Nhận thức về Chủ nghĩa Tư bản hiện đại


Nhận thức về Chủ nghĩa Tư bản hiện đại VOV

Muốn biết thế giới này sẽ đi tới đâu thì một trong những điều cần biết phải là có nhận thức đúng về Chủ nghĩa Tư bản hiện tại. Để thực hiện công việc khó khăn, phức tạp đó, chúng ta có thể nhìn nhận trên mấy khía cạnh

Nghe âm thanh tại đây

Thứ nhất, cần xem xét Chủ nghĩa Tư bản trong bối cảnh thời đại chúng ta

C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một dự báo có sức thuyết phục cao về tính chất không vĩnh hằng của Chủ nghĩa Tư bản ngay khi nó đang còn non trẻ và tràn đầy nhựa sống. V.I. Lê nin cũng đã có những phát kiến mới vào thời điểm chế độ tư bản bộc lộ đường nét đầu tiên của sự rạn nứt và dấu hiệu cằn cỗi. Lê nin tiên đoán khả năng xuất hiện “cơn đau đẻ” cho một xã hội mới, Người đưa ra kết luận quan trọng: Chủ nghĩa Tư bản dường như đã phát triển tới tột cùng, còn ánh rạng đông của Chủ nghĩa Xã hội thì bắt đầu loé sáng. Sự dự báo đó đã đúng. Thế giới đã đổi khác.

Nhưng Chủ nghĩa Tư bản ở những năm đầu của thế kỷ XXI đã nổi lên những hiện tượng mới, không như cách nhìn cũ của chúng ta. Chủ nghĩa Tư bản tỏ ra vẫn còn sức sống nhất định. Mâu thuẫn nội tại của Chủ nghĩa Tư bản hiện không quyết liệt đến mức dẫn tới tình thế cách mạng.

Trước tình hình ấy, một số người đã sai lầm gắn nó với tính chất tiên nghiệm của quan điểm Mác xít – Lêninnít. Họ cho rằng, sự dự báo về buổi hoàng hôn của Chủ nghĩa Tư bản là quá sớm, những giải thích về sự tiêu vong của nó là sai lầm. Cũng có người lại coi những biến động của Chủ nghĩa Xã hội, cũng như những thay đổi của Chủ nghĩa Tư bản hiện nay là ngẫu hứng của lịch sử.

Thực ra, nếu tính đến những kinh nghiệm lịch sử và những thực tế đang diễn ra của thời đại, thì mọi biểu hiện của Chủ nghĩa Tư bản hiện đại đều có thể cắt nghĩa. Chủ nghĩa Tư bản vẫn còn tồn tại. Điều này không có gì khó hiểu. Dù chúng ta lấy điểm xuất phát của nó là giai đoạn công trường thủ công vào nửa cuối thế kỷ XVI, thì chế độ tư bản đến nay cũng mới tồn tại khoảng trên 450 năm, như vậy chưa phải đã lâu nếu so sánh với thời gian tồn tại của chế độ phong kiến, và trước đó là của chế độ chiếm hữu nô lệ. Bởi vậy, thái độ nôn nóng, mong đợi sự diệt vong chóng vánh của chế độ tư bản là thiếu căn cứ lịch sử.

Một điều nữa chúng ta cũng cần lưu ý: Chúng ta quả thật chưa đánh giá hết khả năng co giãn của cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa, cũng như tính linh hoạt của những người kinh doanh tư bản biết di động, tiến thoái, đồng thời vẫn còn giữ được vị trí của họ. Chủ nghĩa Tư bản hiện đại đã đi rất xa trong quá trình toàn cầu hoá sản xuất xã hội và nhất thể hoá kinh tế. Sự điều tiết của tư bản tư nhân đối với các quá trình kinh tế quyện chặt với sự điều tiết của nhà nước tư sản thông qua công cụ luật pháp – hành chính – kinh tế – xã hội hết sức đa dạng. Một cơ chế siêu quốc gia đặc biệt, có chức năng điều tiết mâu thuẫn chính trị và kinh tế của Chủ nghĩa Tư bản, đã được thiết lập. Mặc dù cơ chế này chưa hoàn chỉnh, nhưng nó cũng đã góp phần giải quyết một số trục trặc của Chủ nghĩa Tư bản.

Vì vậy, khi đánh giá Chủ nghĩa Tư bản hiện đại, cần cân nhắc cả hai mặt. Một mặt, đúng là những khuyết tật của nó, những mâu thuẫn của nó, những cặn bã của nó, vẫn chưa mất đi. Nhưng mặt khác, năng lực phát triển và tự cải tạo của nó, khả năng thích ứng của nó với điều kiện mới, rõ ràng không nhỏ.

Thứ hai, về việc điều chỉnh của Chủ nghĩa Tư bản

Nói đến điều chỉnh của Chủ nghĩa Tư bản, trước tiên cần nhất trí việc điều chỉnh hình thức và phạm vi thống trị của nó. Không nên khẳng định rằng hiện nay, phạm vi thống trị của Chủ nghĩa Tư bản bị thu hẹp. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, do sự thay đổi điều kiện chính trị và kinh tế quốc tế, đặc biệt do nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc giành được độc lập chính trị, hệ thống thuộc địa cũ đã bị sụp đổ.

Nhưng các nước đế quốc đã thực hiện chính sách thực dân mới, bề ngoài công nhận độc lập chính trị của các nước vốn là thuộc địa, nhưng trên thực tế, đã dùng mọi thủ đoạn để kiểm soát gián tiếp các nước này về kinh tế và chính trị. Xuất khẩu hàng hoá, xuất khẩu tư bản, cho vay, việc trợ…. là những thủ đoạn quan trọng để các nước đế quốc mở rộng sự thâm nhập vào các nước đang phát triển. Phạm vi khống chế của Chủ nghĩa Tư bản, về thực chất, chưa giảm mà có phần tăng lên, nhất là sau những biến động ở Liên Xô trước đây và ở Đông Âu. Tất nhiên, sự khống chế và thống trị của Chủ nghĩa Tư bản hiện nay khác trước nhiều.

Yếu tố nữa cần nhận rõ là việc điều chỉnh để kéo dài sự tồn tại của Chủ nghĩa Tư bản, mà trọng tâm là điều tiết kinh tế, là sự can thiệp của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế – xã hội để tạo điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự thích nghi của những quan hệ sản xuất. Việc điều chỉnh ở đây xuất phát từ bản thân chế độ tư bản là chính. Chủ nghĩa Tư bản phải cố gắng tự giải quyết một phần mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cùng những di chứng của nó trong lòng xã hội tư sản.

Tất nhiên, cũng cần phải hiểu mặt khác là, Chủ nghĩa Tư bản phải tự điều chỉnh còn do nguyên nhân bên ngoài, do điều kiện quốc tế đã thay đổi; sự xuất hiện và phát triển không ngừng của Chủ nghĩa Xã hội, sự sụp đổ nhanh chóng của hệ thống thuộc địa đã làm cho Chủ nghĩa Tư bản không thể tồn tại tự nó nữa mà phải vì nó, muốn tồn tại được, buộc nó phải khác đi.

Nguồn gốc và hình thức của việc điều chỉnh của Chủ nghĩa Tư bản còn liên quan chặt chẽ với những nét đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay. Giai cấp tư sản và chính phủ của nó phải cố gắng giải quyết một vấn đề kinh tế trọng tâm do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đặt ra; nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả sản xuất; tổ chức lại khu vực nhà nước rộng lớn để mở rộng môi trường cạnh tranh; giảm bớt mọi chi phí xã hội, kể cả những chi phí thiết yếu; kích thích các nguyên tắc tư bản chủ nghĩa hoạt động có hiệu lực.

Sự thay đổi cách thức điều chỉnh ở các nước tư bản chủ nghĩa phản ánh xu hướng thích nghi của Chủ nghĩa Tư bản thế giới trước tình hình mới. Trong mọi trường hợp, việc giải quyết những vấn đề gay cấn của Chủ nghĩa Tư bản đều được trả lời bằng chi phí lấy từ túi dân nghèo trong nước hoặc từ các nước chậm phát triển. Đó cũng là quy luật của Chủ nghĩa Tư bản.

Thứ ba, về mâu thuẫn cơ bản của Chủ nghĩa Tư bản

Một trong những cống hiến quan trọng của C.Mác là vạch rõ mâu thuẫn cơ bản của Chủ nghĩa Tư bản; mâu thuẫn giữa hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với sự xã hội hoá cao của sức sản xuất. Đúng là kinh tế tư bản chủ nghĩa có những mâu thuẫn gay gắt và xã hội có nhiều đối kháng nghiêm trọng. Nhưng tới nay, chưa thể khẳng định rằng những mâu thuẫn gay gắt đó là thường xuyên liên tục và ngày càng có xu hướng tăng lên. Về cả hai mặt của mâu thuẫn cơ bản nói trên cũng đã có những biến đổi nhất định.

Thay đổi hình thức sở hữu: Sự phát triển của cơ chế chiếm hữu tư nhân từ thời tự do cạnh tranh đã dần được thay thế bằng cơ chế kinh tế có mang những yếu tố kế hoạch đáng kể. Chủ nghĩa Tư bản hiện đại phải được nhìn nhận như một thực tế, trong đó sự phát triển của lực lượng sản xuất được thực hiện, các hình thức truyền thống của quan hệ sản xuất đã đan xen với các hình thức độc quyền nhà nước được sản sinh bởi quá trình xã hội hoá sản xuất. Đó chính là sự thống nhất phức tạp giữa điều chỉnh và thị trường, giữa chế độ quản lý kinh tế hỗn hợp.

Trong tiến trình xuyên quốc gia hoá và toàn cầu hóa nền kinh tế, trong việc các nhà nước tư bản tìm kiếm các biện pháp điều tiết nền kinh tế, hình thức sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất đã có những thay đổi đáng kể, quan hệ sản xuất ở các nước tư bản chủ nghĩa đã được xã hội hoá hơn trước, vì thế, trong một chừng mực nhất định, có sự thích ứng hơn với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Ngày nay, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đương nhiên là vẫn tồn tại và có những mặt gay gắt nhưng ở mặt khác, mâu thuẫn đó không còn những đường nét và ranh giới rõ ràng như trước. Trong Chủ nghĩa Tư bản hiện đại, nhà nước tư sản chiếm hữu và phân phối từ 30% – 60% thu nhập quốc dân. Đây không đơn thuần là sự chiếm hữu tư nhân nữa, mà phần nào đã mang tính chất xã hội.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận rõ, mặc dù Chủ nghĩa Tư bản có phần thành công nhất định trong điều tiết kinh tế nhưng cũng chỉ là thành công nhất thời. Mâu thuẫn cố hữu của Chủ nghĩa Tư bản không thể thay đổi. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua đã khẳng định điều đó.

Thay đổi từ phía những người lao động. Khác với những năm cuối thế kỷ vừa qua, hiện nay giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, phần đông đã trả công theo giá trị sức lao động. Sở dĩ như vậy vì giai cấp tư sản có thể dùng một phần siêu lợi nhận để mua chuộc; vì phong trào công nhân có tổ chức chặt chẽ trở thành một lực lượng hùng mạnh là đối trọng đáng kể đối với giai cấp tư sản; vì để mở rộng sản xuất, Chủ nghĩa Tư bản cũng rất cần tăng số “cầu” của dân cư, tăng quy mô tiêu dùng cá nhân. Những điều này dẫn tới sự thay đổi đáng kể trong đời sống những người lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Tình trạng nghèo khổ vẫn còn, nhưng không phải phổ biến ở phần lớn những người công nhân làm thuê; đang phát triển một cách tự phát cái mà Lê nin gọi là “ý thức công liên chủ nghĩa”, không cảm thấy trực tiếp ách áp bức của hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Như vậy, nếu nhìn nhận một cách trực quan, Chủ nghĩa Tư bản hiện đại đã khoác trên mình nó một bộ áo cánh mới và bộ áo cánh đó đã phần nào che đậy được một số khuyết tật cố hữu của Chủ nghĩa Tư bản. Tuy nhiên, Chủ nghĩa Tư bản dầu sao vẫn là Chủ nghĩa Tư bản với bản chất xã hội mang nặng sự phi lý, là chế độ đầy rẫy bất công phi lý, mâu thuẫn. Và một điều nữa cần được khẳng định là chính những thay đổi hiện nay trong lòng Chủ nghĩa Tư bản cùng những thành công nhất thời trong việc tự điều chỉnh lại tạo những nhân tố và tiền đề mới cho một xã hội tương lai- xã hội phủ nhận Chủ nghĩa Tư bản. Quy luật phát triển xã hội chắc chắn là như vậy./.

GS.TS Vũ Văn Hiền Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài TNVN

———

“Thà ít mà tốt”

– Những năm cuối đời, Lênin đặt ra nhiều vấn đề cần phải canh tân: thanh Đảng, thay đổi đường lối kinh tế (đề ra chính sách kinh tế mới – NEP) và cải cách bộ máy nhà nước. Tất cả những vấn đề đó vẫn đang còn nhiều giá trị gợi ý cho Việt Nam hôm nay.
Về tính cấp bách phải cải cách bộ máy Nhà nước, Lênin nói: “Không có sự tận tụy nào, không có uy tín nào của Đảng có thể thay thế được điều cơ bản trong trường hợp này, đó là: Sự hiểu biết công việc, hiểu biết bộ máy Nhà nước của chúng ta và hiểu biết bộ máy đó phải được cải tổ như thế nào”.

“Vấn đề văn hoá” của bộ máy nhà nước

Một năm trước khi qua đời, tháng 3/1923, Lenin đã chỉ ra “vấn đề văn hóa” của bộ máy nhà nước, bộ máy ấy vừa yếu kém, vừa cồng kềnh quan liêu, vừa đầy rẫy nạn ăn hối lộ, nạn ăn cắp của công. Phải “cải tiến bộ máy nhà nước” bởi vì “Tình hình bộ máy nhà nước của ta rất đáng buồn, nếu không muốn nói là rất tồi tệ, đến nỗi chúng ta phải suy nghĩ nghiêm chỉnh xem nên khắc phục những khuyết điểm của bộ máy ấy như thế nào”.

Về thái độ của đảng Cộng sản, theo ông, là phải “giác ngộ”, là “Phải kịp thời tỉnh ngộ. Phải thấm sâu thái độ bất tín nhiệm bổ ích đối với lối cứ khinh suất muốn lao bừa lên đối với mọi lời huênh hoang v.v…

Phải nghĩ đến chuyện kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta tuyên bố hàng giờ, quyết định hàng phút, rồi từng giây chứng minh tính chất không vững chắc, không kiên định và khó hiểu của các chủ trương đó. Điều tai hại nhất ở đây là hấp tấp. Điều tai hại nhất là tưởng rằng chúng ta biết được một tí như thế là đủ rồi, hoặc tưởng rằng chúng ta đã có được một số yếu tố khá lớn để xây dựng được một bộ máy thật sự xứng đáng với danh hiệu bộ máy XHCN…”.

Để cải tiến bộ máy nhà nước thì cần phải hiểu đúng thực chất của vấn đề.

“Về mặt này, không thể giải quyết được bằng một hành động liều lĩnh, hay một cuộc xung phong, bằng sự tàn bạo hay bằng nghị lực, hoặc nói chung, bằng bất cứ một trong những đức tính tốt đẹp nhất nào của con người”.

Muốn cho bộ máy nhà nước có thể đạt được trình độ mong muốn thì phải tôn trọng quy tắc “chỉ hành động khi đã suy nghĩ chín chắn” thận trọng và “am hiểu cặn kẽ”, phải đi những bước vững chắc “thà ít mà tốt” còn hơn là hấp tấp vội vàng.

Biện pháp nửa chừng rất tai hại

Đảng phải thành thật mà nhận biết rằng kiến thức của đảng viên, cán bộ, công chức và của nhân dân về xây dựng Nhà nước còn rất thấp. “Những yếu tố kiến thức, học thức, giáo dục” so với “tất cả các nước khác thì chúng ta còn ít ỏi đến nực cười”.

Người nhắc nhở để cải tiến bộ máy nhà nước, Đảng phải tự đặt cho mình nhiệm vụ “một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi, và sau nữa, phải làm sao cho học thức của nước ta không nằm trên giấy hoặc là một lời nói theo mốt nữa (điều này phải thú thật là thường hay xảy ra ở nước ta), phải làm sao cho học thức thật sự ăn sâu vào trí não, hoàn toàn và thực tế trở thành một bộ phận khăng khít của cuộc sống của chúng ta”.

Để thực hiện quy tắc “Thà ít mà tốt”, trước hết Đảng phải chấn chỉnh Bộ dân ủy thanh tra công nông (tựa như Tổng Thanh tra Chính phủ của ta hiện nay – NV), phải làm sao cho nó thực sự trong sạch vững mạnh, đủ khả năng làm công tác thanh tra. Đồng thời, phải củng cố Ban kiểm tra Trung ương Đảng. Phải chuẩn bị cặn kẽ và cần có những biện pháp dứt khoát, triệt để bởi vì “những biện pháp nửa chừng sẽ rất tai hại”.

Đảng và Nhà nước cùng có một mục tiêu chung là dẫn dắt nhân dân mưu cầu hạnh phúc, cùng phải có một tư cách là “đầy tớ trung thành của nhân dân” và cùng có một đối tượng lãnh đạo và quản lý là nhân dân – dân tộc – quốc gia.

Tất nhiên, Đảng không phải là Nhà nước. Đảng là tổ chức chính trị, là “hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động” (Hồ Chí Minh), là một tổ chức tham mưu, một đội tiên phong của dân tộc. Còn nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là tổ chức duy nhất nắm trong tay cả ba nhánh quyền lực vốn là của nhân dân: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Trong một nước chỉ có chế độ một đảng, đảng Cộng sản lãnh đạo và cầm quyền, việc phân biệt sự khác nhau giữa Đảng và nhà nước là có tính nguyên tắc. Mặt khác, do đặc điểm nói trên nên vấn đề kết hợp công tác giữa cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước cũng lại là một nguyên tắc.

Song việc kết hợp ấy, trên thực tế cũng không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Lênin đã nêu ra một câu hỏi lớn, một bài toán chính trị không tìm thấy lời giải ở bất kỳ kiểu nhà nước nào trước kia: “Làm thế nào có thể kết hợp được một cơ quan Đảng với một cơ quan chính quyền Xô-viết?”.

Tại sao không kết hợp?

Muốn trả lời câu hỏi đó, không có cách nào khác là phải tìm về thực tiễn, lấy thực tiễn để khẳng định chân lý. Ông đặt ra một loạt câu hỏi: “Thật vậy, tại sao lại không kết hợp hai loại cơ quan đó lại khi lợi ích của công việc đòi hỏi phải làm như thế? Phải chăng chưa bao giờ có ai nhận xét chẳng hạn rằng trong một Bộ dân ủy như Bộ dân ủy ngoại giao, việc kết hợp như thế thật vô cùng có ích và đã đạt được thực hiện ngay từ khi bộ đó mới được thành lập?

Phải chăng Bộ Chính trị đã không thảo luận, trên quan điểm của Đảng, nhiều vấn đề, lớn và nhỏ, về những “nước cờ” mà chúng ta dùng để chống lại những “nước cờ” của các nước ngoài, nhằm đề phòng, chẳng hạn – nói cho lễ độ – một mưu kế nào đó của họ? Phải chăng sự kết hợp linh hoạt của yếu tố chính quyền với yếu tố Đảng lại không phải là nguồn sức mạnh phi thường trong chính sách của chúng ta?”.

Lênin cho rằng những gì đã được thực tiễn kiểm chứng là đúng trong chính sách ngoại giao đều có thể ứng dụng vào toàn thể bộ máy nhà nước. Ông còn nhấn mạnh, với những cơ quan như Bộ dân ủy thanh tra công nông và cơ quan kiểm tra của Đảng, có những nội dung quan trọng “đòi hỏi một sự linh hoạt vô cùng trong những hình thức hoạt động của nó nữa – tại sao đối với cơ quan ấy lại không thừa nhận là có thể hợp nhất một cách độc đáo bộ máy kiểm tra của Đảng với bộ máy kiểm tra của chính quyền?”.

Lênin nhận định trong toàn bộ lĩnh vực những quan hệ xã hội, kinh tế và chính trị, chúng ta đều tỏ ra là cách mạng “ghê gớm”. Nhưng về mặt cấp bậc, về mặt tôn trọng những hình thức, những thể lệ và thủ tục hành chính thì “tính cách mạng” vẫn hay nhường chỗ cho tinh thần thủ cựu, hủ bại nhất. Người đã chỉ ra nghịch lý “trong đời sống xã hội, bước nhảy vọt phi thường nhất lại thường đi kèm theo một sự rụt rè ghê gớm trước những thay đổi nhỏ nhất”.

Tình hình trên cũng không phải là khó hiểu bởi những bước táo bạo nhất, những vấn đề to lớn của cuộc cách mạng XHCN “vẫn nằm trong cái lĩnh vực từ rất lâu đã là lĩnh vực thuần túy lý luận” đã được “nuôi cấy chủ yếu – hoặc thậm chí hoàn toàn bằng lý luận”.

Nền giáo dục xa rời đời sống thực tiễn, thiếu kết hợp lý luận với thực tiễn đã làm cho giáo dục lý luận mang “một tính chất phiến diện lạ thường”. Lênin đã nghiêm khắc chỉ ra rằng ở nước Nga khi bước vào thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP), lý luận đã mang tính bảo thủ rụt rè trước những vấn đề “nhỏ nhặt”, chi tiết nhưng rất thiết thực, rất cần cho đời sống thực tiễn. Người viết: “Ở nước ta, sự táo bạo trong công trình lý luận chung đã song song tồn tại với tính rụt rè lạ lùng trước một cuộc cải cách hành chính nhỏ nhặt nhất”.

Cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách thể chế, thủ tục hành chính, tinh giản biên chế, thực hành một nền công vụ có hiệu năng bởi một đội ngũ công chức tinh thông nghề nghiệp, biết làm việc trên tinh thần phục vụ nhân dân đi liền với chống tệ quan liêu, ăn hối lộ và tham nhũng… là những vấn đề đã được Lênin nhấn mạnh nhiều lần.

Ông khẳng định: “Chỉ có làm cho bộ máy của chúng ta trong sạch đến tột bực, chỉ giảm bớt đến mức tối đa tất cả những cái không tuyệt đối cần thiết, chúng ta mới có thể đứng vững được”.

  • Trần Đình Huỳnh
    (Các trích dẫn rút từ Lênin toàn tập,T45)
—————–

“Cài cắm” lợi ích vào văn bản pháp luật: “Chuyện bình thường”

TS. Nguyễn Đình Cung nói về việc rà soát và đơn giản hóa thủ tục hành chính tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Văn bản quy phạm pháp luật có thể giúp “bôi trơn” hoạt động kinh tế, nhưng cũng có thể tạo ra rào cản. Bởi vậy, Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính đang được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân, đồng thời triệt tiêu được sự “cài cắm” lợi ích nhóm trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Bên lề hội nghị công bố kết quả rà soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư diễn ra mới đây, TS. Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương, Tổ phó Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã trao đổi với VnEconomy xung quanh nội dung này.

4 câu hỏi khi làm luật

Trong quá trình rà soát thủ tục hành chính vừa qua, ông có phát hiện cơ quan, hay người soạn thảo luật “cài cắm” một vài điều khoản có lợi cho đơn vị mình, cá nhân mình?

Điều đó là chuyện bình thường và phải xác định như vậy.

Chính vì vậy, phải thiết lập được một hệ thống thể chế giám sát bên ngoài, ví dụ như tham vấn các bên có liên quan, hoặc công khai hóa dự thảo để mọi người góp ý trước khi ban hành, có cơ quan độc lập đánh giá, thẩm định lại nội dung chính sách…

Có như vậy mới kiểm soát được lợi ích nhóm có thể len lỏi vào các văn bản quy phạm pháp luật. Phải tính đến vấn đề này trong suốt quá trình hoạch định, cũng như thực thi pháp luật.

Có đến 84,3% thủ tục hành chính được kiến nghị sửa và bỏ. Con số này nói lên điều gì, thưa ông?

Thực ra, lâu nay chúng ta vẫn nói quy trình làm luật của chúng ta chưa hợp lý, chất lượng các quy định của ta chưa tốt. Và hàng chục năm vừa rồi chúng ta cứ ban hành chứ không rà soát lại, cho nên có thể rất nhiều thủ tục trước đây hợp lý, nhưng qua một quá trình, nó trở nên không hợp lý nữa, và sự không hợp lý đó cứ tồn tại vì ta không rà soát đến nó.

Vì vậy, đợt này là cải cách một cách tổng thể, nhìn lại toàn bộ quá khứ. Tới đây còn cần một “động tác” nữa là từ nay trở đi chúng ta phải đặt nền tảng tiếp tục thực hiện các nguyên tắc này. Có như vậy mới thiết lập được một thể chế, cơ chế và công cụ giám sát chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các thủ tục hành chính.

Ông có thể nói rõ hơn?

Chỉ cần đơn giản như thế này là có thể cải cách được rất nhiều chất lượng văn bản. Mỗi một công chức khi soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trả lời 4 câu hỏi. Một, vấn đề mình cần xử lý là gì? Hai, mình có thể xử lý vấn đề đó bằng công cụ nào? Ba, các chi phí và lợi ích của từng giải pháp đó là cái gì? Cuối cùng, tìm ra cái rẻ nhất, tốt nhất mà đạt được mục tiêu.

Chỉ 4 câu hỏi thôi, mỗi công chức từ nay trở đi, khi đặt bút viết trả lời được 4 câu hỏi đó, và nó luôn thường trực trong đầu thì chắc chắn chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của ta sẽ được cải thiện đáng kể.

Cùng với đó, thiết lập một hệ thống giám sát, đánh giá tương đối rõ ràng, nhất là có những điều kiện, tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.

Thủ tục nhiều để bảo vệ quyền lợi

Ông nghĩ sao về việc riêng thủ tục thành lập và phát triển doanh nghiệp đã chiếm hơn 1/2 tổng số thủ tục hành chính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư?

Thứ nhất, đây là tất cả những thủ tục liên quan đến thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. 257 thủ tục đó, không phải mọi doanh nghiệp đều phải thực hiện cả.

Thứ hai, 257 thủ tục đó phân chia chi tiết đến cây, cành, nhánh, lá… Ví dụ, thay đổi trụ sở thì phải đi đăng ký lại nội dung đăng ký kinh doanh, ngành nghề kinh doanh muốn thay đổi cũng được yêu cầu đi đăng ký lại, tên doanh nghiệp, người đại diện pháp luật của doanh nghiệp… khi thay đổi cũng phải đăng ký lại.

Theo tôi, điều đó là để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên có liên quan, nhất là quyền lợi của doanh nghiệp và người thành lập doanh nghiệp.

Sau này, có thể có bước tiến xa hơn, bỏ được thủ tục này kia, nhưng xét về tổng thể, những thủ tục đó hiện nay là hợp lý.

Tức là theo ông, môi trường kinh doanh đã được phần nào cải thiện hơn?

Theo tôi, về đăng ký kinh doanh đã liên tục có thay đổi trong những năm qua. Ví dụ như quy chế một cửa liên thông, hiện nay là đăng ký doanh nghiệp kết hợp đăng ký mã số thuế, tiến tới đăng ký điện tử.

Chỗ này, theo tôi có một số cái có thể làm tốt hơn. Cần thiết lập một hệ thống thông tin đăng ký kinh doanh toàn quốc, tiêu chuẩn hóa hợp lý hóa quy trình hóa tất cả thủ tục này để một quy trình thống nhất áp dụng trong toàn quốc, tránh sự tùy tiện hoặc hiểu khác đi của một vài người thực hiện, tránh sự can thiệp của ai đó. Tiến tới sẽ phải đạt được như thế.

———

Sửa Hiến pháp để Kiểm toán Nhà nước độc lập hơn (PLTP)

(PL)- Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành nghị quyết về Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước (KTNN) tới 2020.
Advertisements

12 phản hồi

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    ĐƠN TRÌNH BÁO -YÊU CẦU VÀ ĐỀ NGHỊ
    ( đối với việc mất trộm trị khu vườn tổ 12 khu4b phường Hùng thắng )
    Kính gửi : UBND phường Hùng thắng thành phố hạ long tỉnh Quảng ninh
    – Ông bí thư Đảng uỷ ng Hùng thắng – hạ long –Quảng ninh
    -Ông chủ tịch UBND Phường Hùng thắng –Hạ long – Quảng ninh
    – Ông chủ tich HĐND Phường Hùng thắng –Hạ long – Quảng ninh
    – Ông chủ tịch MTTQ P Hùng thắng –Hạ long – Quảng ninh
    – Ông trưởng công an phường Hùng thắng – hạ long – Quảng ninh.
    – Ông bí thư phương Hùng thắng –Hạ long Quảng ninh .
    – UBND thành phố hạ long tỉnh Quảng ninh
    – Ông chủ tịch UBND thành Phố hạ long tỉnh Quảng ninh
    – Ông bí thư thành uỷ thành phố Hạ long tỉnh Quảng ninh
    – Ông Chủ tịch MTTQ thành phố Hạ long tỉnh Quảng ninh
    – Bà trưởng thanh UBND thành phố Hạ long tỉnh Quảng ninh
    Bên làm đơn : Công ty TNHH Tuần Châu
    Địa chỉ : Tổ 15 khu 3 Phường Tuần Châu Hạ Long Quảng Ninh.
    Điện thoại : 0333 649958 Di động : 0934632059 MST:5700540338
    Đại diện : Bùi Đình Quyên Chức vụ : Giám đốc Công ty TNHH Tuần Châu
    NÔI DUNG TRÌNH BÁO YÊU CẦU VÀ ĐỀ NGHỊ

    – Phần trình báo : Sáng 18/06/2011 khoảng trên 6 h anh Nguyễn Quang Chiến đã điện thoại báo tin tại khu nhà ngói phía đông khu vườn cây xanh bên cạch đường quốc lộ 18 A cạnh bờ biển vịnh Hạ long cách cổng Đảo Tuần châu khoảng 200m Về phía cầu bãi cháy thuộc tổ 12 khu 4B Phường Hùng thắng -Hạ long – Quảng ninh đã bị mất trộm ? : Trước mắt nhìn thất là mất trên 50 m dây điện cáp đen loại to mới mắc từ khu nhà sắt nhôm kính nối đến khu nhà xây lợp ngói , thứ 2 là là mất 2 tủ kính khung nhôm kích thước 1,2m dài 2,4m để ở trong phòng và bên ra ngoài chúng đập vỡ hàng chục m kính 5 ly. Thứ 2 kẻ trộm đã dập khóa mở kho ăn trộm tài sản : riêng tài sản mất trong kho vẫn để nguyên hiện trường , chờ công an đến điều tra và giải quyết .Do vậy việc mất tài sản trong kho chúng tôi chưa kiểm kê và biết mất là những thứ gì ,có giá trị là bao nhiêu ? Vì tài sản mất trộm này là tài sản của công ty TNHH Tuần châu để trong kho và trong nhà thuộc trong khu vườn cây xanh này là 5 năm rồi đến nay mới bị mất trộm, trừ đường dây cáp điện thì mới mắc, Khu vườn này công ty TNHH Tuần châu đã sử dụng và quản lý liên tục là 7 năm rồi, nay đương nhiên vẫn là quyền quản lý của công ty TNHH Tuần châu . Do vậy Ông Nguyễn Quang Chiến là phó giám đốc công ty có trách nhiệm trông coi, Quản lý . Nay đi kiểm tra thấy mất trộm và đã báo tin mất trộm thực tế nguyên văn như trên ? Chúng tôi cho rằng vụ mất trộm này có dấu hiệu liên quan tới vụ việc rào dây thép gai ở cổng và nhà khu ở khu vườn này là hành vi trái pháp luật của cơ quan kiểm lâm vùng 1 vào ngày 31/06/2011, nhưng bán bộ phường lại không lập biên bản khi có đơn yêu cầu của công ty chúng tôi mà lại việc lập biên bản của cán bộ phường Hùng thắng tại hội trường UBND Phường về vấn đề tạm vắng tạm trú của cán bộ , công nhân, bảo vệ của công ty TNHH Tuần châu tại khu vườn này vào ngày 13/06/2011 …., liên quan tới vấn đề nhân chứng vật chứng vụ kiện trái pháp luật của đại diện cơ quan kiểm lâm vùng 1 tranh chấp hợp đồng 318/HĐKT tại khu vườn này , tại tòa án nhân dân thành phố Hạ long theo giấy triệu tập ngày 08/06/2011. Đã gây thiệt hại kinh tế và khủng bố tinh thần công ty TNHH Tuần châu .( sáng nay 8h chúng tôi đã điện tực tiếp báo cho 3 cán bộ công an phường , chiều gửi đơn trực tiếp tới công an phường , gửi 1 dơn qua đường bưu điện )
    – Yêu cầu : công an phường Hùng thắng cử người xuống hiện trường đã bị mất trộm tại khu vườn để kiểm tra Hiện trường , điều tra và giải quyết đơn tình báo án của công ty TNHH Tuần châu . Để đem lại sự bình yên cho doanh nghiệp chúng tôi nói riêng và an ninh trật tự cho khu vực nói chung .
    – Đề nghị : Vì vậy chúng tôi đề nghị công an phường Hùng thắng , công an thành phố Hạ long giúp đỡ điều tra minh bạch giải quyết vụ mất trộm này và những người liên đới phải chịu trách nhiệm theo quy đinh của pháp luật . Chúng tôi cam đam lời trình báo trên là hoàn toàn sự thật nếu sai chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật .

    Xin chân thành cản ơn . Ngày 18 tháng 06 năm 2911

    ĐẠI DIỆN CÔNG TY TNHH TUẦN CHÂU
    GIÁM ĐỐC

    BÙI ĐÌNH QUYÊN

  2. “The last time I saw him he was walking down Lover’s Lane holding his own hand.” by Fred Allen.

  3. “He who lives without folly isn’t so wise as he thinks.” by Francois de La Rochefoucauld.

  4. “Bad mind, bad heart.” by Anacharsis Cloots..

  5. “Lefty Wise guy dont carry wallets, they carry their money in a roll….beaner on the outs” by Donnie Brasco.

  6. “The outcome of the war is in our hands the outcome of words is in the council.” by Homer.

  7. I like this post, enjoyed this one appreciate it for putting up. “Pain is inevitable. Suffering is optional.” by M. Kathleen Casey.

  8. “The living is a species of the dead and not a very attractive one.” by Friedrich Wilhelm Nietzsche.

  9. “One should die proudly when it is no longer possible to live proudly.” by Friedrich Wilhelm Nietzsche.

  10. “Don’t pray when it rains if you don’t pray when the sun shines.” by Leroy Robert Satchel Paige.

  11. “The earth was made round so we would not see too far down the road.” by Karen Blixen.

    11. Con cò lặn lội bờ ao
    Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng
    Chú tôi hay tửu hay tăm
    Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa
    Ngày thì khấn những ngày mưa
    Đêm thì ước những đêm thừa trống canh

    12. Con cò lặn lội bờ ao
    Ăn sung sung chát ăn đào chua
    Ngày ngày ra đứng cổng chùa
    Trông ra Hà Nội xem vua đúc tiền
    Ruộng tư điền không ai cày cấy
    Liệu cô mình ở vậy được chăng
    Mười hai cửa bể anh cũng đóng đăng
    Cửa nào lắm cá anh quăng lưới (chài) vào

    13. Con cò lặn lội bờ sông
    Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non
    Nàng về nuôi cái cùng con
    Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

    14. Con cò lặn lội bờ sông
    Ngày xuân mòn mỏi má hồng phôi pha.
    Em về giục mẹ cùng cha
    Chợ trưa, dưa héo nghĩ mà buồn tênh.
    Con gà hắn mổ hột kê
    Con ngựa ăn gò mả, con rồng về Bình Long
    Núi Đồng Dương, dê chạy giáp vòng
    Ngó về long hải, con cá nằm ngất ngư
    Em về em lạy mẫu từ rồi đi theo anh.
    – Con diều nó đậu bông trang
    Con voi ăn núi Tương, con rùa bò Đá Quy.
    Ngó lên cây lồ ô, con quạ ngủ li bì
    Ngó về sông rạch, con tôm đi bạc hà
    Em về thưa mẹ cùng cha
    Qua đà đối đặng, em theo ta cho rồi.

    15. Con cò là con cò con
    Mẹ đi xúc tép để con coi nhà
    Mẹ đi lặn lội đường xa
    Chân mẹ la đà đạp phải khúc lươn
    Ông kia có chiếc thuyền lườn
    Chớ vào bụi rậm xem lươn bắt cò
    Ông kia chống gậy lò dò
    Đi vào bụi rậm xem cò bắt lươn

  12. Hai tay nắm lấy khư khư
    Bụng thì bảo dạ, rằng, ư – đút vào
    Đút vào nó sướng làm sao
    Dập lên dập xuống nó trào nước ra.

    (Ăn Mía)

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: