Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA TRUNG TƯỚNG NGUYỄN QUỐC THƯỚC VỀ BÀI VIẾT ” Danh sách kiến nghị thả ngay tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ”


Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA TRUNG TƯỚNG NGUYỄN QUỐC THƯỚC VỀ BÀI VIẾT ” Danh sách kiến nghị thả ngay tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ” (Ban LL Mặt trận Tây Nguyên).

-ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA BLL MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN B3 – QUÂN ĐOÀN 3

ĐỂ BẢO ĐẢM TÍNH TRUNG THỰC VỚI BÀI VIẾT

Chúng tôi xin đăng nguyên văn dưới dạng (ảnh) :

Ý KIẾN PHẢN HỒI CỦA TRUNG TƯỚNG NGUYỄN QUỐC THƯỚC

VỀ BÀI VIẾT ” Danh sách kiến nghị thả ngay tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ”.


6 phản hồi

  1. CHÚNG TÔI CŨNG KHỞI KIỆN THỦ TƯỚNG 4 LẦN RỒI . XEM RA HỌ CÙ CHƯA TÌM RA KHE HỞ ĐỂ BẨY TẢNG BÊ TÔNG CHÍNH TRỊ :CẦN ĐỊNH HƯỚNG LẠI VÀ SUY NGÃM

  2. BÙI ĐÌNH QUYÊN đã nói 02/05/2011 lúc 8:18 sáng GÓP Ý XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC ? Bùi Đình Quyên cho rằng mọi khởi điểm về tranh chấp biển Đông tháng 4/2011 đã rõ ràng : gống như bài văn đã làm xong phần đầu đề và phần mở bài : TỪ THÁNG 5 TRỞ ĐI LÀ THỜI GIAN GIẢI QUYẾT THÂN BÀI RỒI SAU SẼ KẾT LUẬN :CHẮC CÁCH GIẢI QUYẾT BAN ĐẦU : LÀ THEO CÁCH RIÊNG CỦA MỖI QUỐC GIA :NHƯNG giải quyết TRANH CHẤP ÔN HÒA XEM RA LÀ KHÓ , THẾ NÀO CHẲNG CÓ VA CHẠM . VÌ ĐẤT NƯỚC NHÂN DÂN ta LÊN ỦNG HỘ ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG TÁI ĐẮC CỬ CHỨC THỦ TƯỚNG . ÔNG TRƯƠNG TẤN SANG LÀM CHỦ TỊCH NƯỚC NHƯNG VẪN KIÊM THƯỜNG TRỰC BAN BÍ THƯ TW ĐẢNG :THÌ VIỆT NAM SẼ GIỮ ĐƯỢC THẾ CỜ CHÂN VẠC (TẠM THỜI) AN TOÀN : VÌ THỰC TRẠNG CỦA ĐẤT NƯỚC TA HIỆN NAY ,XEM RA KHÔNG CÒN CÁCH NÀO KHÁC :ÔNG NGUYỄN SINH HÙNG KHÔNG NÊN LÀM CHỦ TỊCH QUỐC HỘI THÌ TỐT HƠN VÌ… ÔNG THẬT SỰ KHÔNG CÓ NĂNG LỰC PHÁP LUẬT TRIẾT HỌC .LỜI NÓI HỮNG HỜ TRÊN MÂY TRÊN GIÓ ..ÔNG HÙNG HOÀN TOÀN KHÔNG PHÙ HỢP LÀM QUAN QUỐC HỘI ? ( CÓ DẤU HIỆU SỰ SẾP ĐẶT CỦA ÔNG NÔNG ĐỨC MẠNH VÀ ÔNG NGUYỄN VĂN CHI, ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG, ÔNG NGÔ VĂN DỤ… ĐÂY CHỈ LÀ TIÊN ĐOÁN THÔI ,NHƯNG TẤT LÀ CÓ CƠ SỞ, NHÂN DÂN ĐỪNG NÊN COI THƯỜNG ĐIỀU NÀY ,NẾU ĐỂ XẢY RA NHƯ VẬY SAU NÀY SẼ PHỨC TẠP CHO NON SÔNG ĐẤT NƯỚC VÀ NHÂN DÂN TA …..NẾU ÔNG NGUYỄN SINH HÙNG VẪN TRÚNG CHỦ TỊCH QUỐC HỘI….. THÌ PHẢI HIỂU RẰNG BƯỚC CHÂN TRƯỚC NHƯ THẾ NÀO, BƯỚC CHÂN SAU SẼ NHƯ VẬY ,CHÍNH TRỊ SẼ BỊ BẢO THỦ LÀ SAI LẦM KHÓ ĐƯỜNG HÓA GIẢI ..?) NẾU CÓ TỘI ÁC ,NƯỚC SÔNG HỒNG NGÀN NĂM KHÓ RỬA ? NẾU CÓ LỖI LẦM ,KHI THẤY CHÂN LÝ VÀ LẼ PHẢI ẮT SẼ SỬA ĐƯỢC NGAY ? Tài liệu tham khảo đặc biệt Thứ Hai, ngày 25/04/2011 TTXVN (Bắc Kinh 20/4) Một trong những nội dung cơ bản của kế hoạch 5 năm lần thứ 12 vừa được Quốc hội Trung Quốc chính thức thông qua tại kỳ họp Lưỡng Hội (Quốc hội và Chính hiệp) là phát triển kinh tế biển. Trên thực tế biển đã được Trung Quốc xác định là hướng phát triển trọng điểm ngay từ trước khi có kế hoạch 5 năm lần thứ 12 như một hướng lựa chọn tất yếu, trong đó biển đảo sẽ là một bộ phận đặc biệt không chỉ đối với trong nước mà còn liên quan đến cả nước khác do có yếu tố tranh chấp phức tạp. Lãnh đạo Cục hải dương Trung Quốc vừa có cuộc toạ đàm với 11 học giả nhằm thảo luận, tìm giải pháp phát triển biển tối ưu. Báo chí Trung Quốc gần đây cũng có nhiều bài giới thiệu về công tác và hướng phát triển của ngành hải giám (giám sát biển) Trung Quốc trong khuôn khổ “5 năm lần thứ 12”, xây dựng ý thức coi trọng và bảo vệ biển trong nhân dân, đồng thời cũng bộc lộ rõ tham vọng “lấy lại những đảo đã mất”, không chỉ những đảo do chính người Trung Quốc tự làm mất đi bởi thiếu hiểu biết cần thiết về lợi ích to lớn đi liền với đảo, mà cả những đảo bị nước khác “chiếm mất”. Mạng Tân Hoa vừa qua có bài viết của hai học giả là Hạ Giám, Tiến sĩ luật học, Phó giáo sư khoa chính trị Đại học Tương Đàm về vấn đề “tranh chấp Nam Hải (Biển Đông) dưới góc nhìn của luật biển quốc tế”, trong đó có phần về tranh chấp giữa Trung Quốc – Việt Nam và giữa Trung Quốc – Philippin. Bố cục bài viết gồm ba phần lớn là Tranh chấp Nam Hải trước khi có “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” (gọi tắt là “Công ước”); Tranh chấp Nam Hải sau khi có “Công ước”; Giải quyết tranh chấp Nam Hải trong cơ chế của “Công ước”. Bài viết hệ thống lại những trọng điểm tranh chấp trước và sau kihi Công ước Liên hợp quốc về luật biển ra đời. Trước khi có Công ước luật biển, trọng điểm tranh chấp các đảo ở Nam Hải (Biển Đông) là tranh giành các đảo và xác nhận chủ quyền của các bên đối với các đảo; Sau khi Công ước ra đời, tranh chấp chủ yếu biểu hiện ra thành tranh chấp quyền và lợi ích biển. Bởi Công ước luật biển có những bất cập nên một số nước đã vin vào đó để lý giải sai công ước, tuỳ tiện phân chia vùng Biển Đông, dựa theo đó để chiếm lĩnh các đảo. Tuy nhiên, Công ước luật biển cũng đồng thời tạo ra khuôn khổ cơ bản để giải quyết tranh chấp Biển Đông, theo đó phải lấy “Hiến chương Liên hợp quốc”, “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” và các luật pháp quốc tế liên quan làm cơ sở, thông qua hiệp thương hữu nghị hoà bình giữa các nước, đó mới là con đường tốt nhất để giải quyết tranh chấp Biển Đông. Dưới đây là nội dung chính trong bài viết: Trung Quốc là nước phát hiện và khai thác Nam Hải (Biển Đông) sớm nhất, cũng là nước thực hiện quản lý chủ quyền đối với các đảo ở Nam Hải sớm nhất và liên tục nhất. Ngay từ đời nhà Hán, Trung Quốc đã có những tư liệu ghi chép về Nam Hải. Đến đời nhà Nguyên, các đảo ở Nam Hải đã thuộc quyền quản lý của Trung Quốc. Từ thời kỳ cận đại đến nay, Trung Quốc tuy nhiều lần bị kẻ thù bên ngoài xâm nhập nhưng Chính phủ trung ương lúc đó vẫn còn tương đối tích cực trong xử lý vấn đề Nam Hải. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Chính phủ Quốc Dân đảng ở Trung Quốc đã đưa chiến hạm ra tiếp nhận các đảo ở Nam Hải từ tay Nhật Bản, đã tiến hành trắc đạc, đo vẽ đối với vùng biển Nam Hải và hơn 170 đảo và bãi đá thuộc Nam Hải, đồng thời đã đặt lại tên cho các đảo này theo vị trí địa lý và đặc điểm của chúng ở Nam Hải. Năm 1947 trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các bên, và tổng hợp những dữ liệu trắc đạc thực địa đối với các đảo ở Nam Hải và những căn cứ lịch sử về chủ quyền đối với Nam Hải, Chính phủ Quốc Dân đảng đã quyết định áp dụng “đường đứt đoạn 9 khúc” (còn gọi là “đường hình chữ U”) – (cũng còn cách gọi “đường lưỡi bò”) làm đường phân giới Nam Hải của Trung Quốc, đồng thời đã đưa vào “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân quốc”, phát hành công khai. Nhưng bởi vị trí địa lý độc đáo và tài nguyên thiên nhiên phong phú của Nam Hải nên các nước xung quanh đều tranh nhau giành giật các đảo, phân chia vùng biển hòng chiếm cứ lâu dài. Một thời gian rất lâu sau đó, Chính phủ Trung Quốc đều không hoàn toàn hành xử chủ quyền trong toàn bộ vùng biển Nam Hải, trong khi hiện nay quan hệ quốc tế vẫn được thiết lập trên cơ sở độc lập của quốc gia có chủ quyền. Điều này đã để lại nhân tố khúc mắc trong vấn đề tranh chấp Nam Hải thời gian tới đây. I – Tranh chấp Biển Đông trước khi có “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” Ngoài Trung Quốc, Philippin và Việt Nam là các nước nêu lên vấn đề chủ quyền ở Biển Đông tương đối sớm. Trước khi công bố “Công ước Liên hợp quốc về luật biển”, Philippin và Việt Nam (trước năm 1975 gọi là Nam Việt Nam) chủ yếu thông qua tranh cướp các đảo ở Biển Đông, tiến hành chiếm đóng về mặt quân sự để đạt được mục đích của mình. 1/ Tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippin Ngày 23/7/1946, không lâu sau khi giành độc lập, Chính phủ Philippin đã công khai tỏ ý muốn có chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Sau đó Chính phủ Philippin đã nhiều lần đưa người ra đóng ở một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, đến nay Philippin tổng cộng đã chiếm giữ 9 đảo, và đem quân ra đóng ở các đảo đã chiếm. Chính phủ Philippin một mặt chiếm đóng quân sự, mặt khác ngang nhiên tuyên truyền có “chủ quyền” ở Nam Sa, nhưng chứng cứ pháp lý của Philippin hết sức nghèo nàn yếu ớt, thâm chí là hoang đường. Philippin hoàn toàn không xét đến nguyên tắc cơ bản trong luật pháp quốc tế mà chỉ dựa vào một số cái gọi là nguyên tắc theo cách suy diễn chủ quan để làm chứng cứ. Từ những năm 40, 50 thế kỷ trước, Philippin đã lần lượt đưa ra “nguyên tắc an ninh”, “nguyên tắc khoảng cách gần” hòng chiếm đóng lâu dài ở Trường Sa, đồng thời còn lấy cớ về “đất vô chủ”, hoàn toàn không xem xét đến lịch sử mà Trung Quốc đã phát hiện, khai tác vả quản lý Nam Sa hàng nghìn năm, trong những năm 1946-1947 Trung Quốc còn trắc địa đo vẽ và đặt lại tên đối với toàn bộ Nam Hải và các đảo thuộc Nam Hải, đồng thời vạch rõ ranh giới trên biển. Chỉ do hải quân Trung Quốc lúc đó chưa đưa quân đóng trên tất cả các đảo nên mới để cho Philippin có dịp để lợi dụng. Trên thực tế, dù xét từ lý luận theo luật quốc tế hay thực tiễn thì cách Philippin lấy “nguyên tắc an ninh”, “nguyên tắc khoảng cách gần” làm căn cứ để có thể tranh thủ được lãnh thổ cũng đều không có lý do, hơn nữa định nghĩa về “đất vô chủ” theo luật quốc tế cũng tương đối rõ ràng. Quan điểm của Philippin có thể nói căn bản không đáng để phản bác. 2/ Tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam Việt Nam (trước năm 1975 là Nam Việt Nam) là nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Được sự ủng hộ của Mỹ, nhà cầm quyền Nam Việt Nam do Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn đứng đầu từ những năm 50 thế kỷ 20 đã nhiều lần xâm chiếm quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Năm 1956, Chính phủ miền Nam Việt Nam đưa quân chiếm các đảo San Hô, đảo Cam Tuyền thuộc quần đảo Tây Sa. Trong cùng năm, quân đội Nam Việt Nam đã xâm nhập đảo Nam Uy thuộc quần đảo Nam Sa, đồng thời tuyên bố có chủ quyền truyền thống đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa. Hoạt động của Chính phủ Vịêt Nam những năm 1970 đã đạt đến cực điểm, từ đó đã dẫn đến trận chiến bảo vệ Tây Sa năm 1974, nhưng hoạt động của Nam Việt Nam ở Nam Hải vẫn không vì thế mà dừng lại. Sau khi thống nhất hai miền Nam Bắc năm 1975, Chính phủ Việt Nam, không những đưa quân trực tiếp nhận các đảo ở Nam Sa vốn do nhà đương cục Sài Gòn trước đây chiếm đóng, mà còn đưa các quần đảo Tây Sa và Nam Sa vào bản đồ của họ, đổi tên thành “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa”. Ngoài ra, Chính phủ Vịêt Nam còn tăng cường các cơ sở quân sự trên đảo hòng lấy đó làm cứ điểm, chiếm nhiều đảo hơn ở Nam Sa, hành động của Việt nam khiến Chính phủ và nhân dân Trung Quốc cảnh giác và vì thế đã dẫn đến cuộc hải chiến 14/3/1988. Trước hành động xâm chiếm Nam Hải (Biển Đông) của các nước láng giềng, Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố phản đối nghiêm khắc. Ngày 15/8/1951, trong “Tuyên bố vè dự thảo hoà ước Mỹ-Anh đối với Nhật Bản và Hội nghị San Francisco”, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nói rõ: “Quần đảo Tây Sao và đảo Nam Uy cũng là lãnh thổ của Trung Quốc giống như toàn bộ các quần đảo Nam Sa, Đông Sa và Trung Sa,… sau khi Nhật Bản đầu hàng đã được Chính phủ Trung Quốc lúc đó tiếp nhận toàn bộ”. Ngày 29/5/1956, trước tuyên bố của Chính phủ Philippin rằng quần đảo Nam Sa lẽ ra thuộc về Philippin, Chính phủ Trung Quốc đã ra tuyên bố nghiêm khắc: “Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có chủ quyền hợp pháp không thể tranh cãi đối với các đảo này”, “tuyệt đối không cho phép cá nhân và quốc gia nào được xâm phạm dưới bất cứ danh nghĩa nào và với bất cứ phương thức nào”.Chính phủ Trung Quốc sau đó cũng nhiều lần nhấn mạnh: Quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa là “thuộc về Trung Quốc”, “là lãnh thổ của Trung Quốc”. Đồng thời, trước những chứng cứ lịch sử và pháp lý mà Chính phủ Việt Nam đưa ra để khẳng định chủ quyền ở Biển Đông, các học giả Trung Quốc cũng đã lên tiếng phản bác. Trước hết, đối với thái độ của quan chức Việt Nam về chủ quyền ở Biển Đông, Chính phủ và học giả Trung Quốc đã phản bác theo nguyên tắc “cấm phản ngôn”, cái gọi là Việt Nam có căn cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền ở “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa” cũng bị các học giả Trung Quốc bác bỏ như vậy. Đồng thời khi chủ quyền ở Nam Hải bị xâm phạm nghiêm trọng, hải quân Trung Quốc đã chống lại, đẩy lùi kẻ xâm lược, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Ngoài ra, các nước Inđônêxia, Malaixia, Brunây cũng lợi dụng ưu thế tưoơg đối về địa lý của họ, đã ngấm ngầm chiếm lĩnh vùng biển và các đảo ở Nam Hải gần nước họ với quy mô nhỏ, đồng thời đã khai thác để thu lợi ích kinh tế. II- Tranh chấp Biển Đông sau khi có “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” Trước khi có “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” năm 1982, tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông) chủ yếu xảy ra giữa ba nước Trung Quốc, Philippin và Việt Nam, phạm vi ảnh hưởng tương đối hẹp, trọng điểm tranh chấp chủ yếu là các đảo ngoài Biển Đông. Sau khi “Công ước luật biển” ra đời, nhất là bước vào thập niên 1990, tranh chấp quyền và lợi ích biển liên quan đến khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa bắt đầu trở thành trọng điểm được các nước quan tâm. Một dân tộc không có được quyền kiểm soát biển sẽ không phải là dân tộc mạnh. Đối với Trung Quốc là dân tộc đang phục hưng trỗi dậy thì biển là trọng tâm, quyền kiểm soát biển là hết sức quan trọng, vì thế Trung Quốc cần phải chuyển trọng tâm chiến lược ra biển. 1/ “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” và thay đổi tranh chấp ở Nam Hải Ngày 30/4/1982, “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” được thông qua tại Hội nghị biển Liên hợp quốc lần thứ ba, và chính thức có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Công ước bao gồm 17 phần, tổng cộng có 320 điều, 9 văn kiện bổ sung và một nghị định thư cuối cùng. Nội dung chính của Công ước là: Xác định chiều rộng lãnh hải của một quốc gia không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở; Mỗi quốc gia có quyền có vùng đặc quyền kinh tế ngoài vùng lãnh hải không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở; Thềm lục địa của nước ven biển bao gồm toàn bộ phần kéo dài tự nhiên ngoài lãnh hải theo lãnh thổ đất liền của nước đó, cho đến vành ngoài của lục địa, xa nhất có thể kéo dài đến 350 hải lý, nếu nước nào không đến 200 hải lý thì mở rộng đến 100 hải lý v.v… Có thể nói “Công ước lật biển” là pháp luật biển quốc tế hoàn chỉnh nhất và công bằng nhất tính cho đến nay, hầu như đề cập đến tất cả mọi vấn đề về sử dụng biển của con người, phản ánh đòi hỏi của đại đa số các nước ven biển, nhất là các nước thuộc về thế giới thứ ba, do đó đã được ủng hộ rộng rãi. Việc Công ước có hiệu lực đã đánh dấu trật tự thế giới mới về biển được xác lập và thời đại mới về các công việc biển quốc tế đã đến. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á xung quanh Nam Hải đã đơn phương tuyên bố thực thi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa 200 hải lý, ngang nhiên cưỡng chiếm vùng biển nam Hải, đồng thời muốn thông qua cái gọ là “nguyên tắc về khu đặc quyền kinh tế” và “nguyên tắc thềm lục địa” để làm cớ chiếm lĩnh các đảo ở vùng biển liên quan. Sự kiện bãi Mỹ Tế (bãi đảo Vành Khăn – Mischief Reef), sự kiện đảo Hoàng Nham (Scarborough Shoal), vấn đề về Khu hợp đồng dầu mở “Vạn An Bắc-21” đã chứng minh điểm này. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, khi khơi lên sự kiện bãi đảo Mỹ Tế và sự kiện đảo Hoàng Nham, Philippin đã tuyên bố “bãi Mỹ Tế và đảo Hoàng Nham là thuộc phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Philippin”, Chính phủ Việt Nam cũng tuyên bố “Khu hợp đồng dầu mở “Vạn An Bắc – 21” là “nằm trên thềm lục địa của Việt Nam””. Nhưng theo quy định của “Công ước Liên hợp quốc tế về biển” thì vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đều lấy việc hoạch định biên giới làm cơ sở, từ trước đến nay đều chỉ lấy lãnh thổ đất liền làm căn cứ để phân định vùng biển chứ không phải ngược lại. Cho đến nay các đảo ở Nam Hải đã bị các nước Việt Nam, Philippin, Inđônêxia, Malaixia, Brunây, Trung Quốc kiểm soát, sau đó lại có thêm nhà cầm quyền Đài Loan chiếm hòn đảo lớn nhất ở Nam Sa là đảo Ba Bình, toàn bộ tranh chấp ở Nam Hải đã cho thấy rõ thế tương quan “6 nước 7 bên” trong tranh chấp Nam Hải. 2/ Khiếm khuyết từ bản thân “Công ước luật biển” và tính chất phức tạp trong vấn đề Nam Hải Sau khi “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” ra đời, vấn đề Nam Hải càng trở nên phức tạp, vấn đề này có liên quan đến những bất cập trong bản thân “Công ước luật biển” và tính chất phức tạp của vấn đề Nam Hải, cụ thể được biểu hiện qua những mặt sau: a) Định nghĩa không rõ ràng về đảo. Theo qui định của Điều 121 trong “Công ước” thì “đảo là khu vực đất liền được hình thành bởi bốn mặt có nước bao quanh và cao hơn mặt nước khi nước thuỷ triều lên cao”, nhưng cũng đồng thời quy định “ngoài những bãi đá không thể duy trì cuộc sống con người hoặc bản thân bãi đá đó không có điều kiện kinh tế để duy trì cuộc sống thì lãnh hải, vùng giáp ranh, khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo sẽ được xác định theo quy đinh của bản Công ước áp dụng cho vùng lãnh thổ đất liền khác”. Nam Hải có nhiều đảo nhưng phần lớn diện tích đảo – bãi đá chỉ dưới 0,1 Km vuông, một số nước đã áp dụng các biện pháp nhân tạo như di dân và vận chuyển vật tư đến một số đảo bãi đá nhỏ để làm cho các đảo – bãi đó đạt đủ tiêu chuẩn phù hợp với Công ước về việc “duy trì có người ở hoặc có đủ điều kiện kinh tế duy trì cuộc sống trên đảo đó” để được hưởng lợi ích biển. Nếu không sửa chữa các định nghĩa về đảo cho cụ thể hơn thì địa vị của rất nhiều đảo bãi đá nhỏ ở Nam Hải sẽ khó xác định, tranh chấp lợi ích biển cũng sẽ khó được dịu bớt. b) Quyền và lợi ích lịch sử của các nước có phần không được bảo vệ đầy đủ. Xuất phát từ thực tiễn luật biển nói chung, “Công ước” đã xác định quy chế về lãnh hải, khu vực giáp ranh, khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cũng đã có một số giải thích về lợi ích mang tính lịch sử của các nước, ví dụ như Khoản 7 Điều 12, Khoản 6 Điều 10, Điều 15 v.v…, nhưng trong thực tiễn, một số nước thường bỏ qua điểm này. Lấy ví dụ như trong vấn đề Nam Hải, xét từ góc độ lịch sử thì Trung Quốc đã sớm phát hiện và khai thác Nam Hải trong hàng nghìn năm trước, có quyền và lợi ích mang tính lịch sử ở Nam Hải, đó là quyền và lợi ích mà Trung Quốc đã có, các nước khác không thể tước đoạt. “Công ước” dù nhiều dù ít đã làm mờ nhạt cách giải thích và nói rõ những nội dung này, trong khi những nội dung giải thích như vậy lại có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp ở Nam Hải. c) Những cơ sở do con người xây dựng ở các đảo – bãi đá chưa có những ràng buộc tương ứng về mặt văn bản, điều này chủ yếu được thể hiện ở quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Quần đảo Nam Sa được tạo nên bởi hơn 200 đảo – bãi đá rất nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo Ba Bình diện tích cũng không quá 0,43 Km vuông, rất nhiều đảo-bãi đá nhỏ diện tích không đến 0,1 Km vuông. Để giữ cho được “thành quả” của mình ở Nam Hải, các nước như Việt Nam, Philippin, Malaixia v.v… đã xây dựng nhiều công trình cơ sở ở các đảo-bãi nhỏ, xây dưnbgj để bảo vệ bờ biển, xây dựng doanh trại quân đội hoặc các cơ sở quân sự khác, lâu dần những công trình xây dựng này sẽ trở thành một phần của đảo, nhưng những cơ sở như vậy lại không hoàn toàn ngang tầm với các đảo do con người tạo ra ở khu đặc quyền kinh tế. “Công ước” cũng không có những quy định nghiêm ngặt đối với những cơ sở như vậy, nhưng khi đã được hoàn thiện, chúng cũng nhờ thế mà trở thành một loại công trình mang tính chất vĩnh viễn. Từ đó, khó khăn trong việc xác nhận chủ quyền ở những đảo – bãi như vậy sẽ tăng lên. d) Vai trò quan trọng về vị trí đại lý của bản thân các đảo và nguồn tài nguyên phong phú ở các đảo sẽ làm cho tranh chấp ở Nam Hải phức tạp hơn. Nam Hải nằm ở vị trí đầu mối của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trở thành đối tượng quan tâm của các nước lớn, nhất là đối với những nước phải lệ thuộc nghiêm trọng vào vận tải đường biển như Mỹ và Nhật Bản thì an ninh và tự do hàng hải ở Nam Hải có liên quan đến lợi ích thiết thân của họ. Các nước nhỏ trong khu vực cũng muốn dựa vào sức mạnh nước lớn ở bên ngoài để giữ được lợi ích đã có của họ, đồng thời đạt được mục đích cân bằng sức mạnh khu vực. Mặt khác, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đã phát triển nhanh chóng trong tiến trình xây dựng cộng đồng an ninh khu vực, ngày 22/7/1992 Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 25 đã thông qua bản “Tuyên bố chung của khối ASEAN về vấn đề Biển Đông”, đây là lần đầu tiên ASEAN tiến hành hợp tác trong vấn đề này, đồng thời áp dụng lập trường chung, dẫn đến sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Rõ ràng các nước ASEAN đã thông qua hợp tác để tăng cường mạnh mẽ quyền phát ngôn của họ trong vấn đề tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Ngoài ra, bản tuyên bố chung nói trên ra đời cũng có nghĩa rằng vấn đề tranh chấp ở Nam Sa đã bị các nước ASEAN quốc tế hoá, như vậy lại càng khiến cho vấn đề trở nên phức tạp và khó giải quyết hơn. Toàn cầu hoá kinh tế đã làm sâu sắc thêm mức độ lệ thuộc lẫn nhau giữa các nước và giữa các nước với các tổ chức quốc tế, đã hình thành các mối quan hệ đan xen giằng níu và kiềm chế lẫn nhau. Trong bối cảnh đó muốn thực hiện hai bên cùng thắng và cùng sống chung, muốn giải quyết vấn đề mang tính toàn cầu mà các bên cùng phải đối mặt, bảo vệ hoà bình ổn định khu vực châu Á – Thái Bình Dương, các nước phải tăng cường hợp tác quốc tế, trong hợp tác có cạnh tranh, thông qua cạnh tranh để tiếp tục đẩy mạnh hợp tác. Việc “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” được công bố và thực thi đã cung cấp căn cứ pháp lý và nguyên tắc chỉ đạo nhất định trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông. Vì thế các nước cần coi trọng hợp tác quốc tế, lấy “Công ước luật biển” và pháp luật quốc tế làm chỗ dựa, thông qua hiệp thương hoà bình giải quyết tranh chấp, đó mới là con đường tốt nhất để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. III- Giải quyết tranh chấp Biển Đông theo cơ chế của “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” Thúc đẩy hợp tác quốc tế, nhưng phải tìm kiếm biện pháp ngăn chặn thách thức đơn phương, giữ gìn trật tự pháp trị quốc tế phát triển ổn định, yêu cầu đặt ra nói trên đã trở thành đề tài mới mà nền pháp trị quốc tế hiện nay phải đối mặt. Đặc điểm lớn nhất của “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” ở chỗ đây không phải là một nhóm điều khoản chết, không tước bỏ không gian hợp lý được tạo ra một cách sáng tạo cho các nước trên cơ sở hiệp thương hoà bình. Tuy nhiên ở mức độ rất lớn, việc Công ước luật biển được thực thi đã chỉ đem lại tinh thần và khuôn khổ mà các nước cần tuân thủ. Dù sao, Công ước vẫn có ý nghĩa tích cực trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là giải quyết tranh chấp quyền lợi biển và ngăn chặn hành động khiêu khích đơn phương trong hợp tác quốc tế. Trong giải quyết tranh chấp Biển Đông, Chính phủ Trung Quốc có thể căn cứ theo nguyên tắc hữu quan trong Công ước, kết hợp với thực tế tranh chấp, giải quyết vấn đề một cách hoà bình. 1/ Ý nghĩa tích cực của “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” a) Công ước luật biển nhấn mạnh lấy “Hiến chương Liên hợp quốc” làm căn cứ, áp dụng phương thức hoà bình để giải quyết tranh chấp. Điều 279 trong phần 15 về “giải quyết tranh chấp” quy định: “Các nước ký kết cần căn cứ theo Mục 3 Điều 2 trong ‘Hiến chương Liên hợp quốc’ để giải quyết bằng biện pháp hoà bình tất cả mọi tranh chấp theo cách giải thích hoặc vận dụng thích hợp trong Công ước luật biển, đồng thời giải quyết bằng biện pháp như đã chỉ rõ theo Mục 1 Điều 23 trong ‘Hiến chương’ vì mục đích này”. Như vậy rất rõ ràng, tôn chỉ lập pháp của “Công ước luật biển” là giải quyết hoà bình những tranh chấp lợi ích biển giữa các khu vực, bảo vệ hoà bình và ổn định của khu vực. Điềunày như vậy là thống nhất với tôn chỉ của “Hiến chương Liên hợp quốc” và các luật pháp quốc tế khác, nhấn mạnh thông qua các phương thức “đàm phán, điều tra, điều đình, hoà giải, ở giữa phân giải, trình tự tư pháp, cơ quan khu vực hoặc biện pháp khu vực”… để giải quyết tranh chấp. Điều này cũng đã thể hiện ý đồ lập pháp đầu tiên: Không chỉ phải bảo vệ lợi ích biển của các nhà nước mà còn phải đảm bảo hoà bình thế giới. b) Công ước luật biển nhấn mạnh tính tự chủ của các bên trong giải quyết tranh chấp. Điều 280 trong Công ước quy định “Công ước không được gây tổn hại cho lợi ích của bất cứ nước ký kết nào tự hiệp thương với nhau tìm kiếm bất cứ biện pháp hoà bình nào để giải quyết tranh chấp theo cách giải thích hoặc áp dụng thích hộp như trong Công ước vào bất cứ lúc nào”. Theo cách giải thích của Công ước thì thoả thuận giữa các bên liên quan có tính quyền uy cao hơn Công ước, đây chính là không gian rộng mở mà Công ước dành cho các nước để hiệp thương hữu nghị và có cách giải quyết sáng tạo hợp lý với nhau. Công ước là một bộ luật áp dụng thích hơp trong phạm vi toàn cầu, nhưng tình hình biển ở các khu vực lại khác nhau, lịch sử, văn hoá khác nhau, các nước có thể tự do, tìm cách giải quyết tranh chấp một cách linh hoạt theo nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại, vừa không đi ngược lại nguyên tắc công bằng, chính nghĩa đã được quốc tế công nhận, cũng vừa đảm bảo được lợi ích của mỗi bên. Trên thực tế, dù là “Hiến chương Liên hợp quốc” hay các luật quốc tế hiện đại khác cũng đều nhấn mạnh biện pháp các nước tự giải quyết, tranh chấp khu vực để cho khu vực giải quyết, thể hiện nguyên tắc chủ quyền quốc gia đã được pháp luật quốc tế công nhận. 2/ Một số mặt Trung Quốc cần chú trọng trong giải quyết tranh chấp Biển Đông a) Nhìn thẳng vào tính chất tương đối về chủ quyền quốc gia, hoàn thiện cơ chế đối thoại giải quyết tranh chấp. Từ lâu nay các nước tranh giành nhau chiếm đảo, chia phần ở vùng biển Nam Hải, đề xuất chủ quyền của mỗi bên theo cách loại bỏ nước khác, gây trở ngại cho việc giải quyết tranh chấp. Nhà nước cần nhận thức đúng đắn về nguyên tắc chủ quyền quốc gia, rằng trên thực tế chủ quyền quốc gia có tính tương đối. Điều này có nghĩa chủ quyền quốc gia chế ước lẫn nhau, hành xử chủ quyền quốc gia phải tôn trọng chủ quyền của nước khác, xuất phát từ lợi ích bản thân hoặc lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, các quốc gia có thể nhượng bộ nhau một phần quyền lợi hoặc một phần quyền lực của mình. Năm 2001, Trung Quốc và các nước ASEAN đã cùng ký kết bản “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, đó chính là đx thể hiện tính chất tương đối về chủ quyền quốc gia, đánh dấu cơ chế đối thoại khu vực được triển khai xung quanh vấn đề Biển Đông đã sơ bộ được thiết lập. Thực tế chứng minh nếu quốc gia chủ quyền quá nhấn mạnh đến chủ quyền quốc gia sẽ đem lại vấn đề mắc mớ trong hợp tác. Chỉ khi nào các nước thực sự dừng lại bất cứ biện pháp nào gây bất lợi cho tình hình ổn định ở Biển Đông thì khi đó mới tạo ra được điều kiện tiên quyết để giải quyết tranh chấp Biển Đông. Với tư cách là nước lớn ở khu vực, Trung Quốc cần phát huy vai trò đi đầu thúc đẩy giải quyết tranh chấp khu vực. Đối thoại hiệp thương đã trở thành hướng đi chính để bảo vệ chảu quyền quốc gia. Trên cơ sở “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông”, Trung Quốc cần triển khai đối thoại với các nước liên quan, nhìn trực diện vào tính chất tương đối về chủ quyền quốc gia, cùng hoàn thiện giải quyết cơ chế đối thoại giải quyết tranh chấp Biển Đông để các nước có thể tôn trọng một cách hữu hiệu cam kết của mỗi bên trong tương lai, tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục giải quyết vấn đề Biển Đông. b) Xác định hiệp ước đa phương là cơ sở, tăng cường hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế vừa là quyền lợi, cũng vừa là nghĩa vụ của quốc gia. “Hiến chương Liên hợp quốc” năm 1945 đã quy định ngay từ trong tôn chỉ: “Thúc đẩy đi đến hợp tác quốc tế, giải quyết các vấn đề quốc tế mang tính chất phúc lợi về kinh tế, xã hội, văn hoá và con người trong cộng đồng quốc tế”. Bản “Tuyên bố nguyên tắc luật quốc tế” năm 1970 đã đưa “nghĩa vụ hợp tác hữu nghị giữa các nước theo ‘Hiến chương Liên hợp quốc’” vào làm một trong những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. “Tuyên bố Henxinhki” năm 1975 cũng đưa “hợp tác giữa các nước” vào làm một trong mười nguyên tắc để được quy định và xác nhận. Ngoài ra, các hiệp ước đa phương như “Hiến chương nghĩa vụ, quyền lợi kinh tế của các nước” cùng bản “Tuyên ngôn và cương lĩnh hành động Viên” cũng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, là sự đảm bảo quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển chung giữa các nước. Thực tiễn trong cộng đồng quốc tế đã cho thấy rõ xu hướng phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu trong hợp tác quốc tế, hơn nữa hợp tác quốc tế đã không chỉ hạn chế trong hợp tác quốc tế, mà hơpj tác giữa các thành viên trong cộng đồng quốc tế cũng trở thành nhu cầu và đòi hỏi hiện thực. Chúng ta cần xác định những hiệp ước đa phương nói trên là cơ sở, tăng cường hợp tác quốc tế, tuân thủ nghiêm túc “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, tích cực đẩy mạnh giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Nói tóm lại, trong khi mỗi bên theo đuổi lợi ích quốc gia của mình, Trung Quốc cũng cần quan tâm lợi ích của nước khác và lợi ích tổng thể cảu cộng đồng quốc tế, thông qua phương thức hợp tác quốc tế để làm cho lợi ích các bên phát triển hài hoà. c) Điều chỉnh chính sách ngoại giao, xác định mục tiêu và dự kiến đàm phán ngoại giao hợp lý. Để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc cần điều chỉnh chính sách ngoại giao truyền thống theo cùng thời đại, ví dụ như nội hàm chính sách ngoại giao “không liên kết” truyền thống của Trung Quốc cần phản được phân định lại cho phù hợp với đòi hỏi của cơ chế hợp tác khu vực trên cơ sở lợi ích chung, phát triển chung và an ninh chung. Trên cơ sở điều chỉnh chính sách ngoại giao, thông qua đàm phán để có được lợi ích biển hợp pháp là con đường tốt nhất. Vì thế việc tăng cường nghiên cứu kỹ năng và nghệ thuật đàm phán, xác lập mục tiêu đàn phán và dự kiến thời điểm đàn phán sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết nhanh chóng tranh chấp Biển Đông. Ngoài ra, quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đang ở giai đoạn phát triển tốt lên, trong bối cảnh đó cần tranh thủ thời cơ, đẩy nhanh đàm phán để cho việc hoạch định biên giới trên biển cũng được giải quyết hữu hiệu giống như giải quyết phân giới trên bộ, tích cực đẩy mạnh, củng cố và ổn định quan hệ song phương. d) Nghiên cứu toàn diện vấn đề Nam Hải, chuẩn bị điều kiện để có được thế chủ động trên bàn đàm phán trong tương lai. Công ước Liên hợp quốc về luật biển có nội dung phong phú, dường như bao quát tất cả mọi phương diện như khai thác, sử dụng và quản lý biển, dù là xuất phát từ các quy định chung hay giải quyết tranh chấp, Trung Quốc cũng đều phải nghiên cứu kỹ, nhất là trong xử lý tranh chấp lợi ích biển với các nước láng giềng. Công ước luật biển sẽ là công cụ tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích biển của mình. Trung Quốc đã có lịch sử hàng nghìn năm khai thác và quản lý biển, những ghi chép trong lịch sử lưu truyền cho đến nay về Nam Hải rất phong phú. Trong khi Việt Nam chủ trương có chủ quyền lịch sử đối với các quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa), Trung Quốc cũng đồng thời phải đối chọi trực diện không khoan nhượng, xét theo kinh nghiệm lịch sử thì yếu tố này hết sức có hiệu quả. Một điều cũng đồng thời hết sức cần thiết là tăng cường điều tra nguồn tài nguyên môi trường biển, sau khi đã có toàn bộ tư liệu, trên bàn đàm phán lúc đó mới giành được thế chủ động; Điều tra nguồn tài nguyên môi trường biển còn có điểm lợi khác là giúp cho Chính phủ Trung Quốc đưa ra được quyết sách đúng đắn trong việc khai thác phát triển Nam Hải. Tất cả đều biết Nam Hải cách xa đất liền, khai thác có nhiều khó khăn, hiểu biết rõ nguồn tài nguyên môi trường ở Nam Hải có thể giúp nâng cao hiệu quả khai thác phát triển trong tương lai, đồng thời có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc Trung Quốc xử lý vấn đề về khu đặc quyền kinh tế với các nước xung quanh. * * * Báo “Quốc phòng Trung Quốc” số ra ngày 19/4 đăng bài viết của tác giả Lâm Hà về “Toan tính của các bên phía sau tranh chấp Nam Hải (Biển Đông)”. Nội dung bài báo như sau: Theo báo “Philippine Star”, Bộ trưởng Ngoại giao Philippin Albert Del Rosario gần đây đã có chuyến thăm Việt Nam và hội đàm với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn DŨng. Hai bên đều bày tỏ sẽ không sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Biển Đông, đồng thời kiến nghị đặt ra một quy định pháp luật có sức ràng buộc, tránh dẫn tới xung đột. Cùng thời điểm đó, Kênh truyền hình cáp CNN đưa tin ngay tới đây Mỹ có thể sẽ điều quân đến Ôxtrâylia để tiếp cận được Biển Đông tiện lợi hơn. Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Robert Willard cho biết Ôxtrâylia tỏ ra rất lạc quan về việc Mỹ gia tăng hoạt động quân sự ở nước này. Nhiều nhà phân tích quốc tế cũng cho rằng một số nước ASEAN có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ở Biển Đông thời gian gần đây đang xích lại gần nhau, trong khi đó Mỹ cũng công khai can thiệp vào vấn đề Biển Đông. Nhìn bề ngoài, các lực lượng kể trên dường như có khuynh hướng “đoàn kết”, tuy nhiên giữa các nước ASEAN với nhau cũng như giữa các nước này với Mỹ trên thực tế mỗi bên đều có ý đồ riêng trong vấn đề Biển Đông. Nội bộ các nước ASEAN cũng tồn tại tranh chấp đảo Theo báo chí nước ngoài, tranh chấp lãnh thổ giữa các nước thành viên của ASEAN, đặc biệt là tranh chấp chủ quyền đối với các đảo và phân định biên giới trên biển đã tồn tại từ nhiều năm nay. Mặc dù một số tranh chấp đã được giải quyết thông qua trọng tài quốc tế, nhưng những ký ức lịch sử về sự không hữu hảo vẫn chưa được xoá bỏ, đôi khi còn biến thành sự kiện ngoại giao. Vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các đảo Sipadan và Ligitan giữa Malaixia và Inđônêxia từ những năm 60 của thế kỷ trước xảy ra liên tục, tháng 5 năm 1997 hai bên đã đưa vấn đề này ra Toà án Quốc tế chờ phân xử. Năm 2002, Toà án Quốc tế phán quyết chủ quyền hai hòn đảo kể trên thuộc về Malaixia bởi nước này đã quản lý chúng suốt một thời gian dài nhưng Inđônêxia không có ý kiến kháng nghị gì. Sự việc đương nhiên không vì thế mà kết thúc. Bởi Inđônêxia hết sức quan tâm vấn đề chủ quyền lãnh hải, hai bên đã nhiều lần xảy ra tranh chấp tại vùng biển kể trên. Theo thống kê, tranh chấp biển giữa hai nước năm 2009 lên tới 14 vụ. Ngày 13/8/2010, tranh chấp lãnh hải giữa Inđônêxia và Malaixia lại xảy ra, 5 tàu cá của Malaixia xâm nhập, đánh cá ở vùng biển gần đảo Bintan của Inđônêxia bị Đội tuần tra của Bộ Ngư nghiệp và Hải vụ nước này bắt gọn, trong đó 7 ngư dân Malaixia bị bắt đưa về xét hỏi. Đội Hành động hải sự của Malaixia ngay sau đó đã bắt 3 nhân viên thuộc Đội tuần tra của Inđônêxia. Sau khi sự việc xảy ra, Chính phủ và báo chí mỗi bên nói một kiểu, đều tuyên bố vụ việc xảy ra tại vùng biển của nước mình. Tại Inđônêxia thậm chí còn xảy ra biểu tình “chống Malaixia”, một số người biểu tình còn đốt cờ Malaixia và đe doạ sẽ cạo trọc đầu người Malaixia, sau đó sẽ trục xuất về nước. Sự việc cứ căng thẳng như vậy cho đến khi lãnh đạo hai nước phải ra mặt kêu gọi giải quyết vụ việc thông qua con đường ngoại giao. Giữa Malaixia và Xinhgapo cũng tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với đảo Batu. Đảo Batu vốn thuộc về lãnh thổ của Vương quốc Johore, sau đó bị nước Anh chiếm vào thập kỷ 40 của thế kỷ 19, đồng thời xây dựng trên đó một ngọn hải đăng vào năm 1951 và giao cho Xinhgapo quản lý. Bản đồ xuất bản năm 1980 của Malaixia đã đưa đảo Batu vào lãnh thổ của nước mình lại khiến hai bên tranh chấp. Năm 1994 hai nước đồng ý đưa vấn đề đảo Batu lên Toà án Quốc tế La Hay để giải quyết. Tháng 5 năm 2005, cơ quan này đã phán quyết hòn đảo kể trên thuộc chủ quyền của Xinhgapo. Việt Nam tuyên bố có “chủ quyền” đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa, đương nhiên sẽ có tranh chấp quyền sở hữu các đảo với các nước khác như Philippin và Malaixia… Thêm vào đó, Việt Nam còn hoạch định phần lớn vùng Biển Đông vào phạm vi thềm lục địa của họ nên cũng có tranh chấp, với các nước Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Campuchia trong phân định biên giới trên biển. Ngoài ra, giữa Philippin và Inđônêxia cũng xảy ra tranh chấp chủ quyền đối với các đảo liên quan. Các nhà phân tích quốc tế cho rằng tranh chấp giữa các quốc gia ASEAN tại Biển Đông và vùng biển xung quanh “từ xưa đến nay chưa bao giờ ngừng”, nhưng vẫn phải thấy rằng các nước như Việt Nam, Philippin, Malaixia đôi khi cũng có thể gác lại tranh chấp để có được lợi ích lớn hơn. Trong vấn đề Biển Đông, lập trường hoàn toàn không thống nhất Các nhà phân tích quốc tế cho rằng vấn đề Biển Đông rối rắm phức tạp, liên quan tới Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan, Việt Nam, Philippin, Malaixia, Inđônêxia, Brunây, được gọi là “6 nước 7 bên”. Trong đó, Việt Nam chiếm 29 đảo tại Trường Sa, Philippin chiếm 9 đảo, Malaixia chiếm 5 đảo, Inđônêxia và Brunây chưa chiếm đảo nào, nhưng đã hoạch định vô lý vùng biển thuộc quần đảo Natuna, cái gọi là “Khu phát triển hiệp định” đã xâm phmạ vào bên trong đường phân giới biển truyền thống của Trung Quốc tới 50.000 km2. Trong khi đó, Brunây lại đưa ra đòi hỏi “chủ quyền” đối với đảo ngầm Nam Thông, đồng thời tăng cường kiểm soát và khai thác đảo ngầm và vùng biển phụ cận của đảo ngầm này. Do bất đồng về lợi ích giữa các nước ASEAN, nên chính tình trạng này đã phản ánh lập trường trong vấn đề Biển Đông không phải lúc nào cũng thống nhất. Một số người tại Việt Nam và Philippin có ý định nâng vấn đề Biển Đông thành vấn đề giữa ASEAN và Trung Quốc, muốn cột chặt vấn đề Biển Đông lên “đoàn tàu” ASEAN, dựa vào hợp lực của ASEAN để làm hậu thuẫn cho được cái gọi là chủ quyền của họ. Tuy nhiên, các nước ASEAN khác ngoài Việt Nam không hề quan tâm đến tranh chấp tại quần đảo Hoàng Sa, mà cũng không hứng thú với việc Việt Nam quy hoạch khu vực phía Bắc Biển Đông vào thềm lục đại của mình. Hơn nữa, do Việt Nam đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa nên đã có bất đồng với Philippin và Malaixia. Như vậy, việc các nước này đề phòng lẫn nhau cũng không có gì là lạ. Philippin và Malaixia mỗi nước đều xâm chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Sách lược của những nước này thể hiện ở chỗ: có lúc thể hiện lập trường cứng rắn theo Việt Nam, có lúc lại nhấn mạnh những điểm không nhất trí với chủ trương của Việt Nam, lập trường đó của họ thay đổi tương đối lớn , nhưng về tổng thể hoàn toàn không muốn làm cho vấn đề mở rộng hơn. Thứ trưởng Ngoại giao Philippin Erlinda Basilio trước đó không lâu đã cho rằng 10 nước thành viên ASEAN cần xác lập “Quy tắc hành vi chính thức” về vấn đề Biển Đông, không để cho tình hình tranh chấp biển đảo trở nên căng thẳng. Thủ tướng Malaixia Najib Tun Razak tỏ ý tin tưởng vấn đề chủ quyền bao gồm quần đảo Trường Sa và vùng biển phụ cận “có thể thông qua đàm phán để giải quyết”. Thái độ của Inđônêxia hiện nay cũng có thay đổi. Tháng 8/2007, Ngoại trưởng Inđônêxia công khai cho rằng Biển Đông tiềm ẩn những nhân tố dẫn đến tranh chấp, vì nhiều nước xung quanh đều tuyên bố có chủ quyền đối với một số đảo, trong khi đó Inđônêxia không có đòi hỏi chủ quyền tại khu vực này. Còn Ấn Độ gần đây cũng sốt sắng trong vấn đề Biển Đông, nhưng ở mức độ rất lớn chỉ là muốn thể hiện thân phận nước lớn khu vực của họ. Thiên đường rất xa, Trung Quốc lại rất gần Những năm gần đây, một biến số nổi bật trong vấn đề Biển Đông là việc Mỹ lớn tiếng can dự. Trong khi đó, theo nhìn nhận của các giới bên ngoài, Việt Nam rõ ràng đã là “cầu nối” để Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông. Năm 2010, giữa Việt Nam và Mỹ đã có một loạt chuyến thăm và động thái trên phương diện quốc phòng, báo chí nước ngoài nhân cơ hội này đồn thổi “Việt Nam chuẩn bị bắt tay với Mỹ kiềm chế Trung Quốc”. Các nhà phân tích quốc tế cho rằng trên thực tế thái độ của Việt Nam rất mâu thuẫn. Mặc dù quan hệ Mỹ-Việt đã được cải thiện trên không ít phương diện, nhưng đối với tương lai quan hệ hai nước, Việt Nam vẫn còn nhiều nghi ngại, như nghi ngại “diễn biến hoà bình” của Mỹ, thậm chí lo lắng quân đội Mỹ-Việt tiến gần nhau sẽ làm suy giảm khả năng kiểm soát đối với quân đội. Trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam và Mỹ đều có tính toán riêng của mỗi nước. Mỹ lấy cớ “tự do hàng hải” để can dự vào Biển Đông, nhằm mục đích lôi kéo các nước như Việt Nam là vì chiến lược toàn cầu; Việt Nam lại do có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, muốn dựa vào sự can dự của Mỹ để kiềm chế Trung Quốc. Mặc dù hai nước có tính thống nhất về nhu cầu lợi ích đó, nhưng mục tiêu cuối cùng lại quá cách biệt. Việt Nam biết rõ rằng, mình chẳng qua chỉ là một quân cờ của Mỹ tại khu vực này, chính sách Việt Nam của Mỹ chỉ là một bộ phận trong chính sách đối với Trung Quốc, nên nhất thiết phải thận trọng trong việc phát triển quan hệ với Mỹ. Trong chuyến thăm Trung Quốc hồi tháng 8/2010, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh đã bày tỏ Việt Nam không bao giờ trở thành đồng minh quân sự của Mỹ, cũng không tìm kiếm “tam giác quan hệ”, Việt Nam muốn thấy Trung Quốc phát triển. Theo báo chí Việt Nam, tại Việt Nam thịnh hành một câu nói: “Thiên đường rất xa, Trung Quốc lại rất gần”. Có tranh chấp có thể thông qua đàm phán để giải quyết, nhưng nếu làm đầy tớ của Mỹ, phá hoại đại cục quan hệ Trung-Việt sẽ lợi bất cập hại. Việt Nam như thế, các nước ASEAN khác cũng lo ngại cuốn vào cuộc tranh chấp Mỹ – Trung như vậy. Tờ “Thương báo Nam Dương” của Malaixia mới đây cho rằng “Mỹ được hoan nghênh tại Biển Đông, nhưng Oasinhton không thể quá cao hứng nhúng tay vào các công việc khu vực, làm như vậy sẽ chỉ gây thêm phiền phức chứ không giải quyết được vấn đề”. Tờ “Dân ý” của Thái Lan chỉ rõ những năm gần đây Trung Quốc đầu tư vào ASEAN nhiều nhất, đã có cơ sở vững chắc tại ASEAN. Đứng trước cuộc chơi Mỹ-Trung, các nước Đông Nam Á không có quá nhiều khả năng ngả về một phía, việc can dự quá mức của Mỹ vào vấn đề Biển Đông cũng khiến các quốc gia Đông Nam Á cảnh giác. Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN không chính thức tổ chức hồi tháng 1/2011, Ngoại trưởng Inđônêxia – nước Chủ tịch luân phiên – đã bày tỏ sự lo ngại về hành động can thiệp của Mỹ, Nhật Bản vào tranh chấp Biển Đông giữa một số nước ASEAN với Trung Quốc. Philippin là nước chịu ảnh hưởng của Mỹ rất nhiều, một số người Philippin luôn cho rằng không có sự ủng hội của Mỹ, Philippin không thể bảo vệ lợi ích của mình tại Biển Đông, nhưng những tiếng nói phản đối Mỹ can dự cũng thỉnh thoảng xuất hiện trong vài năm gần đây. Đầu tháng 8/2010, xung quanh tuyên bố can dự vào vấn đề Biển Đông của Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton, Ngoại trưởng Philippin Iberto F.del Rosario cho rằng vấn đề Biển Đông là vấn đề giữa ASEAN và Trung Quốc và chỉ hạn chế giữa ASEAN và Trung Quốc, không cần Mỹ và bất cứ bên thứ 3 nào can dự vào. Trong khi đó, một số tổ chức phi chính phủ của Philippin lại phê phán “Hiệp định thăm viếng quốc phòng” Mỹ – Philippin vẫn tồn tại khiếm khuyết, đã bật “đèn xanh” để Mỹ đóng quân vô thời hạn và tham gia các hoạt động quân sự, xâm phạm chủ quyền Philippin. * * * TTXVN (Luân Đôn 18/4) Tiến sỹ Dương Danh Huy từ Oxford, Anh, thành viên sáng lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông Nam Á, một tổ chức độc lập nghiên cứu về Biển Đông gồm các chuyên gia người Việt tại Anh, Mỹ, Pháp, Ôxtrâylia…, vừa có bài viết “Đã đến lúc chung sức cùng chống lại Trung Quốc” đăng trên trang mạng của Tạp chí “The Diplomat” vừa qua đánh giá về những sóng gió mới đây tại Biển Đông giữa Philippin và Trung Quốc, đồng thời kiến nghị một số giải pháp cho các nước nhỏ cùng có tuyên bố chủ quyền một phần tại Biển Đông trước đòi hỏi chủ quyền thái quá của Trung Quốc. Dưới đây là nội dung bài viết: Tin tức trong tháng qua về việc Philippin đã phải ngừng khảo sát tại khu vực Bãi Cơ Rong ngoài khơi đảo Palawan của nước này sau khi hai tàu tuần tra Trung Quốc đe doạ một trong các tàu khảo sát địa chấn của Philippin, đã nhấn mạnh tới sự tiềm tàng của xung đột tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Sự khẳng định ngày càng lớn của Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn Biển Đông, trong khi các nước nhỏ hơn có tranh chấp như Philippin, Malaixia, Brnây, Inđônêxia, Việt Nam, lại không có tiếng nói chung hay sức mạnh tập thể, đã làm gia tăng khó khăn của việc tìm kiếm một giải pháp trên Biển Đông. Đặc biệt, Philippin đã vấp phải một số sai lầm chiến lược mà tất cả các quốc gia nhỏ trong tranh chấp này có thể rút kinh nghiệm. Sai lầm thứ nhất xảy ra năm 2004 khi Philippin đã vượt mặt các nước có cùng tranh chấp trở thành nước đầu tiên ký một thoả thuận khảo sát địa chấn ở khu vực quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Thoả thuận này khiến Vịêt Nam không còn lựa chọn nào khác và đành phải miễn cưỡng tham gia, hình thành nên Thoả thuận Khảo sát Địa chấn Hỗn hợp Trên biển (JMSU) năm 2005. Tuy nhiên, JMSU sau đó lại bị Philippin chỉ trích mạnh mẽ và năm 2008, sau những tranh cãi nội bộ gay gắt, Philippin lại là nước đi đầu trong việc thông báo rằng thoả thuận JMSU sẽ không được kéo dài sau khi nó hết hiệu lực. Với việc phá vỡ những giới hạn trong năm 2004, Philippin đã huỷ hoại quan điểm đoàn kết của các quốc gai nhỏ trong tranh chấp tại Biển Đông. Sai lầm thứ hai của Philippin xảy ra năm 2009, khi Philippin không nộp hồ sơ lên Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa Liên hợp quốc về vấn đề thềm lục địa trên Biển Đông. Việt nam đã nộp báo cáo riêng về khu vực Đông Nam quần đảo Hoàng Sa và báo cáo chung với Malaixia về khu vực Tây Nam quần đảo Trường Sa. Việt Nam và Malaixia đã mời Philippin tham gia nộp báo cáo chung, nhưng Philippin từ chối. Với yêu sách về chủ quyền trên Biển Đông thông qua đường chữ U và quyền lực cứng cũng như mềm vượt trội của Trung Quốc, các nước nhỏ hơn trong cuộc tranh chấp tại Biển Đông cần biết sử dụng luật pháp quốc tế một cách phù hợp. Liên quan các tranh chấp trên biển, có hai bộ luật đặc biệt quan trọng đối với những quốc gia có đòi hỏi chủ quyền. Thứ nhất là Công ước LIên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), theo đó các đòi hỏi chủ quyền về vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa chỉ có thể xuất phát từ những đặc điểm của đất liền (có nghĩa là không phải từ những lập luận kiểu như “có chủ quyền lịch sử”). Là một thành viên tham gia ký UNCLOS, Trung Quốc buộc phải tôn trọng nguyên tắc này. Điều thứ hai phải xem xét là tập hợp các phán quyết trong quá khứ của Toà án Công lý Quốc tế. Các quyết định đó luôn luôn dành cho những đảo nhỏ như Hoàng Sa và Trường Sa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không đáng kể nếu so với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa dành cho những vùng đất có bờ biển dài hơn. Chắc chắn là sẽ không toà án quốc tế nào cho Hoàng Sa và Trường Sa khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục đại vượt ra ngoài đường trung tuyến giữa những đảo này và các bờ biển quanh đó trên Biển Đông. Hai bộ luật quốc tế nói trên cho thấy các nước có đòi hỏi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa chỉ hạn chế đòi hỏi chủ quyền trên biển liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa ở vùng biển không vượt quá đường trung tuyến giữa những đảo này và các bờ biển quanh đó trên Biển Đông, và chắc chắn là không vượt qúa 12 hải lý kể từ đảo. Bản thân điều này đã có thể được hiểu là đường chín đoạn của Trung Quốc – một yêu sách chủ quyền vượt ra ngoài đường trung tuyến – là bất hợp lý. Thêm vào đó, thực tế Hoàng Sa và Trường Sa là những vùng lãnh thổ còn đang tranh chấp và do đó, dù thế nào đi nữa, cũng không nhất thiết thuộc về Trung Quốc. Như vậy sẽ có lợi không chỉ cho các nước trong tranh chấp, mà còn cho các bên thứ ba có quyền lợi ở Biển Đông, vì đường chín đoạn của Trung Quốc sẽ bị bác bỏ. Giá như Philippin tham gia nộp báo cáo chung với Việt Nam và Malaixia, hoặc xúc tiến bộ hồ sơ riêng của họ liên quan đến Biển Đông, thì họ đã góp phần khẳng định việc sử dụng quy chế UNCLOS cho khu vực biển này. Điều đó sẽ góp phần làm nổi bật tính bất hợp lý của đường chín đoạn mà Trung Quốc đưa ra, và sẽ củng cố quyền của Philippin ở khu vực Bãi Cỏ Rong chẳng hạn. Tiếc thay, Philippin đã không làm cả hai việc này. Sai lầm thứ ba là quyết định của Philippin phản đối cả hồ sơ của Việt Nam lẫn hồ sơ chung Việt Nam – Malaixia đệ trình lên Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa Liên hợp quốc. Trong văn bản phản đối, Philippin trích dẫn các tranh chấp về các đặc điểm của vùng đất trên các đảo nhưng bỏ qua một thực tế là hải phận do Trường Sa tạo ra, vốn cấu thành nên vùng biển đang tranh chấp, là không đáng kể. Hành động của Philippin có lợi cho Trung Quốc theo hai cách. Thứ nhất, Trung Quốc không còn là nước duy nhất phản đối báo cáo chung của Việt Nam và Malaixia. Lẽ ra Trung Quốc đã có thể bị cô lập khi họ phản đối một báo cáo chung của Việt Nam, Malaixia và Philippin chẳng hạn. Tuy nhiên, thay vào đó thì Trung Quốc và Philippin lại là hai nước phản đối Vịêt Nam và Malaixia. Thứ hai, hành động của Philippin có nghĩa là Trung Quốc cũng không còn là nước duy nhất bỏ qua thực tế rằng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa do Trường Sa tạo ra không cho phép bất kỳ quốc gia nào đưa ra những yêu sách về chủ quyền trên biển với những ranh giới tuỳ tiện. Điều thú vị là, sau đó Inđônêxia đã đệ trình lên Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa Liên hợp quốc một giác thư chỉ trích phản đối của Trung Quốc. Giác thư này tuyên bố rằng “những thực thể rất xa hoặc rất nhỏ bé trên Biển Đông không tạo thành vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng”, và do đó, đường chín đoạn của Trung Quốc “rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý và tương đương với việc vi phạnm hoàn toàn UNCLOS 1982”,. Một việc còn thú vị hơn là nếu Trường Sa không có EEZ và thềm lục đại riêng, hay cùng lắm chỉ có rất ít, Philippin sẽ là nước hưởng lợi nhất so với các nước khác, do vùng chồng lấn giữa hải phận do Trường Sa tạo ra và hải phận do đường cơ sở của Philippin tạo ra sẽ được thu hẹp đáng kể nhất. Cũng sẽ không có cơ sở pháp lý để bất kỳ quốc gia nào có đòi hỏi chủ quyền đối với Trường Sa có thể tranh giành các quyền của Philippin ở khu vực Bãi Cỏ Rong. Vậy giải pháp nào là tốt nhất cho các nước nhỏ có tranh chấp tại Biển Đông trong thời gian tới? Trước hết, Philippin nên tham gia cùng Việt Nam, Malaixia và Inđônêxia trong việc khẳng định rằng Trường Sa không có EEZ hay thềm lục địa riêng, hoặc cùng lắm chỉ có rất ít. Mặc dù quan điểm đó không làm dịu được tranh chấp Trường Sa, nhưng nó có nghĩa là phần lớn không gian biển ở Biển Đông sẽ không thuộc vào vùng bị tranh chấp, và do đó sẽ thuộc về các nước nhỏ này với tư cách là EEZ và thềm lục địa do các bờ biển và đường cơ sở quần đảo trên Biển Đông tạo ra. Thứ hai, các nước nhỏ trong tranh chấp nên bắt đầu khai thác lợi thế số đông của họ. Cụ thể, tất cả đều nên ủng hộ quyền của mỗi nước có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý do đường bờ biển và đường cơ sở quần đảo trên Biển Đông tạo thành. Một bước cụ thể họ nên tiến hành là lên tiếng ủng hộ quyền của Philippin ở Bãi Cỏ Rong, của M
  3. Mây hạt nhân đầy trời lồng lộn
    Sóng sông hồng nước cạn không to
    Vẫn dã tràng xe cát biển đông
    Chỉ có sóng trong lòng người mới làm thay đổi được ?

  4. ý chỉ thái hoàng giám vát trời pháp luật
    Tội ác tày trời sao dân vẫn làm ngơ ?

  5. NẾU ĐẤT NƯỚC TA TỚI ĐÂY TIẾP TỤC KHÔNG XỬ ÁN HÀNH CHÍNH GIỐNG NHƯ 15 NĂM QUA , KHÔNG SỬ ĐƯỢC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH NÀO TRÊN TOÀN QUỐC . THÌ TỘI ÁC NÀY KHẢNG ĐỊNH LÀ DO ÔNG NÔNG ĐỨC MẠNH VÀ ÔNG NGUYỄN VĂN CHI ĐÃ ĐẺ RA VÀ NUÔI DƯỠNG , NAY ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG VÀ ÔNG NGÔ VĂN DỤ ( COI NHƯ ĐÃ ĐỀ ƠN ĐÁP NGHĨA ÔNG NÔNG ĐỨC MẠNH VÀ ÔNG NGUYỄN VĂN CHI ), NẾU TIẾP TỤC Ý THỨC TRÊN LẠI ĐƯỢC TIẾP TỤC DUY TRÙY : NHƯ VẬY THÌ HAI ÔNG ĐÃ COI NHẸ NHÂN DÂN VÀ ĐẤT NƯỚC ,KHÔNG PHẢI TẦM CỦA BẬC CHÍ NHÂN QUÂN TỬ ,CÓ CHỨNG CỨ XẤU RỒI ĐẤY :NHƯ VẬY ĐẤT NƯỚC TA CHỈ CÓ CON ĐƯỜNG XUỐNG DỐC , TỤT HẬU, TIẾP TỤC ĐẤT NƯỚC BỊ TIÊU ĐIỀU ,NHÂN DÂN LẠI LẦM THAN LÀ CÓ CƠ SỞ . ….
    NẾU CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TỚI ĐÂY MÀ ĐƯỢC XỬ, THÌ ĐẤT NƯỚC ĐÃ COI NHƯ CHUYỂN MÌNH THẬT SỰ :ĐÂY CHÍNH LÀ CHÌA KHÓA LÀ THEN TRỐT CỦA ĐỔI MỐI TƯ DUY VÀ CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM , NHƯ VẬY ĐÃ QUYẾT ĐỊNH NHIỀU VẤN ĐỀ LỚN TỐT CHO NON SÔNG ĐẤT NƯỚC VÀ NHÂN DÂN VIỆT NAM :TẤT CẢ CÁC YẾU TỐ ĐỀU PHỤ THUỘC VÀO ÔNG NGUYỄN PHÚ TRỌNG VÀ ÔNG NGÔ VĂN DỤ : NAY CHÍNH LÀ THỜI GIAN ĐỨNG TRÊN NGƯỠNG CỬA CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG HAY LÀ KẺ CÓ TỘI VỚI DÂN VỚI NƯỚC BẰNG HÀNH ĐỘNG TỐT GIÚP NHÂN DÂN VÀ ĐẤT NƯỚC HAY LÀ HÀNH VI XẤU TIẾP TỤC HẠI DÂN HẠI NƯỚC ? SẼ BIẾT NGAY THÔI ? THÀNH NHÂN HAY THÀNH QUỶ CHÍNH LÀ Ở ĐIỂM NÀY :CÂU NÓI RẤT KHÓ NGHE , SỰ THẬT THÌ SẼ MẤT LÒNG ,NHƯNG CÓ LỢI CHO DÂN CHO NƯỚC THÌ CHÚNG TÔI VẪN PHẢI NÓI ??? BẤT CHẤP DỦI DO ,NẾU CÓ SỰ TRẢ THÙ ???
    vì Dẫu hôm nay là 2/05/2011 TỨC LÀ SẮP TỚI NGÀY BẦU CỬ TOÀN QUỐC .vì bị cướp tài sản lớn chưa được trả lại MỘT ĐỒNG NÀO , TRỐN THUẾ NHÀ NƯỚC ,MUA HÀNG LẬU TIỀN TỶ,ĐÁNH NGƯỜI ,Tổ CHỨC PHUN NƯỚC PHÂN NGƯỜI TỪ NHÀ VỆ SINH CHỢ CHẢY RA VÀO HÀNG NGHÌN NGƯỜI DÂN Tại chợ Hạ long 2 do Vũ Đức Cường giám đốc công ty An hưng pla za trực thuộc thuộc công ty mẹ TNHH một thành viên 508 Quảng ninh do Thân Hà Nhất Thống làm giám đốc thuộc tổng công ty Ciencoco5do ông Thân Đức Nam làm chủ tịch hội đồng quản trị vừa qua mới được nhà nước tặng thưởng Anh hùng lao động ????gây ra từ ngày 07/12/2009 qua hàng trăm lần đơn vì do một số cán bộ ĐẢNG VIÊN TỈNH QUẢNG NINH có dấu hiệu rõ ràng thông đồng bao che cho tội phạm … Người dân lao động bị chiếm đoạt tài sản chính đáng ,vẫn không quên ngày ngày nguyền rủa DÒNG HỌ NHỮNG KẺ CƯỚP ĐOẠT và cán bộ ,Đảng viên cấp thành phố ,cấp tỉnh tại QUẢNG NINH và cả cấp trung ương :CẬY CÓ QUYỀN CHỨC THÔNG ĐÔNG, BAO CHE, CHIẾM ĐOẠT CỦA CẢI ,CÔNG SỨC , MỒ HÔI NƯỚC MẮT CHÍNH ĐÁNG CỦA NHÀ NƯỚC ,CỦA DOANH NGHIỆP, CỦA NHÂN DÂN ( hàng tỷ đồng ) ??? NGUYỀN RỦA….NGUYỀN RỦA … NGUYỀN RỦA CẢ DÒNG HỌ kẻ hại dân. hại nước……(không thể quên)…khi nào giải quyểt dứt điểm sẽ dừng làm đơn……. Cán bộ UBND tỉnh Quảng ninh ngậm miệng ăn tiền vẫn cố tình ỉm đi không giải quyết :thật là nhục nhã và đê tiện với nhân dân lao động : mặt dầy không biết xấu hổ khi phát biểu dối trá trên truyền hình và trên hội nghị , trên Quốc hội ???

  6. RẤT NHIỀU QUAN CHỨC Ở VIỆT NAM THAM NHŨNG GỬI TIỀN Ở NƯỚC NGOÀI LÀ HÀNG TRĂM TRIỆU ĐÔ-LA CÓ KHI LÀ TIỀN TỶ ĐÔ -LA . NẾU ĐỂ Ở TRONG NƯỚC NHIỀU THÌ BỊ LỘ , NẾU ĐỂ NƯỚC NGOÀI THÌ TRƯỚC SAU SẼ BỊ MẤT VÀ BỊ PHONG TỎA TÀI SẢN NHƯ TỔNG THỐNG AI –CẬP VÀ TỔNG THỐNG LY BI-A VÌ ĐỐI VỚI DÂN CỦA MÌNH LẠI ÁC QUÁ VÀ KHÁT MÁU ,DÙNG CÔNG AN TRỊ , VÌ CÓ BÓC LỘT NHÂN DÂN MỚI CÓ NHIỀU TIỀN THẾ , PHẢI NUÔI DƯỠNG THAM NHŨNG ĐỂ THỐNG TRỊ ĐẤT NƯỚC . NẾU GIÀ NÉO SẼ ĐỨT DÂY :NHÂN DÂN SẼ VÙNG LÊN, NƯỚC NGOÀI CAN THIỆP :NỘI CHIẾN SẼ XẢY RA : ĐÂY LÀ MỘT ĐIỀU ĐỐN MẠT VÀ NGU NGỐC : VÌ CHƯA HIỂU SÂU XA MỘT ĐIỀU LÀ :CÓ NHIỀU ĐỒNG TIỀN BẤT CHÍNH LÀ MANG HỌA KHÔN LƯỜNG , CÓ KHI CÒN PHẢI BỊ ĐI TÙ ,MẤT MẠNG NHƯ TỔNG THỐNG I -RẮC BỊ TREO CỔ VÀ BỊ Ô DANH , BỊ NHÂN DÂN NGUYỀN RỦA NHỤC NHÃ MUÔN ĐỜI ? ( NHƯ ÔNG LÊ ĐỨC THÚY HÔN NAY ĐƯỢC VỀ HƯU :RÚT TIỀN Ở NƯỚC NGOÀI VỀ LÀ HƠI KHÓ ĐẤY :NUỐT THÌ KHÓ TRÔI , TIÊU THÌ KHÔNG HẾT , TIẾNG ĐỜI KHÓ RỬA )
    vì Dẫu hôm nay là 1/05/2011 TỨC LÀ SẮP TỚI NGÀY BẦU CỬ TOÀN QUỐC .vì bị cướp tài sản lớn chưa được trả lại MỘT ĐỒNG NÀO , TRỐN THUẾ NHÀ NƯỚC ,MUA HÀNG LẬU TIỀN TỶ,ĐÁNH NGƯỜI ,Tổ CHỨC PHUN NƯỚC PHÂN NGƯỜI TỪ NHÀ VỆ SINH CHỢ CHẢY RA VÀO HÀNG NGHÌN NGƯỜI DÂN Tại chợ Hạ long 2 do Vũ Đức Cường giám đốc công ty An hưng pla za trực thuộc thuộc công ty mẹ TNHH một thành viên 508 Quảng ninh do Thân Hà Nhất Thống làm giám đốc thuộc tổng công ty Ciencoco5do ông Thân Đức Nam làm chủ tịch hội đồng quản trị vừa qua mới được nhà nước tặng thưởng Anh hùng lao động ????gây ra từ ngày 07/12/2009 qua hàng trăm lần đơn vì do một số cán bộ ĐẢNG VIÊN TỈNH QUẢNG NINH có dấu hiệu rõ ràng thông đồng bao che cho tội phạm … Người dân lao động bị chiếm đoạt tài sản chính đáng ,vẫn không quên ngày ngày nguyền rủa DÒNG HỌ NHỮNG KẺ CƯỚP ĐOẠT và cán bộ ,Đảng viên cấp thành phố ,cấp tỉnh tại QUẢNG NINH và cả cấp trung ương :CẬY CÓ QUYỀN CHỨC THÔNG ĐÔNG, BAO CHE, CHIẾM ĐOẠT CỦA CẢI ,CÔNG SỨC , MỒ HÔI NƯỚC MẮT CHÍNH ĐÁNG CỦA NHÀ NƯỚC ,CỦA DOANH NGHIỆP, CỦA NHÂN DÂN ( hàng tỷ đồng ) ??? NGUYỀN RỦA….NGUYỀN RỦA … NGUYỀN RỦA CẢ DÒNG HỌ kẻ hại dân. hại nước……(không thể quên)…khi nào giải quyểt dứt điểm sẽ dừng làm đơn……. Cán bộ UBND tỉnh Quảng ninh ngậm miệng ăn tiền vẫn cố tình ỉm đi không giải quyết :thật là nhục nhã và đê tiện với nhân dân lao động : mặt dầy không biết xấu hổ khi phát biểu dối trá trên truyền hình và trên hội nghị , trên Quốc hội ???
    Trung Quốc điều tra hơn 10.000 cựu công chức
    Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc (SPP) ra lệnh điều tra 10.535 cựu quan chức và công chức trong ba tháng đầu năm do những người này bị tình nghi lạm dụng quyền lực hoặc phạm pháp trong thời gian làm việc cho nhà nước.

    Cảnh sát Trung Quốc chuẩn bị tiêu hủy ma túy tại Bắc Kinh. Ảnh: People Daily.
    SPP thông báo 10.535 người này liên quan tới tới 7.910 vụ án. Đây là một phần trong nỗ lực chống tham nhũng của Bắc Kinh, Xinhua cho hay.
    Ông Bai Quanmin, người phát ngôn của SPP, nói rằng chính phủ cũng chủ trương trấn áp nạn nhận quà và đưa hối lộ. Trong ba tháng đầu năm 923 cựu quan chức và cựu công chức bị điều tra hai tội danh này.
    Ngoài việc điều tra và xét xử những người lạm dụng quyền lực để phạm pháp, SPP cũng sẽ tập trung hơn vào hoạt động giáo dục, tuyên truyền để giảm thiểu tình trạng phạm pháp trong hàng ngũ công chức nhà nước, ông Bai nói thêm.
    Minh Long

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: