong tư tưởng của Hồ Chủ tịch sao đồng chí vẫn không hay?

Từ bình đẳng  trong tiếng Việt là một tính từ để chỉ sự ngang hàng nhau về mặt nào đó trong xã hội, vậy tại sao đồng chí Thượng tướng nghĩ rằng người phương Tây khác người Việt Nam, chủng tộc da trắng mắt xanh mũi lõ phương Tây có quyền cao hơn người phương Đông tóc đen, mũi tẹt da vàng? Tại sao đất nước ta đã độc lập tròn 65 năm mà tư tưởng nô lệ “sợ thằng Tây” vẫn còn rơi rớt trong đầu óc những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam như đồng chí Thượng tướng vậy?

Trở về vấn đề nhân quyền, hai chữ nhân quyền ở Việt Nam hiện nay đã và đang bị nhà nước ta xuyên tạc, bóp méo và làm xấu đi rất nhiều trong suy nghĩ của người dân. Nhân quyền nói một cách đơn giản đó chính là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Mọi con người được sinh ra đều bình đẳng và được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ, như quyền sống, quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc. Con người sinh ra hơn con vật ở chỗ con người có quyền của mình đã được khẳng định tại Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

Bản Tuyên ngôn này đã được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua và công bố vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 và nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã phê chuẩn và là thành viên từ năm 1982.  Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là tuyên ngôn đưa ra một quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm,…

Theo bản Tuyên ngôn này thì Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết “Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này”.

Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền chính là quy định chung của các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, mỗi quốc gia khi đã đặt bút ký tham gia vào Công ước đó thì phải có trách nhiệm tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ,  bởi vì nó như một thứ luật quy định của một trò chơi cho bất kể quốc gia nào đã tham gia với tư cách thành viên. Khi Việt Nam không tuân thủ đúng và đủ các điều khoản quy định của Công ước quốc tế này thì các quốc gia khác với tư cách thành viên đương nhiên họ phải có quyền nhắc nhở và buộc Việt Nam phải thực hiện cho đúng và đầy đủ các điều khoản đã cam kết thì đó là chuyện quá đỗi bình thường.

Những điều kể trên phải chăng đồng chí Thượng tướng, Ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an không biết và không hiểu? Xong bản thân tôi không tin là như vậy!

Cũng xin được nhắc thêm đồng chí Thượng tướng cần xem lại bản Hiến pháp, nước CHXHCN Việt Nam trong Chương V từ điều 49 đến điều 82 đã ghi rõ quyền và nghĩa vụ của công dân. Xin trích ví dụ

” Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Điều 70: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”.

Hiến pháp là Luật pháp cao nhất của một quốc gia, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam cũng vậy. Để tránh dài dòng xin để đồng chí Thượng tướng tự nhận xét đánh giá rằng nhà nước ta dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN đã thực thi đúng và đủ những điều Hiến pháp quy định về quyền công dân (con người) hay chưa?

Chắc vì do quen thói thông tin một chiều, chỉ quen nói và không bao giờ có các thông tin phản biện ngược chiều nên có lẽ vì vậy mà đồng chí Thượng tướng hơi quá đà khi viết (trích) ” Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.”

Chắc có suy nghĩ như vậy bởi đồng chí Thượng tướng mỗi lần đi ra nước ngoài đều ngồi trong xe hơi bọc thép, nên đồng chí không hiểu được cuộc sống của người dân ở các nước tự do dân chủ kể cả nhóm các dân tộc thiểu số họ được nhà nước quan tâm tới mức nào? Xin đồng chí Thượng tướng đừng quên rằng với GDP bình quân đầu người ở Việt Nam mới xấp xỉ 1.000 USD/người xếp hạng 169/208 và sự chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam khoảng cách quá lớn thì làm sao mà có chuyện (trích) “Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy”. Câu này cho thấy đồng chí Thượng tướng thuộc dạng những người thích đùa không thì là lạc quan tếu.

Nói tóm lại khi đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với tư cách là một cán bộ lãnh cao cấp của đảng và nhà nước trong ngành Công an, đã làm cho tôi hơi bất ngờ trước bài viết của đồng chí. Toàn bộ bài viết trên của đồng chí Thượng tướng cho thấy 2 vấn đề cần suy nghĩ:

1. Trình độ nhận thức về lý luận chính trị đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, về độc lập và tự do của đồng chí Thượng tướng còn quá nhiều lỗ hổng về kiến thức.

2. Hoặc do đồng chí quá bận rộn, không có thời gian nên viết bừa viết ẩu theo đơn đặt hàng của Tạp chí Nhân quyền Việt Nam, theo yêu cầu bưng bít sự thật viết cho xong để lấy tiền nhuận bút.

Hy vọng một số trao đổi ngắn gọn của tôi góp ý cùng đồng chí sẽ giúp đồng chí hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà đảng và nhà nước trao cho trong giai đoạn cách mạng mới.

Chúc đồng chí khỏe, để đảm nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ trọng trách được giao.

Xin gửi tới đồng chí lời chào Cộng sản.

———————

Tống Văn Công: Nhân quyền và dân quyền đâu phải chỉ là giá trị của văn minh phương Tây talawas blog

Trong bài viết vừa đăng trên BVN nhân Tạp chí Nhân quyền Việt Nam ra mắt, cựu Tổng biên tập báo Lao Động Tống Văn Công đặt vấn đề: Đâu phải vô cớ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập nước ta bằng những câu về Nhân quyền, Dân quyền trích từ hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp: – “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. – “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Nhân quyền và dân quyền đâu phải chỉ là giá trị của văn minh phương Tây, đó là giá trị văn minh của toàn nhân loại! Chẳng lẽ những người công kích nhân quyền phương Tây không thấy rằng đó là sự xúc phạm Cụ Hồ? Ông Tống Văn Công, một đảng viên lão thành và một nhà báo kỳ cựu, được dư luận chú ý qua nhiều bài viết dưới bút danh Thiện Ý, trong đó nổi bật là bài góp ý với Đại hội Đảng XI: “Đổi mới Đảng để tránh nguy cơ sụp đổ!”.

DB Cao Quang Ánh: Việt Nam đang thụt lùi về nhân quyền VOA

Dân biểu Cao Quang Ánh bày tỏ “thất vọng sâu sắc” trước quyết định của chính quyền Obama thắt chặt quan hệ song phương với chính phủ cộng sản Việt Nam. Trong thông cáo báo chí đưa ra hôm thứ Sáu, vị dân cử gốc Việt đầu tiên và duy nhất tại Hạ Viện Mỹ gọi thành tích nhân quyền và tự do tôn giáo của Hà Nội là “đáng ghê tởm.” Theo ông, Việt Nam chưa xứng đáng có quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ cho tới khi nào chứng tỏ có tôn trọng tự do và nhân phẩm của chính nhân dân họ hơn. Ông dẫn chứng nhiều trường hợp vi phạm của chính phủ Việt Nam, bao gồm sách nhiễu, bắt bớ, bỏ tù không đúng những người hô hào dân chủ và những tu sĩ, những vụ tịch thu cơ sở tôn giáo, triệt hạ các hình tượng tôn giáo, và sử dụng những phương cách quen thuộc để tước đoạt tài sản của người dân mà không bồi thường thỏa đáng. Ông nói: “Các lạm dụng đáng xấu hổ này cần phải được lên án khắp nơi.” Ông cho rằng Việt Nam đã thụt lùi về mặt nhân quyền kể từ khi gia nhập WTO năm 2007; do đó, thay vì xây dựng quan hệ chặt chẽ hơn, Hoa Kỳ nên tiếp tục gây áp lực cho tới khi nào Việt Nam cải thiện thành tích nhân quyền.Ông còn đề nghị đưa Việt Nam trở lại vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm (CPC).
Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự (Tạp chí KHXH/Viet-Studies). Các anh ở “trên” là khó chịu với cái khái niệm “xã hội dân sự” lắm nghe.
————

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam

Văn phòng Nhân quyền

Phát hành tháng một kỳ

Số 1, 6/2010

HÃY HIỂU ĐÚNG VỀ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM!

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng,

Thứ trưởng Bộ Công an

Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ.

Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?

Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…

Họ áp đặt những “tiêu chí” về nhân quyền cho các quốc gia mà họ đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị. Họ muốn tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng “dân chủ” và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền hợp hiến. Nếu quốc gia nào không chịu nghe theo thì họ đưa vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt”; rồi gây khó dễ cho hoạt động kinh tế, thậm chí cấm vận từng phần…

Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây luôn đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để “mặc cả”. Họ luôn phê phán chúng ta “không có tự do tôn giáo”; “không có tự do báo chí”; “không có tự do lập hội”… Mỗi khi có công dân Việt Nam vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nếu là phóng viên báo chí thì họ cho là “đàn áp báo chí”. Nếu là người theo đạo, người tu hành, thì họ bảo là chúng ta “đàn áp tôn giáo”. Còn với những người cố tình xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, có những hành động, âm mưu xâm hại đến an ninh quốc gia bị xử lý… thì họ gọi đó là những người “bất đồng chính kiến”, “những nhà dân chủ”…?

Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?

Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” .

Trước Cách mạng Tháng 8, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì Việt Nam là nước thuộc đia nghèo khổ, bị cướp đi quyền độc lập và không có tên trên bản đồ thế giới. Nhân dân ta phải chịu cái nhục mất nước suốt gần một thế kỷ và trong thời gian đó, khái niệm nhân quyền không hề có với người Việt Nam. Nỗi khát khao độc lập, tự do, có được quyền làm Người khiến cả dân tộc vùng lên đấu tranh, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp để có được Bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Suốt hơn 30 năm sau đó, dân tộc ta một lần nữa đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hàng triệu người Việt Nam đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Tư tưởng về nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng về quyền con người.

Đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.

Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao. Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia. Người dân đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hiếm có một quốc gia nào mà mỗi khi xảy ra thiên tai bão lụt, người dân hăng hái đóng góp trên tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều… như ở Việt Nam. Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo. Đói nghèo bởi dân tộc Việt Nam từng là nạn nhân của chế độ phong kiến, thực dân đế quốc. Nhất là các dân tộc thiểu số miền núi hàng ngàn đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên và chế độ phong kiến thực dân đã đẩy họ đến bần cùng quay về hoang dã. Vậy mà hiện nay những tư tưởng đen tối vẫn tìm mọi cách tuyên truyền lôi kéo họ trở về đời sống đói nghèo vô định, cản trở công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh đầy khó khăn gian khổ… Mặc dầu vậy, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.

Cách mạng là làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dânViệt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam.

Không ít những người trước đây đã từng tham gia trong chính quyền Sài Gòn cũ nay trở về Việt Nam đã phải thốt lên rằng  họ không thể tưởng tượng nổi là Việt Nam lại phát triển đến như vậy.

Người dân đã bắt đầu quen với luật pháp, quen với nếp sống kỷ cương. Và ngày hôm nay người dân Việt Nam đang bắt đầu đi vào kỷ nguyên sống và làm việc theo luật pháp. Người dân được tự do sống theo các quy định của pháp luật và họ ý thức được rằng chỉ có những nguyên tắc của pháp luật mới bảo vệ được các giá trị đạo đức, quyền con người khi bị chà đạp. Lợi ích và quyền cá nhân của mỗi người phải được đặt trong quyền lợi chung của cộng đồng, của dân tộc chính vì thế người dân có thể tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội và các tổ chức chính trị đoàn thể. Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội. Đó chính là tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Đảng Cộng sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhìn sang các quốc gia bên cạch, nếu đa đảng để mà đất nước mất ổn định, lâm vào những cuộc chiến “nồi da xáo thịt”; để mà nạn khủng bố xảy ra thường xuyên thì chắc chắn người Việt Nam không thể chọn cái sự đa đảng ấy. Người dân Việt Nam chắc chắn cũng không thể chấp nhận một sự tự do mà công dân có quyền mang vũ khí rồi xả súng bắn chết học sinh, hoặc tự do chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau; phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống…

Họ không thể mang quan điểm nhân quyền của nước họ áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng vì thế không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.

Cũng vẫn còn có những tiếng nói, còn những người không thấy được thành tựu của dân tộc. Họ sao chép những quan điểm, những tư tưởng của nước ngoài đưa vào Việt Nam và rồi nói đó là “phản biện” . Họ không chỉ bày tỏ những quan điểm mà còn mưu đồ tổ chức gây bạo loạn, hoặc móc nối với các tổ chức phản động lưu vong âm mưu lật đổ chế độ. Đó là những người rắp tâm vì mục đích cá nhân của mình mà coi rẻ lợi ích chung của cả dân tộc.

Khi đời sống vật chất được nâng cao thì những đòi hỏi về đời sống tinh thần cũng phát triển theo, đặc biệt là tâm linh. Trong những năm qua, hàng ngàn chùa chiền, cơ sở thờ tự đã được xây cất mới hoặc được trùng tu; các lễ hội văn hóa truyền thống đã được khôi phục ở tất cả các địa phương… Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được phát triển và coi trọng. Người dân đã hoàn toàn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

Tôn giáo chân chính thiêng liêng là khuyến khích con người sống nhân ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng ta rất tôn trọng và tạo điều kiện cho tôn giáo phái triển nhưng cũng kiên quyết không để xảy ra những âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, để phá hoại mối đoàn kết toàn dân. Cho nên ai chưa hiểu về nhân quyền ở Việt Nam thì phải biết nhân quyền ở Việt Nam là: Cá nhân vừa phải có trách nhiệm với bản thân nhưng cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, phải gắn quyền con người với việc thực thi luật pháp thì quyền con người mới được đảm bảo.

Đảng và Nhà nước ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh và mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Chúng ta phấn đấu cho những mục tiêu nhân quyền, dân chủ mà đã được xác định, nhưng cũng không thể chấp nhận cái thứ “nhân quyền, dân chủ” theo kiểu phương Tây.

Mỗi công dân hãy biết quý trọng giá trị, bản sắc của dân tộc mình và hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.

Nhân quyền ở Việt Nam là như vậy!

Vietnam publishes human rights magazine (AP 15-7-10)

Việt Nam ra tạp chí về nhân quyền

Việt Nam nhiều lần bị chỉ trích vi phạm nhân quyền

Chính phủ Việt Nam ra mắt Tạp chí Nhân quyền Việt Nam nhằm “tuyên truyền về thành tựu đạt được và đấu tranh với các luận điệu thù địch”.

Thông tấn xã Việt Nam cho hay số đầu tiên của tạp chí này đã được Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ ra mắt hôm 14/07.

Theo báo chí trong nước, Tạp chí Nhân quyền Việt Nam được in khổ 21 x 29cm, dày 80 trang và được phát hành một tháng một kỳ, do PGS Tiến sĩ Bùi Quảng Bạ làm Tổng biên tập.

Tại lễ ra mắt, ông Phạm Gia Khiêm, Phó Thủ tướng và cũng là Trưởng ban Chỉ đạo về Nhân quyền của Chính phủ, nói “các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để vu cáo, xuyên tạc, can thiệp vào sự phát triển” của Việt Nam.

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam ra đời, theo lời Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm, là để “đấu tranh với các luận điệu, âm mưu thù địch đó.”

Đồng thời tạp chí này cũng sẽ là “một kênh thông tin chủ lực nhằm phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách” của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền.

Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần bị các nước phương Tây, nhất là Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, chỉ trích về các vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo.

Chỉ trích của phương Tây

Các phúc trình hàng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tự do tôn giáo thế giới đều nhận xét rằng tuy có một vài tiến bộ, Việt Nam cần cải thiện hơn nữa tình hình nhân quyền ở trong nước.

Hồi tháng Ba, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ chuyên trách Á châu Kurt Campbell nói Hà Nội cần cải thiện nhân quyền nếu muốn xích lại gần Mỹ.

Ông Campbell nói trong một phiên điều trần của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện ở Washington rằng muốn kiến thiết quan hệ thân chặt với Mỹ, “Việt Nam cần cải thiện hồ sơ nhân quyền của mình”.

Quan chức ngoại giao cao cấp nhất chuyên trách Á châu nói với các dân biểu: “Tôi có thể nói rằng ch́úng ta có một sự phân đôi (trong quan hệ) với Việt Nam”.

“Một mặt, đang có quan ngại thực sự về bước lùi trong các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo trong những năm gần đây.”

“Mặt khác, chính quyền Việt Nam hiện nay đang muốn một quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ vì lý do chiến lược.”

Ông Campbell phát biểu: “Sẽ rất khó có quan hệ như vậy nếu Việt Nam không có bước tiến rõ rệt để cải thiện tình hình trong nước”.

Các tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế thì nêu quan ngại rằng trong thời gian gần đây, việc bắt bớ, bỏ tù bất đồng chính kiến gia tăng ở Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam trong khi đó luôn nói rằng các chỉ trích của các tổ chức này là dựa trên thông tin “bịa đặt”, không đúng với thực tế, và tuyên bố Việt Nam luôn cải thiện nhân quyền và tự do tôn giáo.

Dân chủ và lạm dụng dân chủ , ngó Thái Lan mà rầu !
Tổ chức Giám sát Nhân quyền (HRW) tuyên bố rằng ba nhà hoạt động trẻ từng cổ vũ cho quyền lợi của người lao động và những nạn nhân bị tịch thu đất ở Việt Nam cần phải được trả tự do ngay lập tức. Họ đã bị giam giữ hầu như cách biệt kể từ khi bị bắt vào tháng Hai năm 2010.

Nguồn: HRW

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

20.05.2010

(New York) – Hôm nay, tổ chức Giám sát Nhân quyền (HRW) tuyên bố rằng ba nhà hoạt động trẻ từng cổ vũ cho quyền lợi của người lao động và những nạn nhân bị tịch thu đất ở Việt Nam cần phải được trả tự do ngay lập tức. Họ đã bị giam giữ hầu như cách biệt kể từ khi bị bắt vào tháng Hai năm 2010.

Đoàn Huy Chương, 25 tuổi, đã bị bắc ngày 11 tháng Hai tại Trà Vinh và bị áp giải đến Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 29 tuổi, bị bắt ngày 24 tháng Hai tại Đồng Nai, và Đỗ Thị Minh Hạnh, 25 tuổi, bị bắt ngày 23 tháng Hai tại Lâm Đồng. Công an đã nói với thân nhân của một trong ba người là họ bị bắt vì đã phát tán truyền đơn chống phá nhà nước. Nhưng không ai biết được họ đã bị tuyên án về tội danh gì.

“Đã ba tháng qua, thời gian cứ trôi qua vô tận,” Phil Robertson, phó giám đốc khu vực châu Á của HRW nói. “Với cách đối xử thô bạo với những tù nhân chính trị của nhà nước Việt Nam, chúng tôi lo lắng rằng nhà cầm quyền có thể dùng những biện pháp dã man, vô nhận đạo và hèn hạ – thậm chí cả việc tra tấn – để khai thác những lời tự thú từ ba nhà hoạt động trẻ này.”

Chương là một trong những người sáng lập Hiệp hội Đoàn kết Công nông và vào năm 2006 đã từng bị giam giữ 18 tháng về tội danh “lợi dụng quyền tự do dân chủ.” Cha của Chương, ông Đoàn Văn Điền, đã bị bắt với cùng tội danh vào năm 2006, ông vẫn còn bị giam tại trại tù B5 ở Đồng Nai. Hùng và Hạnh là những người ủng hộ tích cực trong phong trào kiến nghị mang tên Nạn nhân Bất công chuyên giúp những người lao động nghèo khổ cũng như những nông dân mất đất đòi nhà nước bồi thường.

Kể từ khi việc họ bị bắt giữ – đã không được báo chí nhà nước Việt Nam đưa tin – chính quyền đã cấm ba người tiếp xúc với các luật sư cũng như thân nhân của họ, ngoại trừ Đỗ Thị Minh Hạnh được phép gặp mẹ mình ngày 14 tháng Tư.

Nhân viên các trại giam Việt Nam thường xuyên ngược đãi và tra tấn những tù nhân chính trị trong quá trình điều tra để áp lực họ ký giấy thú tội đã được viết trước và để tiết lộ thông tin về những nhà hoạt động khác. Trong thời gian bị giam giữ trước khi ra toà, có thể kéo dài đến 20 tháng, những tù nhân chính trị thường xuyên bị cùm riêng trong phòng biệt giam tối tăm và chỉ được ra trong những lần xét hỏi và hành hạ.

Giam giữ người khác trong điều kiện biệt giam trong suốt ba tháng mà không cho phép tham vấn luật sư tức là đã tuỳ ý giam giữ họ lâu dài, điều này đã vi phạm những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế. HRW yêu cầu chính quyền Việt Nam lập tức cung cấp luật sư cho ba người này và giải thích rõ ràng tội danh của họ, hoặc phải trả tự do cho họ.

HRW – Việt Nam: Những tù nhân chính trị bị cách ly có nguy cơ bị tra tấn

——————–

VIỆT NAM – NHÂN QUYỀN: Human Rights Watch lo ngại cho tù nhân chính trị bị biệt giam tại Việt Nam

Trong một bản báo cáo công bố ngày 20/05/2010 tại NewYork, Tổ chức Nhân Quyền Human Rights Watch kêu gọi Việt Nam trả tự do « ngay lập tức » ba thanh niên hoạt động bảo vệ người lao động.  Họ bị bắt giam từ đầu năm đến nay. HRW lo ngại những người này bị biệt giam và tra tấn cho đến khi ký tên vào bản nhận tội được soạn sẵn.

Theo thông tin của Tổ chức bảo vệ nhân quyền trụ sở ở Mỹ, nhà hoạt động trẻ tuổi Đoàn Huy Chương, 25 tuổi, bị bắt ngày 11/02 ở Trà Vinh, sau đó bị áp giải về Thành phố Hồ Chí Minh. Người thứ hai là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 29 tuổi, bị bắt ngày 24/02 và người thứ ba là một phụ nữ trẻ tên Đỗ Thị Minh Hạnh, 25 tuổi, bị bắt ngày hôm trước tại Lâm Đồng.

Công an thông báo với gia đình của ba nhà hoạt động trẻ tuổi này là họ bị bắt về tội rải truyền đơn chống chính phủ. Nhưng từ đó đến nay đã gần ba tháng không biết số phận của ba tù nhân này ra sao. Cũng chưa rõ Nhà nước có truy tố họ hay không và quy buộc tội danh gì. Trừ trường hợp cô Minh Hạnh được phép gặp mẹ một lần vào ngày 14/05, chính quyền không cho phép luật sư và thân nhân tiếp xúc với ba người này.

Phó Giám Đốc đặc trách châu Á của Human Rights Watch, ông Phil Robertson tuyên bố rằng do chính quyền Việt Nam do có “thông lệ đối xử khắc nghiệt với tù nhân chính trị » nên ông lo ngại « chính quyền có thể sử dụng các biện pháp tàn nhẫn, phi nhân , tra tấn để buộc ba nhà hoạt động này nhận tội ». Cũng theo HRW, quá trình thẩm vấn có thể kéo dài đến 20 tháng. Trong thời gian này tù chính trị bị biệt giam trong xà lim tối, bị ngược đãi và ép cung.

Đoàn Huy Chương là một trong những thành viên sáng lập Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông, năm 2006 bị tù 18 tháng với tộ danh « lợi dụng tự do dân chủ ». Thân phụ của anh là ông Đoàn Văn Diên cũng bị bắt vào năm 2006, hiện bị giam tại Trại B5, tỉnh Đồng Nai. Còn Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh hoạt động ủng hộ phong trào Dân Oan giúp đỡ công nhân nghèo và nông dân bị trưng thu đất đai.

Human Rights Watch kêu gọi Hà Nội cung cấp luật sư cho ba nhà hoạt động nhân quyền đồng thời công bố tội danh hoặc phải trả tự do. Hãng tin Pháp AFP còn nhắc đến trường hợp của khoảng 20 nhà dân chủ khác không nằm trong danh sách của Human Rights Watch công bố hôm 20/05.

————

Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền: công an bắt giữ không lý do 3 nhà hoạt động trẻ tuổi

2010-05-22

Ngày 20 tháng 5 năm 2010, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền HRW đã lên tiếng về vụ công an bắt giữ ba nhà hoạt động trẻ tuổi từng vận động bảo vệ quyền lợi người lao động và các nạn nhân bị tịch thu oan đất đai ở Việt Nam.

Ba người này là: Đoàn Huy Chương, 25 tuổi, bị bắt ngày 11 tháng Hai ở tỉnh Trà Vinh và bị áp giải về Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 29 tuổi, bị bắt ngày 24 tháng Hai, và Đỗ Thị Minh Hạnh, 25 tuổi, bị bắt ngày 23 tháng Hai ở tỉnh Lâm Đồng. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền kêu gọi chính quyền Việt Nam cung cấp luật sư cho ba người nói trên ngay lập tức, đồng thời công bố tội danh truy tố, hoặc trả tự do cho họ.“Đã ba tháng rồi, và họ vẫn bặt vô âm tín”, ông Phil Robertson, Phó giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Thông lệ đối xử khắc nghiệt với tù nhân chính trị ở Việt Nam khiến chúng tôi quan ngại rằng chính quyền có thể sử dụng các biện pháp tàn nhẫn, phi nhân tính hoặc nhục mạ, thậm chí tra tấn – để buộc ba nhà hoạt động trẻ tuổi này phải nhận tội.”

Ngoài ra, Đoàn Huy Tâm, em của Đoàn Huy Chương và Đoàn Văn Diên, cha của Đoàn Huy Chương cũng đã bị bắt từ năm 2006 vì bị khép tội có liên quan đến những hoạt động của Đoàn Huy Chương.

Thông tín viên Tường An của đài ACTD có cuộc phỏng vấn qua điện thoại viễn liên với Cụ Lê Quang Liêm, cha nuôi của cô Đỗ Thị Minh Hạnh về vấn đề này.

Đã ba tháng rồi, và họ vẫn bặt vô âm tín.

PGĐ Philip Robertson

Sau khi nhận được thông cáo của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền HRW về việc công an bắt giữ không lý do 3 nhà hoạt động trẻ tuổi Đoàn Huy Chương (tức Nguyễn Tấn Hoành, 1 trong những sáng lập viên của Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông được thành lập vào ngày 30 tháng 10 năm 2006), Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, một sinh viên đã tốt nghiệp kỹ thuật công nghệ thông tin, Đỗ Thị Minh Hạnh, tốt nghiệp trường Cao Đẳng Kinh Tế. Cả ba đã bị bắt giữ vì tội danh “phá rối an ninh trật tự xã hội”…

Chúng tôi đã có cuộc tiếp xúc qua điện thoại với cụ Lê Quang Liêm về trường hợp những người này. Cụ Liêm năm nay 91 tuổi, là Hội trưởng Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo và là cha nuôi của cô Minh Hạnh.

Đỗ Thị Minh Hạnh

Tường An: Kính thưa cụ Lê Quang Liêm, trước hết xin gửi lời vấn an đến sức khỏe của cụ. Xin Cụ cho biết chi tiết về sự việc Đỗ Thị Minh Hạnh bị bắt như thế nào?

Cụ Lê Quang Liêm: Gần đây thì có 1 trường hợp liên hệ đến tôi, là 1 người dưỡng nữ của tôi là cô Đỗ Thị Minh Hạnh, 25 tuổi bị công an bắt vào ngày 23 tháng 2 năm 2010 lúc 9 giờ sáng khi cô này đi đến văn phòng của công an huyện Di Linh để xin làm chứng minh nhân dân.

Khi cổ đến thì công an đã hườm sẵn cả chục người rồi và nắm tay dẫn cổ lên lầu. Cô Hạnh rất kiên cường, cổ cự và hỏi: “Các anh làm như thế là nghĩa lý gì? Các anh muốn bắt tôi à? Tôi bị tội gì phải nói cho rõ”. Họ không nói gì, họ vẫn kéo đi. Cổ kháng cự không chịu đi thì công an đánh cổ mấy bạt tay, môi cổ bị bể và trong miệng cổ chảy máu ra, họ vẫn lôi cổ tuốt lên trên lầu.

Cổ kháng cự không chịu đi thì công an đánh cổ mấy bạt tay, môi cổ bị bể và trong miệng cổ chảy máu ra, họ vẫn lôi cổ tuốt lên trên lầu.

Cụ Lê Quang Liêm

Đến 5 giờ chiều cùng ngày thì công an mới dẫn cô Hạnh trở về nhà để đọc lịnh bắt cô Hạnh về tội “phá rối an ninh trật tự xã hội”và xét nhà cô Hạnh, nhưng cuối cùng không tìm được điều gì bất hợp pháp cả. Trong lúc đó mặt cô Hạnh bị sưng phù, không biết việc gì đã xảy ra trong 8 tiếng đồng hồ khi mà họ lôi cô Hạnh lên trên lầu cho đến khi dẫn cô Hạnh về nhà để đọc lệnh bắt. Chắc chắn là có lẽ bị tra tấn cho nên thấy cổ, tinh thần còn rất vững vàng nhưng bước đi, bước đứng thì không có vẻ bình thường. Sau khi đó thì cô Hạnh bị giam từ 23 tháng 2 năm 2010, tức là gần 3 tháng.

Dây tôi cũng nói thật với quý thính giả ở toàn quốc cũng như ở hải ngoại biết, VN mọi sự gì thì sự chay chọt là đứng đầu. Lúc đó gia đình cô Hạnh hết sức chạy chọt nên công an mới cho gia đình cô Hạnh đến thăm vào ngày 14 tháng 5 năm 2010. Chỉ 15 phút thôi, nhưng với điều kiện chỉ được trao đổi 1 câu duy nhất là hỏi sức khỏe với nhau mà thôi chớ không được nói gì ngoài hết. Có 1 vài tiếng nói ra ngoài thì bị công an chận liền không cho nói.

Trong thời gian thăm hỏi này, người nhà nhìn thấy cô Hạnh còn đầy đủ tinh thần kiên cường nhưng sự đi đứng thì tập tểnh, nó không bình thường chứng tỏ cô Hạnh có thể bị tra tấn hay bị ngược đãi.

Hoàng Quốc Hùng

Tường An: Cậu Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, người thanh niên trẻ đã cùng Minh Hạnh giúp cho dân oan và người lao động cũng đã bị bắt 1 ngày sau đó,xin cụ cho biết thêm về chuyện này.

Cụ Lê Quang Liêm: Theo tôi biết thì cô Hạnh có 1 người bạn trai tên Nguyễn Hoàng Quốc Hùng cũng bị bắt sau khi cô Hạnh bị bắt. Hạnh và Hùng là 2 sinh viên trẻ có bầu nhiệt huyết rất cao, có tấm lòng yêu dân, yêu nước, luôn giúp đỡ người cô thế, bị bức áp, bị bóc lột, bất chấp nguy hiểm. Và vì lý tưởng đó mà cô Hạnh không thể sống trong gia đình bởi gia đình cô Hạnh là người làm việc với nhà nước Cộng Sản nên cô Hạnh phải ly khai gia đình.

Tường An: Khi nãy cụ có cho biết cô Đỗ Thị Minh Hạnh là dưỡng nữ của cụ. Xin cụ cho biết cơ duyên nào đã đưa đẩy để cụ nhận cô Hạnh làm con nuôi.

Cụ Lê Quang Liêm: Tôi gặp cô Hạnh trong một  cuộc cứu trợ những đồng bào khiếu oan đòi đất trong những năm 2008 -2007. Nhận thấy một người trẻ mà có tấm lòng cao cả, biết thương người, vì người hơn vì mình biểu trưng một tâm từ bi của con nhà Phật. Bởi vì tôi là một người Phật tử nên tôi rất mến, rất quý và tôi chấp nhận nhận cháu là dưỡng nữ. Riêng Hùng là bạn trai của cô Hạnh, một thanh niên có bầu nhiệt huyết cao, thường đi với cô Hạnh đến nhà gặp tôi, và tôi cũng xem cháu như một người thân trong gia đình.

Bản báo cáo về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo trên toàn thế giới năm 2009 do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố trên website.

Tường An: Cụ nghĩ sao về hành động của hai người trẻ này và lời buộc tội của công an, thưa cụ.

Cụ Lê Quang Liêm: Theo tôi biết hành động của hai sinh viên trẻ này đáng khen, đáng quý vì các cháu thường liên hệ đến sự giúp đỡ của những đồng bào khiếu oan về nhà đất, giúp đỡ những công nhân, những phong trào tranh đấu của công nhân vì cuộc sống bị chèn áp, bóc lột ở đất nước VN. Cô Hạnh bị bắt theo lời cáo buộc của công an là “phá rối an ninh trật tự xã hội”.

Tôi xin nói thật tôi sống trên đất nước VN sau ngày 30/4/75 đến giờ suốt 35 năm, và tôi là Hội trưởng Trung ương Phật Giáo Hòa Hảo; mỗi khi nhắc tới lời buộc tội “phá rối an ninh trật tự xã hội” tôi cảm thấy hết sức bức xúc. Vì trên thực tế gần 40 cán bộ Phật Giáo Hòa Hảo bị kêu án tù từ 3 năm lên đến chung thân khổ sai cũng với tội danh “phá rối an ninh trật tự” trong lúc họ chỉ đòi hỏi tự do tôn giáo. Tội danh mà công lý cộng sản gọi là “phá rối an ninh trật tự” nó thòng như là một món bửu bối để dành trừng phạt, ngược đãi những người bất đồng chánh kiến, những người đòi hỏi tự do, những người đòi hỏi nhân quyền.

Đoàn Huy Chương

Tường An: Đoàn Huy Chương (tức Nguyễn Tấn Hoành, chủ tịch Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông) bị bắt năm 2006, theo bản tin đã cung cấp cho Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thì trong tù Đoàn Huy Chương bị đánh đập thường xuyên, bị biệt giam nên bị bệnh tật, sức khỏe rất yếu.

Sợ Đoàn Huy Chương chết trong tù nên đầu năm 2009 CS đã thả Chương về nhà. Sau một thời gian dưỡng bệnh Chương lại tiếp tục lên tiếng bênh vực công nhân và dân oan nên công an tìm mọi cách lùng bắt. Ngày 13.02.2010 Đoàn Huy Chương về nhà tại Trà Vinh thăm vợ con và ăn tết thì bị công an bắt và biệt giam từ đó đến nay.

Cha Đoàn Huy Chương là Đoàn Văn Diên cũng bị CS bắt và bỏ tù từ tháng 10.2006 đến nay. Em của Đoàn Huy Chương là Đoàn Huy Tâm cũng đang bị bắt giữ. Xin Cụ cho biết về những trường hợp này.

Ngày 13.02.2010 Đoàn Huy Chương về nhà tại Trà Vinh thăm vợ con và ăn tết thì bị công an bắt và biệt giam từ đó đến nay.

Cụ Lê Quang Liêm

Cụ Lê Quang Liêm: Theo tôi biết thì cũng có mấy người nữa bị bắt là Đoàn Huy Chương và Đoàn Huy Tâm. Những người này thì tôi chưa có dịp, tôi đang tìm cách liên hệ với gia đình họ. Bởi vì theo tin tức tôi được biết thì những gia đình đang bị bắt này rất sợ sệt công an vì công an luôn luôn bám sát, ngoài cái răn đe còn những biện pháp hết sức là khắc nghiệt khác. Chừng nào tôi được tin những người này thì tôi sẵn sàng giúp đỡ họ và tôi sẽ loan báo ra ngoài cho toàn thế giới tự do biết được tin tức này.

Tường An: Cám ơn cụ đã cho đài những thông tin chính xác và xin cụ một vài lời cuối nhắn nhủ với quý thính giả nghe đài.

Ông Lê Quang Liêm, Hội trưởng Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Thuần túy, đi giữa đội nón trắng, dẫn tín đồ PGHH diễu hành nhân ngày Lễ hội PGHH tại An Giang.

Cụ Lê Quang Liêm: Vì thời giờ phỏng vấn hôm nay có hạn, tôi không thể kéo dài cuộc nói chuyện này. Nhân danh một công dân VN, nhân danh Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo thuần túy tại VN, tôi cực lực phản đối việc công an VN bắt Hạnh, Hùng và những anh em khác như tôi vừa kể bởi các lẽ:

Thứ 1: Bắt Hạnh, Hùng trong trường hợp không có bằng chứng có tội.

Thứ 2: Công khai đánh Hạnh, đánh 1 cô gái tay yếu chân mềm trước mặt mọi người.

Thứ 3: Giam Hạnh, Hùng đã 3 tháng rồi, không xét xử, không công bố tội trạng, không cho luật sư can thiệp.

Thứ 4: Là thành viên của Liên Hiệp Quốc, nhà nước CH XHCN VN CS đã vi phạm nghiêm trọng điều 7 và điều 9 của công ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chánh trị mà CS VN đã ký gia nhập vào ngày 24 tháng 9 năm 1982.

Thứ 5: Chúng tôi đòi hỏi nhà cầm quyền CS VN phải chấp nhận công lý và lẽ sống nhân đạo của con người. Phải trả tự do cho Hạnh, Hùng vì họ không có chứng cớ có tội.

Thứ 6: Thành khẩn và tha thiết kêu gọi các tổ chức Nhân Quyền trên thế giới, Hội Ân xá Quốc Tế, tất cả nhân dân yêu chuộng tự do và công lý, Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao động VN tại Ba Lan, dùng uy tín của mình để can thiệp với nhà nước CS VN hãy trả tự do ngay cho Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương và Đoàn Huy Tâm.

Đó là những lời mà tôi xin nói và nhờ quý đài công bố cho tất cả thế giới tự do biết rằng ở tại đất nước VN hiện giờ đang có một phong trào những người trẻ tuổi vì dân vì nước đang trổi dậy và đang bị đàn áp hết sức là khốc liệt. Phong trào này còn hay không là do sự ủng hộ của những tổ chức tự do thế giới, nhất là hội Bảo vệ Người Lao động VN.

Đó là những lời thô thiển và tâm huyết của tôi.

Tường An: Một lần nữa cám ơn cụ và xin chúc cụ dồi dào sức khỏe.

——————

Việt Nam dự định bỏ tử hình bằng súng

Nhà văn Bùi Minh Quốc bàn về “Không có gì quý hơn độc lập tự do” talawas blog

Trong bài “Nghĩ thêm về lời kêu gọi ‘Không có gì quý hơn độc lập tự do’” đăng trên Bauxite Việt Nam, nhà văn Bùi Minh Quốc nhận xét,

“Tự do không chỉ là quyền của mỗi dân tộc trong mối quan hệ với dân tộc khác (lâu nay không ít bài trên báo đài thường có kiểu nói lướt nói tắt “Độc lập Tự do của Tổ quốc” làm cạn nghĩa một lẽ sống phổ quát); tự do trước hết và căn bản là quyền của mỗi con người.”

“Quyền suy nghĩ độc lập và tự do nói lên suy nghĩ độc lập cùng các quyền căn bản khác của người dân chỉ có thể trở thành hiện thực bình thường bằng một chế độ dân chủ.”

Tác giả kết luận,

“Chung quy lại, đã đến lúc sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh phải được thể hiện bằng hành động dứt khoát:

chuyển ngay việc NÓI DÂN CHỦ thành việc LÀM DÂN CHỦ.

Dân chủ trong Đảng và dân chủ trên toàn xã hội.

Muốn thế, đảng viên phải làm chủ Đảng và công dân phải làm chủ các hội đoàn mà mình tham gia.

Từng đảng viên, từng công dân phải chủ động nắm lấy và thực hành quyền làm chủ của mình một cách kiên quyết và kiên trì, từng ngày một, từng việc một, từ việc dễ đến việc khó, tiến tới làm chủ thường xuyên, trong mọi việc, từ việc nơi tổ đảng, tổ nông hội, tổ công đoàn dến những việc ở tầm chiến lược quốc gia.

Làm chủ phải là lẽ sống, là nếp sống, là niềm vui sống hàng ngày của mỗi con người, của mọi người. ”

————————–

Một góc nhìn về đợt bất ổn ở Thái Lan BBC

Nền dân chủ Thái Lan chưa tạo được thay đổi cho cuộc sống người nghèo.
Bangkok ngày 19/05/2010

Bangkok yên tĩnh trong đêm giới nghiêm. Dường như tình hình đã dần bình ổn trở lại, nhưng là một nền hòa bình rất đỗi mỏng manh.

Không có ai hiểu biết ít nhiều về Thái Lan mà lại thở phào nhẹ nhõm nghĩ rằng mọi chuyện đã qua. Ngược lại, đang có nhiều quan ngại, rằng cuộc bất ổn hiện thời sẽ trở thành một cuộc chiến tranh du kích âm ỉ và lan ra các tỉnh.

Những gì xảy ra suốt từ đầu năm tới nay đang cho thấy dấu hiệu của một cuộc đấu tranh có tính giai cấp, khi mà nền dân chủ không thành công trong mang lại thay đổi tích cực cho những người nghèo.

Tháng Năm đen

Lại một tháng Năm đen tối trong lịch sử Thái Lan. Cũng dịp này đúng 18 năm trước, hàng trăm nghìn người đổ xuống đường biểu tình chống lại lãnh đạo quân phiệt,Tướng Suchinda Kraprayoon, dẫn đến đợt đàn áp đẫm máu làm hàng trăm người chết.

Chỉ sau khi Quốc vương Thái Lan can thiệp, Tướng Suchinda từ chức, con đường trở lại quyền lực dân sự mới được mở lại.

Tháng 9/1992, khi Thủ tướng Chuan Leekpai lên nắm chính quyền, nước Thái hào hứng với hai chữ “dân chủ”. Phong trào dân chủ thành thị, dẫn đầu là tầng lớp trung lưu có học đã mang lại một sự lạc quan chính trị mới cho xã hội Thái Lan, ngay cả khi đất nước này lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính dữ dội năm 1997.

Năm 1994, tôi mới vào nghề. Lúc đó ở Hà Nội đã có văn phòng đại diện của một số cơ quan báo chí Thái Lan như Bangkok Post và The Nation.

Sự tự tin, năng nổ của các nhà báo Thái Lan lúc đó đã gây cho tôi ấn tượng mạnh. Tiếp xúc với các phóng viên, chính trị gia, nhà hoạt động xã hội Thái những năm 90, người ta dễ cảm thấy không khí dân chủ ở xứ sở được mệnh danh Vương quốc của Nụ cười.

Hiến pháp mới bảo đảm các quyền dân sự, luật thông tin mới bảo đảm một nền báo chí tự do… các cải cách dân chủ ở Thái Lan lúc đó được coi như hình mẫu cho cả khu vực.

Thế nhưng hưởng lợi nhiều nhất trong quá trình dân chủ hóa đó là tầng lớp những người có tiền ở thị thành, chứ không phải số đông hàng triệu người nghèo ở các vùng nông thôn.

Sự nổi lên của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra như một điều tất yếu.

Ông Thaksin, một cựu sỹ quan cảnh sát từng du học ở Mỹ và một tỷ phú, đã nắm trúng mong đợi của đông đảo quần chúng nhân dân, những người bị đoàn tàu dân chủ bỏ quên trên sân ga.

Các chính sách hướng tới người nghèo ở nông thôn của Thaksin đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Tôi đã từng chứng kiến nông dân mấy tỉnh vùng đông bắc Thái Lan, gọi chung là Isaan, đón tiếp ông Thaksin trọng thị như đón anh hùng dân tộc.

Thế nhưng các bê bối tài chính và cáo buộc tham nhũng đã dẫn đến việc ông Thaksin bị truất chức, thông qua hình thức không hề dân chủ là đảo chính quân sự, hồi tháng 9/2006.

Ý tưởng của người giàu?

Cuộc khủng hoảng chính trị-xã hội hiện thời cho thấy sự mâu thuẫn trong nền dân chủ Thái Lan.

Chính những người biểu tình áo vàng đòi giải tán chính quyền thân Thaksin, dẫn tới việc ông Abhisit Vejajjiva lên làm Thủ tướng, đã phần nào chứng tỏ điều người ta ngờ vực bấy lâu nay, rằng dân chủ ở Thái Lan chỉ là một dự án của giới người giàu.

Những người cực đoan có thể sẽ đi vào hoạt động bí mật. Họ có thể tản ra các tỉnh, dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh địa phương.

Bình luận gia Thitinan Pongsudhirak

Các cuộc bầu cử và cải cách không làm sự bất bình đẳng trong xã hội giảm đi, mà ngược lại, Thái Lan nay đã tụt sau cả Indonesia và Malaysia về khoảng cách giàu nghèo.

20% dân số có thu nhập chiếm tới 55% thu nhập của toàn dân, trong khi số người nghèo, vốn cũng vào khoảng 1/5 dân số, chỉ có thu nhập chừng 4%.

Những người biểu tình áo đỏ, vốn đòi chính quyền Abhisit từ chức và bầu cử mới, đa phần là người nghèo ở các vùng nông thôn xa xôi. Đối với họ, dân chủ chưa bao giờ là giải phóng hoàn toàn khỏi đói nghèo cũng như chưa bao giờ là bình đẳng về cơ hội.

Câu hỏi đặt ra, là điều gì đang chờ đón đất nước Thái Lan?

Để giải quyết tận gốc rễ của vấn đề, Thái Lan cần một thể chế chính trị trong đó tiếng nói của người dân được lắng nghe và quyền lực trong tay kẻ cầm quyền không bị lạm dụng.

Thế nhưng trước mắt, các nhà quan sát cảnh báo bất ổn và bạo lực sẽ vẫn còn tiếp diễn.

Bình luận gia người Thái Thitinan Pongsudhirak được hãng thông tấn Reuters dẫn lời nói không có gì thay đổi trong sự ủng hộ dành cho giới biểu tình áo đỏ ở trong dân.

“Điều này cho thấy các vấn đề tiềm ẩn vẫn còn và chưa được chính quyền giải quyết.”

“Những người cực đoan có thể sẽ đi vào hoạt động bí mật. Họ có thể tản ra các tỉnh, dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh địa phương.”

Và như vậy, tình trạng bất ổn sẽ còn kéo dài.

Du lịch Thái Lan mất 3,71 tỷ USD vì biểu tình – VnEconomy

Thái tạm rút lại lệnh bắt giữ cựu Thủ tướng Thaksin – VNN

Thái Lan: What the Heck Is Going on in Thailand? (FP 19-5-10)

HÔN QUÂN VÀ MINH QUÂN: CHÍNH TRỊ THÁI LAN BS Hồ Hải

Hoa Quỳnh biểu trưng cho hôn quân trong sự tích của nó.

Thấy báo chí và các bloggers bàn tán rất hùng hồn về biến động chính trị Thái Lan, tớ cũng nhào vô “hôi của” một chút để cùng làm rõ sự tình. Người thì bảo nó đã vượt tầm kiểm soát. Kẻ thì cho rằng đó là các thế lực ngầm “xanh vỏ, đỏ lòng(quân đội) hay đỏ vỏ, đỏ lòng(cảnh sát) đang là nhóm thiểu số nằm trong quốc hội giật dây đám dân đen thất nghiệp đi biểu tình để kiếm tiền bo. Còn có cả chuyện bình loạn rằng Thái Lan tình hình ngày càng khó đóan. Ôi thôi đủ các lý do, viện dẫn và phân tích loạn cào cào, nhưng tất cả đều ngồi ở nhà đọc báo và dịch theo các báo lá cải đưa tin để bán được báo. Tôi cũng ở nhà ngồi nhìn thế sự hơn nữa thế kỷ qua với cái nhìn lịch sử để cũng bình loạn xem sao?

Ngược dòng thời gian cách đây gần 65 năm, nếu ngày ấy Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không tiến hành cướp chính quyền vào ngày 02/9/1945 thì liệu cái đám Asean có được trả độc lập hay không? Tôi cho là không! Vì Việt Nam giành lấy chính quyền, mà Việt Nam lại dương cao ngọn cờ của người cùng khổ đại diện cho các dân tộc bị áp bức và nô lệ trên toàn thế giới. Nên các đế quốc thấy được thảm cảnh sụp đổ của một nước Pháp sau thất bại chiến tranh thế giới thứ hai – mất tất cả – và việc các nước thuộc địa được trao trả bằng con đường không tiếng súng là điều lịch sử bắt buộc phải có. Tấm gương người Pháp tuột hậu về mọi mặt đã cho một bài học cho những nước như Anh, quốc gia đã từng tuyên bố: “mặt trời không bao giờ tắt trên lãnh thổ Anh” cũng phải ngậm đắng nuốt cay trao trả các thuộc địa từ Âu sang Á, Phi, Mỹ để cứu vãn danh dự và vị thế của mình.
Người Thái, người Singapore cũng không nằm trong chuỗi của những sự hưởng “sái” cuộc đấu tranh đổ máu của người Việt lúc ấy. Đây là điều không thể chối cãi. Thế nhưng vì giá trị lịch sử, vì địa chính trị và vì chưa nhìn thấy hết những nhược điểm chết người của con đường thống nhất bằng bom đạn. Chúng ta đã lún sâu vào cuộc chiến suốt 30 năm sau. Để rồi người Việt luôn đi trước về sau so với các dân tộc khác trong vùng. Bao nhiêu nhục nhằn, bao nhiêu khổ đau đã làm dân tộc ta nếm trải không nên có. Để rồi một ngày ông vua Thái vênh mặt tự hào rằng “Dân tôi không cần đổ máu, nhưng vẫn độc lập tự do” và ông Lý Quang Diệu còn dạy cho ta một bài học “Chuyện buôn lậu vũ khí làm giàu của Singapore trong cuộc chiến Việt Nam là điều hữu lý. Không lý do gì Việt Nam đi kể công với Sing!”
Thế đấy, làm chính trị là phải biết lợi dụng chuyện “đục nước béo cò” hay “lừa nước đục thả câu” nhưng béo cò và thả câu bắt cá là để cho dân cho nước chứ không để cho bất kỳ cá nhân chính trị gia nào.
Thế nhưng, nếu ai đã từng sang Thái nhiều lần và nghiên cứu kỹ dân Thái để cảm nhận hết văn hóa Thái sẽ thấy một điều cay đắng cho nước Thái khi có một vị vua tham quyền cố vị đã đưa dân tộc Thái hiền hòa, hiền đến mức tôi không thể dùng từ nào để diễn tả cái hiền, cái khù khờ của người dân Thái gốc? Đúng là họ hiền như đất, thật như ánh mặt trời. Hầu như người dân Thái gốc họ chỉ biết làm nông và sống bình an. Ít thấy người dân Thái gốc nào có đầy đủ học thức hay làm giàu trên tổ quốc của chính họ. Hầu hết người giàu và nắm chính trường Thái vài thập kỷ qua là người Hoa di cư sống trên đất Thái.

Một minh quân, yêu nước thương nòi, khi rời chức vị luôn là người bần hàn, dù người đó có xuất thân là dòng dõi quí tộc và là người đã viết nên bản tuyên ngôn độc lập cho nước Mỹ – ngài Thomas Jefferson – Ông đã phải bán cả điền trang quí tộc của mình cũng không đủ để trả nợ. Cuối cùng ông phải bán luôn số sách trong thư viện của mình nhưng cũng không thể giải quyết hết nợ nần khi ông mất. Dù vậy, ông vẫn cố công xây dựng các trường đại học Virginia trong lúc nợ nần đến ngày chết cũng chưa trả hết. Để rồi trên bia mộ ông người ta phải khắc dòng chữ: “HERE WAS BURIED THOMAS JEFFERSON AUTHOR OF THE DECLARATION OF AMERICAN INDEPENDENCE OF THE STATUTE OF VIRGINIA FOR RELIGIOUS FREEDOM AND FATHER OF THE UNIVERSITY OF VIRGINIA”. Một kẻ hôn quân chăn dắt bầy tôi, không vì nước vì dân khi còn trên ngai hay khi rời ngôi vị luôn là kẻ giàu nứt đố đổ vách như vị tổng thống Ferdinand Marcos của Phillipines.

Ông vua Thái và gia đình ông đã có công làm u mê người dân Thái suốt hơn nữa thế kỹ qua có lẽ vì để giữ vững chiếc ghế mình? Ông và gia vương của ông đã được xem là giàu nhất thế giới năm 2008 theo Forbes. Chỉ cái nghĩa địa và đám tang em gái ông thôi cũng đủ để người dân nghèo Thái chi tiêu cả năm không hết. Phải chăng ông vua Thái đã giật mình khi nhìn lại lâu nay ông chỉ lo vun vén cá nhân, vì ông thấy một tương lai đen tối khi người dân Thái không đủ khả năng nắm chính trường nước Thái? Trong vài thập kỷ qua các đời thủ tướng Thái gốc Trung Hoa thay nhau nắm vận mệnh nước Thái. Và ông đã làm gì trong các cuộc động loạn của nước Thái từ 15 đời thủ tướng Thái gần đây, khi ông giật mình, mình đã gần đất xa trời?

Câu hỏi còn bỏ ngõ, liệu hình ảnh Singapore được xem là thảm cảnh bị đồng hóa có thể là trong tương lai gần của người Thái? Hãy suy nghĩ và trả lời các bạn nhé.

Asia Clinic, 16h45′ ngày 21/5/2010

Chủ tịch Cuba Raul Castro gặp các nhà lãnh đạo Thiên Chúa Giáo – VOA – Nhà cầm quyền Cuba nói là không có tù nhân chính trị mà chỉ có những “lính đánh thuê” bị cáo buộc là tay sai cho Mỹ nhằm phá hoại chủ nghĩa Cộng sản Cuba.

2 phản hồi

  1. – ” Có biện pháp chủ động tấn công về nhân quyền, như: công bố thành tựu nhân quyền hàng năm của Việt Nam, phê phán các hoạt động vi phạm nhân quyền ở chính các nước phương Tây. Đối với các “vấn đề” nổi cộm mà bên ngoài quan tâm, cần tập trung giải quyết, không để tình hình phức tạp thêm.”
    Trên dây tôi trích nguyên văn bài đăng trên” có biện pháp tấn công nhân quyền ,,,” như vây tạp cí này đã công khai tấn công nhân quyền :còn có gì phải bàn nữa : bụng một bồ giao găm thì làm sao lam mô được ? vì chính chúng tôi đang bị xâm phạp nhân quyền một cách công khai và tàn bạo ?

  2. Về vấn đề tại việt nam ngày 15/07/2010 đã ra đời tạp chí nhân quyền ,như vậy đã có cơ sở gúp công dân việt nam và bà con việt kiều có nơi nói nên ý kiến, quan điểm của mình về nhân quyền tại Việt nam hiện nay .theo quan điểm của tôi là người công dân đang ở tại việt nam thì định nghĩa về nhân quyền tại việt nam còn chưa được rõ nét ,nhân thức của mỗi người dân về nhân quyền còn mới và chưa được khớp nhau.Do vậy cần có một diễn đàn tranh luận bình đẳng ,phản biện để nêu lên được những quam điểm ,những định nghĩa đúng đắn của Nhân quyền việt nam nói riêng , theo thời đại trên toàn thế giới nói chung.
    Riêng quan điểm của tôi về nhân quyền tại việt nam phần chính là quyền người công dân Việt nam được Hiến pháp và pháp luật của nhà nước CHXHCN việt nam bảo vệ ,ngoài ra còn có đường lối (những qui định và luật mới … )của Đảng CS VN và nhà nước XHCN bảo vệ nhân quyền cho công dân việt nam….tuy nhiên còn có ít nhiều yếu tố khác nước ngoài và chưa được đầy đủ theo thời đại ( ở nước nào thì theo nước đó nhưng Nhân quyền luôn phải cần cải thiện vì đây là NHU CẦU thiết yếu nhất của loài người vì “không có gì quí hơn độc lập tự do “ lời HO CHI MINH “ )
    – Nếu quan điểm trên được nhiều người ủng hộ thì ta cần bàn đến vấn đề phải hiểu thấu đáo :ai là người xâm phạm nhân quyền của công dân việt nam, thế lực nào xâm phạm Nhân quyền của nhân dân việt nam ( đại diện cho nhân dân VN là đảng CSVN, nhà nước XHCN VN ) ,thế lực nào xâm phạm Nhân quyền cộng đồng người việt nam (trong đó có cả việt kiều)…..
    Tạp chí nhân quyền Việt nam ra đời có nêu :”giúp cho đồng bào ta ở trong nước cũng như ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ việc đảm bảo quyền con người là bản chất của chế độ ta; đồng thời góp phần phê phán những nhận thức lệch lạc và đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch. “ “Tạp chí là diễn đàn nghiên cứu, trao đổi, phổ biến kinh nghiệm về các vấn đề về quyền con người; nghiên cứu âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta; đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái thù địch. Tạp chí thông tin về tình hình nhân quyền thế giới; quan điểm của các nước về quyền con người; hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, khu vực”.
    Nhưng trước mắt muốn ĐÁU TRANH ,chống lai ,phản bác …các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dưng và phát triển đất nước ta …… thì phải xác định thế lực thù như thế nào …nếu không xác định được đúng thì khác gì gió thổi nhà chống ,đúng sai lẫn lộn không biết chính xác THẾ NÀO là THẾ LỰC THÙ DỊCH .
    Quan điểm của tôi : Thế lực thù địch được hiểu như sau :
    – Những người cố tình thực hiện TRÁI Hiến pháp ,pháp luật của nhà nước CHXHCN VIỆT NAM ( trừ trường hợp vô ý ,vô tình do khách quan đưa lại ) nếu nhiều người mà cố tình thực hiện trái Hiến pháp và pháp luật này mà kết hợp thành hệ thồng được coi là cố tình chống đối lại HiẾN pháp và pháp luật nước ta được gọi là : thế lực thù dịch của nhà nước CHXHCN Việt nam .
    – Những người cố tình thực hiện TRÁI những qui định và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt nam ( trừ trường hợp vô ý ,vô tình do khách quan đưa lại ) nếu nhiều người cố tình thực hiện trái quy định và Điều lệ của ĐCSVN này mà kết hợp thành hệ thồng được coi là cố tình chống đối lại Đảng cộng sản Việt nam được gọi là : thế lực thù dịch của Đảng cộng sản việt nam và nhà nước CHXHCN Việt nam .
    – Những người cố tình thực hiện TRÁI đường lối của Đảng Cộng sản Việt nam và nhà nước XHCN VN VÀ NGUYỆN VỌNG CHÍNH ĐÁNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ( trừ trường hợp vô ý ,vô tình do khách quan đưa lại ) nếu nhiều người cố tình thực hiện trái đường nối của ĐCSVN và nhà nước XHXHCNVN và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt nam này mà kết hợp thành hệ thồng được coi là cố tình chống đối lại Đảng cộng sản Việt nam ,chống lại nhà nươc va nhân dân ta được gọi là : thế lực thù dịch của Đảng cộng sản việt nam và nhà nước CHXHCN Việt nam và nhân dân việt nam .
    – Những người cố ý xâm phạp quyền con người,quyền công dân theo hiến pháp và pháp luật việt nam qui định và bao che cho nhau thành hệ thống dàn áp ,chém ,giết nhân dân VIỆT NAM TRÁI PHÁP LUẬT được hiểu là xâm phạm nhân quyền con người tại VIỆT NAM ,cụ thể là xâm phạp quyền công dân Việt nam theo Hiếu pháp và pháp luật quy định có hệ thống có thể gọi là thế lực thù địch của nhân dân việt nam . ( thế lực thù đich không kể là người hoặc tổ chức nước ngoài hay trong nước) ( trừ trường hợp vô ý ,vô tình do khách quan đưa lại )
    – Nhưng người cố ý tham nhũng lãng phí tài sản của nhà nước và của nhân dân phá hại công cuôc xây dựng đất nước và phát triển đất nước ,cố tình chiếm đoạt tài sản của công dân xâm hại khủng bố tinh thần của công dân có hệ thống được gọi được gọi là thế lực thù địch của nhà nước và nhân dân Việt nam ……….
    Cách đây hơn nửa thế kỉ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trên báo Nhân dân số ra ngày 31/7/1952, người nêu rõ “ Tham nhũng là kẻ thù bên trong” của đất nước, “Tham ô lãng phí và bệnh quan liêu dù cố ý hay không cũng là bọn đồng minh của thực dân phong kiến”, “Những kẻ quan liêu lãng phí thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của chính phủ, của nhân dân, tội ấy nặng như tội Việt gian, mật thám. Trộm cắp tiền bạc của nhân dân, tổn hại kinh tế của chính phủ cũng là mật thám phản Quốc “

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: