Vietnam: Past & Present; SO SÁNH BIÊN GIỚI MỚI Ở KHU VỰC NAM QUAN VỚI BẢN ĐỒ CỦA QUÂN ĐỘI MỸ


VN quá khứ và hiện tại, so sánh cả diện tích lãnh thổ.

Tìm hiểu biên giới khu vực Trấn Nam Quan qua một số tài liệu lịch sử và pháp lý
1/ Trấn Nam Quan : Theo Ðại Thanh Nhất Thống Chí quyển 365, tờ 17, ghi chú về châu Bằng Tường, trong mục các ải và các cửa biên giới, Trấn Nam quan ở về phía tây nam châu Bằng Tường, cách châu này 45 lý (khoảng 18km). Người ta còn gọi là Ðại Nam quan. Bên phải và bên trái cửa quan là núi đá cao xuyên qua mây. Hai bên cửa quan có xây bức tường chạy dọc lên núi, dài 1190 bộ (khoảng 377 mét).

Về ý nghĩa và tầm quan trọng của các cửa biên giới (cửa ải), theo tài liệu (bằng tiếng Pháp), dịch từ ba trang 15, 16 và 17, quyển thứ nhứt, bộ Long Châu Sử lược (Abrégé des Anales de Longtcheou), người Hoa sử dụng đến ba danh từ khác nhau để chỉ cửa ngõ thông thương giữa hai nước Việt-Trung : QUAN, ẢI và CA. 


Các cửa ngõ thông thương từ Long Châu sang Việt Nam gồm có 2 cửa “QUAN”, 14 cửa “ẢI” và 3 cửa “Ca” (thời nhà Thanh còn gọi là « thủ tạp » để chỉ các nơi canh phòng). 

Hai cửa QUAN là Bình Nhi Quan 苹 而 關 và Thủy Khẩu Quan 水 口 關 . 

14 cửa Ải là Yêm Bố 淹 布 (có bộ « khẩu» 口 đứng trước chữ Bố), Long Sương 龍 廂, (Ná Lang 那 懶,), Cảm Môn 敢 門, (Na Tuyết 那 雪 ), Na Duệ 那 曳 (Bản Khô 板 枯 ), Khiếu Canh 叫 更, (có bộ « sơn »山 trên chữ Canh) (Bản Ma 板 厤 ), Bế Thôn 閉 村, Na Hoài 那 懷 (Na Ai 那 哀), Ná Hà 那何, Long Mính 龍 茗 (Na Thông那), Hợp Thạch 合 石 (Long Cống 龍 貢). 

Ba cửa CA là Hồ Tông 葫淙, Khiếu Khâm 叫欽 và Bách Bố 百布. 

Trong số các ngõ thông thương sang Việt Nam, từ Long Châu, hai ngõ quan trọng nhất là Bình Nhi và Thủy Khẩu. 

Trấn Nam Quan (thuộc châu Bằng Tường) tọa lạc trên « quan lộ » (la route mandarine), là cửa thông thương chính thức giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, chỉ mở cửa khi có « quốc sự ». Sứ thần chính thức hai bên đều đi qua cửa này. 

Hồ sơ phân định biên giới Pháp-Thanh gọi cột mốc ở đây là Trấn Nam Quan ngoại 鎭南關外.

Người Việt có thói quen gọi cửa ải này là « Ải Nam Quan », mà thực ra nó có tên Việt « ải Đại Nam » hay « Đại Nam Quan ». Ngoài ra còn có tên khác là « Ải Bắc ». 

Về vị trí tương đối của Đại Nam Quan đối với Đồng Đăng, tài liệu « De Hanoi à la Frontière du Quang-si » – Từ Hà Nội đến Quảng Tây, của tác giả M. Aumoitte, viết năm 1881. Tác giả tạm dịch như sau :

« Ðồng Ðăng cách cửa ải 2 cây số rưỡi. Nơi đây bề ngoài cũng giống như Kỳ Lừa. Dân chúng phần lớn Tàu lai với thổ dân và sinh trưởng tại đây. Có nhiều tiệm bán lẻ (chạp phô); chỉ có 12 cửa hiệu buôn theo lối trao đổi (bông, dầu hồi, thuốc phiện, thuốc bắc)… 

Từ Ðồng Ðăng đến biên giới, con đường chỉ còn là một con đường mòn nhỏ, đá lởm chởm, chạy quanh dưới chân những ngọn đồi trọc và không có người ở. Ra khỏi Ðồng Ðăng được 1O phút là không còn một bóng người. Con đường mòn này mỗi lúc một hẹp, cuối cùng dẫn tới trước một cửa cổng có hai cánh bằng gỗ. Cửa được gắn với một bức tường làm bằng gạch nung, xây dài lên tới đỉnh đồi, có độ cao chừng 50 mét. Hình thức của cổng và hai bức tường xây lên núi tạo thành như một cái phểu. Ðó là biên giới. Trên đỉnh đồi, bức tường chấm dứt và người ta có thể đi qua Quảng Tây không có trở ngại. Trên hai cánh của gỗ có vẽ rồng, phụng mầu sắc rực rỡ. » 

Bài viết của ông Aumoitte có đính kèm một bức hoạ cổng Nam Quan như sau :

cổng Nam Quan 1883-1884

Như thế mô tả về hình thái Nam Quan của tác giả Aumoitte năm 1881 khá phù hợp với các chi tiết ghi từ Đại Thanh Nhất Thống Chí : Hai bên cửa là hai bước tường đá xây dọc lên tới đỉnh núi (núi cao khoảng 50m). Chiều dài bức tường khoảng 377m. 

Điều cần ghi nhận, trong trận đánh Lạng Sơn năm 1884, quân Pháp do tướng Négrier chỉ huy đã phá sập cửa Nam Quan để thị uy, sau đó thì rút về. 

Đến năm 1885, khi hai phái đoàn Pháp-Trung gặp nhau tại Nam Quan để phân định biên giới, các tài liệi cho thấy cổng Nam Quan đã được xây dựng lại một cách “đồ sộ”, như là một công sự chiến đấu, bằng đá đẻo (có chừa lỗ châu mai), với hai bức tường xây thẳng lên đỉnh núi. 

Không thấy ghi chú về vị trí của cổng mới có trùng hợp với vị trí của cổng cũ hay không ?

Dưới đây là các tấm hình Nam Quan, qua các bưu thiếp dưới thời Pháp thuộc. Chính xác là từ khoảng năm 1885 đến năm 1940. Ta thấy rõ rệt bức tường xây dài lên đỉnh núi.

15.03.2010-MTL29-400x253

NQ 1

NQ 2

Đến những năm đầu Thế chiến II, quân Nhật đã truy lùng những cánh quân kháng chiến người Hoa, lần nữa đã phá hủy tòa kiến trúc này. 

Tòa kiến trúc Nam Quan hiện thời chắc là mới được xây lại sau 1945. Kiến trúc hiện thời không thấy có hai bức tường xây dọc lên đỉnh núi mà hai bức tường này thể hiện cho đường biên giới. 

Kiến trúc Nam Quan hiện nay được xây lại trên nền cũ hay dời đi chỗ khác ?

Hình dưới đây là cổng Nam Quan hiện tại (hình của nhà báo Nguyễn Huy Minh).

DSC_0111

2/ Đường biên giới khu vực Nam Quan được mô tả theo biên bản phân định biên giới Pháp-Thanh ngày 7-4-1886 như sau :

« …từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng (cột số 18), đường biên giới theo hướng Tây, đi lên đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây… »

Theo biên bản cắm mốc ngày 21-4-1891 (công trình Frandin) cột mốc tại khu vực Nam Quan được xác định như sau: 

« Cột thứ 18, Trấn Nam Quan ngoại 鎭南關外: Trên đường Nam Quan về Ðồng Ðăng, cách cửa 100 thước về hướng Nam. Nguyên văn tiếng Pháp trong biên bản : A environ 100m en avant de la porte de Nam-Quan. »

Công trình này được công nhận năm 1894.

Như thế từ năm phân định 1886 đến năm phân giới cắm mốc 1894, đường biên giới đi qua Nam Quan không thay đổi : cắm trên đường từ Nam Quan về Đồng Đăng, cách cổng 100m. 

Xét hai mảnh bản đồ :

namquan 130

Nam Quan - Bac Cuong Ai 5

Ta thấy cột số 18 cắm trên con đường mòn nhỏ sát vách núi đá. 

Xét mảnh bản đồ sau đây (cắt từ bản đồ 1/100.000 SGI 1928):

Nam Quan SGI

Ta thấy xuất hiện quốc lộ 1A mà đường này không phải là con đường mòn ngày xưa cắm mốc số 18.

Đường biên giới hiện nay, khu vực Hữu Nghị Quan, đi qua cột mốc cây số zéro của quốc lộ 1A. Cột mốc cây số zéro cách tòa Hữu Nghị quan khoảng 300m. 

13.03.2010-MTL14

(Nguồn của Mai Thái Lĩnh).

Vấn đề là : 

– cột cây số zéro của quốc lộ 1A không phải là cột mốc 18 cũ.

– không chắc gì tòa Hữu Nghị Quan hiện nay đã được xây dựng lại (hai lần) ngay tại nền cũ của nó.

– hai bức tường cũ, xây từ cổng Nam Quan lên núi, vẫn còn thấy ở các tấm bưu thiếp “Porte de Chine” của Pháp (trước 1945), thì không còn thấy chung quanh Hữu Nghị Quan hiện nay.

3/ Bản đồ Google Earth.

May thay, ta vẫn có thể tìm thấy dấu vết của cổng Nam Quan cũ với hai bức tường xây lên đỉnh núi, nhờ kỹ thuật tân kỳ (và miễn phí) của Google Earth (cám ơn Google!) qua tấm hình sau đây:

Nam Quan Google earth

Đường biên giới (đường vàng) là không chính xác. Hữu Nghị Quan nằm trong tập hợp kiến trúc ở về phía nam của đường vàng (phía dưới khung A).

Trên tấm hình này tác giả có đóng khung 4 ô chữ nhật màu đỏ A, B, C, D. 

Cổng Nam Quan cũ (với hai bức tường xây lên núi) có thể ở một trong bốn khung này. 

Hai bức C và D không thấy núi phía bên phải (bên trái là núi đá, bên phải là núi đất) có lẽ bị ủi mất do làm lại đường mới.

Khung A, có dấu vết xây dựng lờ mờ hai bên núi nhưng hẻm núi ở đây hẹp, chỉ thấy 1 con đường. 

Khung B, là khung có thể nhất trong 4 khung. Ta thấy còn dấu vết khá rõ rệt của hai bức tường xây lên núi (nơi có hai mũi tên màu xanh) đồng thời có ba con đường : đường mòn cũ, quốc lộ 1A và đường (xa lộ) mới ở xa hơn về bên phải. 

Khung C và D, cũng rất có thể Nam Quan cũ đã được xây dựng ở hai nơi này, nhưng sác suất có lẽ không cao bằng khung B. Ta thấy còn rõ rệt dấu vết (như là) bức tường xây lên núi (phía tay trái), nhưng lại không thấy dấu vết phía tay phải.

3/ Kết luận : Một điều chắc chắc là tòa kiến trúc Hữu Nghị Quan hiện tại không còn ở vị trí cũ của nó, sau khi bị đánh sập hai lần bởi quân Pháp (1884) và quân Nhật (đầu thập niên 40). Bởi vì không thấy dấu vết của hai bức tường xây chạy lên núi ở hai bên tòa kiến trúc này.

Vị trí cũ của Nam Quan có thể là nơi khung B trên bản đồ Google Earth. Vị trí này cách Hữu Nghị Quan vài trăm mét về phía bắc.

Cột mốc 18 cũ được cắm trên đường mòn cũ từ Nam Quan về Đồng Đăng. Đường mòn này đi sát chân núi bên phải. Đường mòn này không phải là quốc lộ 1A hoặc đường xa lộ mới xây sau này. Cả hai đường này ở phía bên phải đường mòn.

Muốn tìm vị trí của mốc 18 cũ ta phải tìm được đường mòn cũ và dấu vết của hai bức tường xây lên núi. Rất có thể dấu vết này thể hiện trong tấm hình của Google Earth ở trên, trong khung màu đỏ B. Sau đó do ngược lại về phía nam 100m. 

Nếu giả thuyết đúng vậy, đây mới là vị trí lịch sử của cột mốc 18.


Khu vực Nam Quan – Bắc Cương Ải.
Đoạn biên giới này được chia làm hai tiểu đoạn : Nam Quan đến ải Chí Mã và từ ải Chí Mã đến ải Bắc Cương. 

Năm mảnh bản đồ dưới đây chụp ra từ bản đồ tổng hợp Nam Quan đến Bắc Cương Ải 1/200.000 do Ủy ban phân giới 1890-1891 (ông Frandin là chủ tịch) thành lập. Công tác đo đạc và vẽ bản đồ gồm các vị : Didelot, Lavenir, Berdonlat và Spicq. Nguyên tấm bản đồ này được thâu nhỏ lại từ hai tấm bản đồ cắm mốc 1/50.000, vẽ bằng mực màu trên vải trắng, của cùng tác giả, trong cùng thời kỳ (1890-1891).


Đường chấm đỏ là đường biên giới. Các dấu chéo màu đỏ là cột mốc. Những con số viết màu đỏ là số cột mốc. Tất cả những ghi chú này do người viết ghi chú vào. 

Trong bài viết này chỉ sử dụng ấm số 3. Các tấm khác dành cho các bài viết tới.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 5

Hình 1.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 4

Hình 2.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 3

Hình 3.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 2

Hình 4.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 1

Hình 5.

Baccuongai-binhnhi (2)

Hình 6 : Bản đồ tổng hợp từ hai tấm bản đồ 1/50.000 hai đoạn biên giới Nam Quan – Chí Mã Ải và Chí Mã Ải – Bắc Cương Ải, sau đó thu nhỏ lại thành 1/200.000.

baccuongai-chimaai 006

Hình 7: Một góc bản đồ đoạn biên giới Bắc Cương Ải – Chí Mã Ải 1/50.000 vẽ bằng mực màu, trên vải lụa trắng (cũ và nhàu do việc các nhân viên cắm mốc bị mắc mưa).

Vị trí các cột mốc được mô tả theo biên bản ngày 21-4-1891. Văn bản này do ủy ban Frandin thành lập. Công trình cắm mốc này được công nhận theo biên bản tổng hợp ngày 19-6-1894, do ông Galliéni làm chủ tịch.

Cột thứ 67, Thôn Thương Sơn 吞倉山 : Cắm tại cửa ải Bắc Cương.
Cột thứ 66, Bắc Cương Sơn 北崗山 : Cắm trên đỉnh Bắc Cương Sơn.
Cột thứ 65, Đối Niệm Sơn 對捻山 : Tại đèo Ðối-Mã (coté 773)
Cột thứ 64, Cao Đồng Sơn 高桐山 : Trên đỉnh Cao Đồng Sơn
Cột thứ 63, Quỳ Long Sơn 葵隆山: Trên đèo ở phía Ðông làng Cao Đồng (Tàu)
Cột thứ 62, Phái Thiên Sơn (bis) : Trên trái đồi nhỏ ở phía Ðông cửa ải Phái Thiên.
Cột thứ 61, Phái Thiên Sơn 派遷山: Ở phía đông của cột trước, trên đường dẫn đến Ná Pha.
Cột thứ 60, Giao Bài Sơn 交排山 : Tại Giao Bài (kế con đường)
Cột thứ 59, Bắc Đạt Sơn 北達山 : Tại Song-Pai (kế con đường)
Cột thứ 58, Khiêu Hiệu Sơn 呌…山: Tại Khiêu Hiệu Sơn (gần cửa ải)
Cột thứ 57, Ðông Môn Sơn東có bộ 山 ở trên) 門山 ): Trên đỉnh Ðông Môn Sơn.
Cột thứ 56, Bạch Thịnh Sơn 白盛山 : Trên đồi cao thuộc Bạch Thịnh Sơn (kế cận đường mòn).
Cột thứ 55, Bộ Hà Sơn步河山 : Tại Cao-Pao-Son (tại giao điểm của hai con đường mòn).
Cột thứ 54, Ba Nội Sơn 波內山 : Tại của ải Ná Ma.
Cột thứ 53, Khô Hoa Sơn 枯華山 : Tại cửa ải Ban-Hang.
Cột thứ 52, Giao Phê Sơn 交批山 : Tại điểm mà con đường mòn Na-Lom cắt đường biên giới.
Cột thứ 51, Chi Hoàn Sơn脂還山: Tại cửa ải Na-Ha.
Cột thứ 50, Giao Oa Sơn 交蛙山 : Tại cửa ải Na-Thang.
Cột thứ 49, Ngạc Hầu Sơn 鱷矦山 : Trên đỉnh Ngoc-Hao-Son.
Cột thứ 48, Đồng Đẳng Ngoại Sách 同等外柵 : Tại điểm mà con đường từ Ban-Thinh đến Na-Thương cắt đường biên-giới.
Cột thứ 47, Thạch Bi Sơn 石碑 山: Tại điểm mà con đường từ Ban-Thinh đến Na-Hu cắt đường biên-giới.
Cột thứ 46, Lễ Do Sơn 禮由山 : Tại điểm mà con đường từ Na-Phat đến Na-Hu cắt đường biên-giới.
Cột thứ 45, Bộ Môn Sơn 埔 門山 : Gần đồn Pa-Mau (phía Nam của cửa Chí-Mã).
Cột thứ 44, Ải Điếm Ngoại Sách 隘玷外柵 : Tại cửa Chí-Mã.
Ðoạn thứ 2 từ Chí Mã đến Nam Quan :
Cột thứ 43, Đạo Nê Sơn 道泥山: Trên con đường từ Phai San đến Chí Mã, khoảng cách 1200 thước trên con đường nầy theo hướng Ðông Bắc.
Cột thứ 42, Công Mẫu Sơn 公母山: Trên đỉnh thứ nhứt, phía tây bắc, cách cột thứ nhứt 800 thước.
Cột thứ 41, Lục Vinh Sơn 六榮山 : Cách 500 thước về hướng Tây của một cái thác, gần làng người Hoa Po-Ho.
Cột thứ 40, Nã Chi Ngoại Sách 那支外柵 : Tại cửa Nã Chi.
Cột thứ 39, La Nông Sơn 羅農山 : Trên đỉnh La Nông Sơn.
Cột thứ 38, Đạo Hạ Ngọai Sách 道下外柵 : Tại cửa ải Kouei-Kha.
Cột thứ 37, Nã Lộc Sơn 那祿山 : Trên đỉnh Nã Lộc Sơn (côté 409)
Cột thứ 36, Đồng Hộ Ngọai Sách 同戶外柵 : Tại cửa ải Đồng Hộ.
Cột thứ 35, Bản Trụ Ngọai Sách 板宙外柵 : Tại cửa ải Bản Trụ.
Cột thứ 34, Kim Cương Sơn 金崗山 : Trên đỉnh Kim Cương (côté 402)
Cột thứ 33, Mỹ Mục Sơn 美目山 : Trên đỉnh Mỹ Mục.
Cột thứ 32, Khô Giảng Lộ Khẩu 枯 講路口 : Trên đường từ Packinh đến Cauxo (cách làng nầy 300m về hướng Bắc).
Cột thứ 31, Khô Liểu Lĩnh 枯柳嶺 : Trên đường từ Na-Piou đến Po-Héo, trên đường sống núi của Cổ Mã Sơn.
Cột thứ 30, Khấu Sơn Ngoại Sách 扣山外柵 : Tại cửa ải Loa.
Cột thứ 29, Tam Sắc Sơn 三色山 : Trên đỉnh Tam Sắc.
Cột thứ 28, Nã Ma Lĩnh 那摩嶺 Tại cửa Ná Ma.
Cột thứ 27, Bộ Tác Sơn 埔作山 : Trên con đường từ Na-Pha đến Ha-Lai (cách làng nầy 900 thước về phía Nam).
Cột thứ 26, Pháp Ca Sơn 法卡山: Tại cửa Pháp Ca.
Cột thứ 25, Bản Phiêu Ngọai Sách 板漂外柵 : Trên đường từ Gia-Muc đến Ban-Chau (cách làng nầy 1300 thước).
Cột thứ 24, Phái Bình Lĩnh 派苹嶺 : Trên đỉnh Phái Bình.
Cột thứ 23, Áp Môn Ngọai Sách 閘門外柵 : Tại cửa ải Rô.
Cột thứ 22, Khấu Cự Lĩnh 扣虡嶺 : Cách 400 thước phía Ðông-Nam của cửa Cao-Cap (trên đồi)
Cột thứ 21, Khôn Long Ngọai Sách 坤隆外柵: Tại Po-Seu.
Cột thứ 20, Phổ Ta Lĩnh 溥些嶺 : Trên một đỉnh núi đối-diện với công-sự Kouei-Tao của Tàu.
Cột thứ 19, Đạo Lang Lĩnh 道郞嶺 : Trên đỉnh núi.

Mất đất khu vực Khu vực Chi Ma – Ải điếm Ải khẩu : Tấm 29 và 30 HUBG 1999.

Xét mảnh bản đồ thuộc hình 3 ở trên.

Khu vực ải Chí Mã, cột mốc 45, 44, 43 theo hướng đông – tây. Từ mốc 43 đến 42 đường biên giới chuyển sang hướng bắc. Từ mốc 42 đến 41 theo hướng đông bắc thiên bắc. 

Xét mảnh bản đồ thuộc tấm số 29 của HUBG sau đây:

Chi Ma

Các cột mốc chung quanh ải Chí Mã là mốc 1219, 1220, 1221.

Từ cột mốc 1219, tương ứng cột mốc 43 cũ, đường biên giới tiếp tục đi về hướng tây, (thay vì bẻ lên hướng bắc), đi lên sườn dãy Công Mẫu Sơn thuộc VN, ăn sâu vào lãnh thổ VN đến khoảng 2km. 

Chiều dài vùng lãnh thổ của VN bị mất lấn qua tấm số 30 của HUBG 1999

Mau Son

VN mất đất khu vực này khoảng vài cây số vuông, phù hợp với lời tố cáo của VN trong Bị Vong Lục 1979.

Nam Quan - Bac Cuong Ai 3 bis

Đất VN bị mất cho TQ tương ứng với vùng gạch màu xanh như bản đồ trên đây.

Vietnam: Past & Present

Mafiovi

Một gia đình Việt Nam những năm 30 của thế kỷ 20
người H’Mông cũng trồng lúa, ngô trên nương rẫy
Cái gì mới? – Cái Pano
Một tí nữa thôi là đến Thiên Đàng
Lồng lộng gió thời đại, và hãy chờ Ngày Mai nhé, Vietnam….

Những chi tiết quan trọng bên trong tuyên bố chung Việt – Trung (RFA 19-10-13) — P/v Phạm Chí Dũng ◄So sánh biên giới mới ở khu vực Nam Quan với bản đồ của quân đội Mỹ (Diễn Đàn 19-10-13) — Bài Phạm Quang Tuấn và Phan Văn Song ◄

Các tác giả cảm ơn Dương Danh Huy đã thảo luận và góp ý về vấn đề này và cộng tác trong việc soạn bản đồ các mốc biên giới.
Lưu ý:
(a) Hai chữ tắt AMS và NĐT dùng nhiều trong bài được định nghĩa ở ngay đoạn đầu.
(b) Chữ “ải” (ải Nam Quan) chỉ một chỗ hẹp giữa hai sườn núi, còn “cửa” (cửa Nam Quan) chỉ kiến trúc xây nơi đó để kiểm soát biên giới.
Trong một bài trước [1] chúng tôi đã giới thiệu một số bản đồ biên giới Việt-Trung dựa theo bản đồ của quân đội Mỹ (Army Map Service, AMS) xuất bản năm 1964 [2], với những mốc giới mới tính toán theo Nghị định thư về cắm mốc biên giới 2009 (NĐT) [3]. Bản đồ này dựa theo bản đồ tỷ lệ 1:25 000 của Sở Địa dư Đông Dương (Service Geographique de l’Indochine, SGI) thời Pháp thuộc, nên có nhiều khả năng phản ánh đúng biên giới thời đó theo quan điểm của Pháp về Công ước Pháp-Thanh. Xin tạm gọi biên giới vẽ trên bản đồ AMS là “biên giới AMS”.
Chúng tôi cũng đã lưu ý độc giả rằng bản đồ AMS có những sai số có thể lên tới 200 m, nên muốn so sánh đích xác hai biên giới thì cần phải điều chỉnh lại vị trí các mốc theo địa hình mô tả trong NĐT nhằm giảm thiểu sai số. Trong bài này chúng tôi sẽ điều chỉnh vị trí mốc giới ở khu vực Đồng Đăng – Nam Quan để xem so với biên giới AMS Việt Nam đã được gì mất gì nơi đó.
PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT BIÊN GIỚI
Vì khu vực Nam Quan là một vùng nhạy cảm, có ý nghĩa lịch sử đặc biệt và thu hút sự chú ý của tất cả những người quan tâm về biên giới cũng như của quần chúng nói chung, nên mọi phân tích phải đặc biệt cẩn trọng và có những tiêu chuẩn khách quan.
Chúng tôi dùng Adobe Photoshop, đặt bản đồ AMS lên một lớp (layer), đặt bộ mốc giới vẽ theo NĐT lên một lớp khác, rồi di chuyển lớp mốc nhiều khoảng cách khác nhau (nhưng phần lớn vẫn trong vòng sai số khoảng 200 m [1] của bản đồ AMS). Tức là khi di chuyển các mốc, vị trí tương đối giữa chúng không thay đổi. Sau đó, chúng tôi đối chiếu với NĐT xem những nét địa hình (landmark) như sông suối, đỉnh núi, đường lộ, đường sắt, v.v. ở các mốc có giống như NĐT mô tả hay không.
Làm như vậy tức là chúng ta đã giả thiết rằng, ít ra trong một khu vực vài km, địa hình (vị trí tương đối của sông suối, đồi núi, đường lộ, đường sắt, v.v.) được thể hiện một cách chính xác trên bản đồ AMS.
Vị trí đông-tây (kinh độ) của bộ mốc có thể xác định khá chính xác trên bản đồ vì hai mốc 1116-1117 (cách nhau 85 m) nằm hai bên Quốc lộ 1 và hai mốc 1121-1122 (cách nhau 72 m) nằm hai bên một con suối và đường sắt cách nhau khoảng 60 m. Mỗi lần di chuyển bộ mốc chúng tôi đều điều chỉnh kinh độ cho phù hợp những điều trên. Vì vậy chúng ta có thể tập trung vào việc tìm vị trí bắc nam.
Gần Nam Quan có rất nhiều mốc nằm trên những đỉnh núi: mốc 1095, 1101, 1102, 1110, 1113, 1120, 1124, 1126, 1129 và cũng có vài đỉnh núi nằm trên đường biên giới mà NĐT có nêu rõ toạ độ dù không có cắm mốc. Ngoài ra còn những cột mốc nằm trên sống núi, trên yên ngựa, những đoạn đi qua khe suối v.v. có thể giúp điều chỉnh vị trí của biên giới. Để độc giả dễ dàng theo dõi, chúng tôi có trích phần trong NĐT nói về các cột mốc và cách vẽ biên giới khu vực này trong Phụ lục.
Tuy nói là xê dịch bộ mốc trên bản đồ, nhưng phải hiểu là chúng tôi chỉ xê dịch bản đồ chứ không thay đổi toạ độ các mốc (vì chúng đã được hai nước chính thức thỏa thuận). Chẳng hạn, xê dịch bộ mốc 100 m về phía nam trên bản đồ có nghĩa là dịch bản đồ 100 m về phía bắc.
VỊ TRÍ BIÊN GIỚI MỚI
Chúng tôi đã thử nhiều cách để làm địa hình quanh các mốc phù hợp với NĐT.
Cách thứ nhất: chúng tôi giữ nguyên vị trí các mốc như đã tính toán từ các tọa độ trong Nghị định thư và vẽ trong bài trước [1]. Cách này giả thiết rằng bản đồ AMS thể hiện tọa độ các địa hình một cách chính xác, không có sai số hệ thống (systematic error). Theo cách này, biên giới mới cách biên giới AMS hơn 200 m về phía nam trên Quốc lộ 1.
Bản đồ 1 cho thấy thấy các mốc 1101, 1102, 1110, 1113, 1120, 1124, 1126, 1129 và điểm 364 m giữa hai mốc 1118 và 1119 không nằm trên đỉnh núi như theo NĐT. Vì vậy, có thể kết luận rằng cách này kém chính xác và có thể bác bỏ.
Bản đồ 1: Giữ nguyên vị trí các mốc mới
Cách thứ hai: chúng tôi đặt cột “km 0″ nằm trên biên giới AMS. Tuy cách này di chuyển cột mốc hơn sai số 200 m của bản đồ, nhưng cần phải kiểm tra vì báo chí và nhân viên nhà nước CHXHCN Việt Nam đã phát biểu nhiều lần rằng mốc 1118 hoặc km 0 (hai điểm này có vĩ độ gần trùng nhau, chỉ lệch nhau chừng 15 m theo hướng bắc-nam, tương đương với 0,3 mm trên bản đồ tỷ lệ 1:50 000) trùng với biên giới cũ [4, 5]. Nếu biên giới AMS thể hiện chính xác biên giới cũ, và nếu chúng ta không mất gì ở ải Nam Quan trong hiệp ước 1999 như theo các phát biểu trên, thì cách này sẽ cho ta thấy vị trí của biên giới mới một cách khá chính xác.
Bản đồ 2 cho thấy trong tất cả các mốc mà NĐT ghi là ở trên đỉnh núi, không có mốc nào nằm như vậy trong bản đồ vẽ theo cách này. Ngoài ra, cũng không có suối nào đi qua giữa hai mốc 1125 và 1126 như trong NĐT. Do đó có thể kết luận rằng cách này không chính xác và có thể bác bỏ. 
Bản đồ 2: Đặt cột km 0 nằm trên biên giới AMS
Cách thứ ba: chúng tôi xê dịch biên giới 100m về phía nam (so với biên giới trên bản đồ AMS) trên Quốc lộ 1. Cách này dựa theo mô tả sau trong Bị vong lục 1979 [6]: “Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 mét trên đường quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột ki-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này”.
Bản đồ 3 cho thấy trong các mốc mà NĐT ghi là nằm trên đỉnh núi, chỉ có mốc 1120 và 1124 thỏa mãn điều kiện này. Do đó cách này kém chính xác và có thể bác bỏ.
 
Bản đồ 3: Dịch biên giới 100m về phía nam trên Quốc lộ 1
Cách thứ tư: chúng tôi xê dịch bộ mốc từng chục mét, cho tới khi có sự trùng hợp thỏa đáng nhất giữa địa hình quanh các mốc với các mô tả trong NĐT. Khi dịch chuyển các mốc tới vị trí 75 m về phía Nam chúng tôi đạt được sự trùng hợp tối đa(Bản đồ 4). Điều này có nghĩa là trên bản đồ AMS  các chi tiết địa hình và biên giới  đã được thể hiện lệch về phía Nam 75 m so với vị trí thực của chúng. Khoảng cách này vẫn nằm trong vòng sai số của bản đồ [1]. 
Bản đồ 4: Dùng địa hình để điều chỉnh vị trí các mốc
Ở vị trí này, các mốc 1095, 1102, 1110, 1113, 1124, đỉnh 436 m (giữa mốc 1110 và 1111) và đỉnh 364 m (giữa mốc 1118 và 1119, đề chữ 371 trên bản đồ AMS) đều nằm trên các đỉnh núi (sai số dưới 30 m) đúng như mô tả trong NĐT. Riêng mốc 1120, theo NĐT, cũng nằm trên một đỉnh núi nhưng bản đồ AMS không thể hiện có núi ở vị trí này. Tuy nhiên, kiểm tra lại bản đồ nhỏ tỷ lệ 1:10 000 trong bản đồ 29 đăng trên Công báo số 642-649 của chính phủ Việt Nam thì quả có một núi nhỏ ở đó, mà bản đồ AMS không vẽ tuy địa hình chung quanh thì tương tự (xin xem đoạn sau). Những mỏm núi nhỏ có thể không xuất hiện trên bản đồ AMS nếu bề cao của chúng ít hơn cách biệt độ cao (20 m) giữa các đường đẳng cao (contours).  Mốc 1101 nằm hơi chếch một đỉnh (cách chừng 40 m). Chỉ có hai mốc 1126, 1129 không nằm trên đỉnh núi như trong NĐT. Có thể là những khu này ở xa nên đo đạc không còn chính xác, nhưng cũng có thể vì lý do tương tự như trường hợp mốc 1120.
Mốc 1115 đi tới mốc 1116 theo sống núi từ tây sang đông. Mốc 1125 và 1126 nằm hai bên suối. Những nét địa hình này đều đúng như trong NĐT. Độc giả có thể tự kiểm tra những nét khác.
Ngoài ra địa hình chung quanh biên giới mới ở khu vực Hữu Nghị Quan (mốc 1116-1122) còn có thể so sánh trên bản đồ nhỏ, tỷ lệ 1:10 000 ở góc trên bên phải của bản đồ 29 trong Công báo [7] (Bản đồ 5). Địa hình trên hai bản đồ (của chúng tôi và từ Công báo) rất giống nhau, vị trí của các đỉnh, suối, đường sắt v.v. đều tương tự. 
Bản đồ 5. So sánh chi tiết địa hình khu vực mốc 1116-1122
Tương tự, bản đồ nhỏ ở khu vực mốc 1103/1-1108 cho thấy địa hình bản đồ biên giới mới của chúng tôi rất xít xao với địa hình trong bản đồ tỷ lệ 1:5000 của Công báo (Bản đồ 6), biên giới mới bọc sát quanh một đầm lầy và qua vài đỉnh nhỏ.
 
Bản đồ 6. So sánh chi tiết địa hình khu vực mốc 1103/1-1108.
 Chúng tôi kết luận rằng bản đồ 4 thể hiện chính xác (trong vòng khoảng 30 m) vị trí của các mốc giới mới trên bản đồ AMS. Đặc biệt, đỉnh núi ghi “371″ trên bản đồ 5 có một mốc địa trắc (hình tam giác) là một điểm để các nhà địa trắc dùng để tính tọa độ chuẩn cho vùng đó, nên vị trí biết rất chính xác. Bản đồ 7 giống Bản đồ 4 nhưng vẽ thêm đường biên giới mới giữa các mốc, biên giới này lấy từ bản đồ của NĐT và được chồng lên các mốc, cho thấy là vị trí tương đối của các mốc mà chúng tôi vẽ bằng phần mềm là chính xác. Hai bản đồ này sẽ được dùng trong phần còn lại của bài.
Bản đồ 7. So sánh biên giới mới với biên giới trên bản đồ AMS
VỊ TRÍ ẢI NAM QUAN TRONG BẢN ĐỒ AMS CÓ CHÍNH XÁC KHÔNG?
Người đọc có thể tự hỏi là bản đồ AMS có thể hiện chính xác vị trí ải Nam Quan không, vì nếu không thì khó kết luận là Việt Nam đã nhượng bộ bao nhiêu, ít ra là dọc theo đường Quốc lộ 1. Để chứng tỏ là AMS thể hiện vị trí ải Nam Quan một cách chính xác, chúng tôi xin đưa hình 1 dưới đây, cho thấy cửa Nam Quan từ một tấm ảnh thời Pháp, chụp từ phía Việt Nam (vì thấy cổng nhỏ phía Việt Nam trước cổng lớn phía Trung Hoa). Điều đáng chú ý là trước khi tới ải, có một khu đất trũng ở phía đông (d) giữa hai ngọn đồi (f, g) khiến đường lộ phải vòng sang trái (phía tây) ở điểm c.
Hình 1. Địa hình ải Nam Quan cũ so với bản đồ AMS
 So sánh tấm ảnh đó với bản đồ AMS trên hình 1, ta thấy các nét địa hình này được diễn tả đầy đủ. Nếu đứng ở điểm X gần cạnh dưới bản đồ thì sẽ thấy được cảnh trong ảnh. Điểm a là mốc 18, b là cửa Nam Quan, d là khu đất trũng (vạch đỏ trên bản đồ). Cột km 0 bây giờ ở khoảng trong khóm chuối (e), góc dưới bên trái. Địa hình phía nam biên giới mới (km 0) không có những nét nói trên. Chúng ta có thể kết luận rằng vị trí ải Nam Quan cũ trên bản đồ AMS là chính xác so với địa hình.
Ý NGHĨA VỀ LÃNH THỔ VÀ QUÂN SỰ CỦA SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BIÊN GIỚI MỚI VÀ BIÊN GIỚI AMS
Bản đồ 4 và 7 cho thấy là, so với biên giới AMS, biên giới mới đã lấn về phía nam một cách đáng kể trong khu vực này. Trên Quốc lộ 1, so với bản đồ AMS, biên giới đã lùi khoảng 290 m về phía Nam. Trên đường sắt Bằng Tường-Đồng Đăng, biên giới đã lùi khoảng 360 m về phía Nam. Giữa hai mốc 16 và 17 cũ (khoảng mốc 1103 và 1114 mới), Việt Nam đã mất khoảng 3/4 km2 (theo ước lượng của chúng tôi). Phía đông bắc của mốc 1129 Việt Nam cũng mất một vùng đất đáng kể so với biên giới AMS.
Về mặt địa hình, biên giới AMS ở Nam Quan đi dọc theo một sống núi theo hướng tây đông, qua một thung lũng (cửa ải nằm đâu đó trong thung lũng này) và tiếp tục đi lên một ngọn đồi. Địa hình biên giới mới cũng tương tự, chỉ khác là biên giới mới đi theo một sống núi khác nằm về phía Nam khoảng 300 m, và biên giới mới còn lùi thêm về phía nam vài chục mét nữa dọc đường sắt.
Hình 2 so sánh biên giới mới và biên giới AMS trên một tấm không ảnh của Google Earth. Ảnh chụp nghiêng nên cho ta hình ảnh về địa hình. Hai đường biên giới vẽ sơ lược theo 3 chiều nên lên xuống cùng địa hình. Đường vàng mỏng là biên giới do Google Earth vẽ (chúng tôi có nhiều bằng chứng rằng họ cũng vẽ biên giới theo bản đồ AMS nên nó cũng bị dịch khoảng 75 m về phía nam). So sánh không ảnh với bản đồ AMS ở dưới, ta dễ dàng nhìn ra những nét địa hình. Mỗi điểm quan trọng trên hai biên giới đều đánh số hay chữ để dễ so sánh.
Hình 2. Không ảnh Google Earth (trên) so sánh với bản đồ AMS. Trên không ảnh, đường đỏ là biên giới mới, đường tím là biên giới AMS.
Cả trên bản đồ lẫn không ảnh, phía đông ải Nam quan cũ là hai ngọn đồi sát nhau (đồi kép), biên giới AMS chạy từ ải (f) lên đỉnh phía nam (g). Phía đông biên giới mới (điểm 3, có mũi tên của Google Earth chỉ vào tọa độ của km 0) là một ngọn đồi đơn độc (điểm 5). Không thể lẫn lộn được hai ngọn đồi đó. Không ảnh từ trên chụp thẳng xuống cho thấy rõ điều này (Hình 3).
Hình 3. Không ảnh Google Earth cho thấy rõ đồi kép ở biên giới AMS (đường tím) và đồi đơn ở biên giới mới (đường đỏ)
Như đã thấy, biên giới ở Nam Quan đã lùi về phía nam khoảng 300 m. Ở đây 300 m này rất quan trọng. Về mặt địa hình, Nam Quan là một “ải kép”, vì thung lũng chứa quốc lộ thắt lại ở hai điểm cách nhau 300 m: điểm bắc là ải Nam quan cũ, điểm nam là km 0 bây giờ (xem không ảnh hình 2 và 3). Phía bắc và nam “ải kép” này là những thung lũng tương đối rộng. Hai bên mỗi ải là những đồi hay sống núi có thể dùng để quan sát hoặc khống chế bên kia.
Với biên giới AMS, Việt-Trung chia nhau các cao điểm hai bên ải Bắc (sống núi c-d-e-f và đỉnh g trên hình 2), còn Việt Nam chiếm các cao điểm hai bên ải Nam (sống núi 2-3 và đỉnh 5). Điều này cho ta một lợi thế rất lớn khi có xung đột, giúp ta kiểm soát sự ra vào ở cửa ải. Với biên giới mới, tình thế đã đảo ngược, bên TQ kiểm soát các cao điểm sau ải (mới) và chia các cao điểm hai bên ải (mới) với VN.
Dọc phía tây quốc lộ có những khác biệt cũng rất quan trọng về mặt quân sự. Biên giới AMS chạy từ đỉnh núi (c) ở phía tây ải cũ rồi quay về hướng nam và chạy dọc một sống núi rất cao (b-a và tiếp tục về hướng tây), sống núi này khống chế thung lũng của QL 1 suốt dọc gần 1 km. Biên giới mới ở về phía đông biên giới AMS, chạy dọc lưng chừng sườn núi (từ 2 đến 1 và tiếp tục về hướng tây nam), phần dưới về Việt Nam, phần trên thuộc Trung Quốc. Như vậy, với biên giới mới Trung Quốc  kiểm soát tất cả các đỉnh núi và sống núi dọc ải và đường quốc lộ ra biên giới: một lợi thế rõ rệt về mặt quân sự và là điều mà họ không có được với biên giới AMS.
Hình 4 là không ảnh Google Earth vùng từ Đồng Đăng tới Nam Quan, nhìn nghiêng 35° và trục cao độ tăng gấp đôi cho rõ địa hình. Vị trí cửa Hữu Nghị Quan, km 0 và các mốc biên giới do Google Earth đặt lên theo tọa độ trong NĐT. Ta thấy từ mốc 1114 về phía bắc, bản đồ AMS vẽ hai bên chia nhau sống núi thì bây giờ Trung Quốc chiếm các cao điểm. Từ mốc 1114 về phía Nam, bản đồ AMS vẽ rặng núi hoàn toàn bên Việt Nam thì bây giờ hai bên chia nhau sống núi. Có những công sự lớn của TQ ở vùng lấn qua Việt Nam, bọc trong các mốc 1103/1 tới 1114. Có thể nói là cửa ngõ Việt Nam suốt từ Nam Quan tới Đồng Đăng theo biên giới mới bị áp chế hay đe dọa.
Hình 4. Không ảnh Google Earth vùng biên giới từ Đồng Đăng tới Nam Quan, với vị trí các mốc mới. Đường vạch đỏ là biên giới AMS.
Phía đông bắc ải Nam Quan, từ mốc 1123 tới mốc 1128 (bản đồ 7), tình trạng cũng tương tự. Suốt dọc đoạn này biên giới mới đã lấn về phía Việt Nam khoảng 100-300 m, biên giới AMS nằm trên sống một rặng núi cao, biên giới mới nằm lưng chừng sườn núi phía VN, tức là Việt Nam đã mất tất cả các cao điểm.
Nếu biên giới AMS phản ánh đúng biên giới lịch sử thì việc để mất các vị trí quan yếu về mặt quốc phòng như thế này vào tay Trung Quốc, một nước láng giềng lớn từng nhiều lần xâm lấn ta bằng võ lực, là một điều khó thể biện minh được.
VỀ VỊ TRÍ CÁC CỘT MỐC 18 VÀ 19 CŨ
Trên bản đồ AMS, vị trí của mốc 18 cũ (nằm trên một sống núi phía Tây ải Nam Quan) có thể không chính xác vì theo biên bản của toán cắm mốc Pháp Thanh, mốc này được đặt ở trên (bên) đường đi Đồng Đăng, phía trước (tức là phía Nam) cửa Nam Quan 100 m (à 100 m en avant de la porte de Nam-Quan sur le chemin de Dong-Dang) [8].
Còn mốc 19 thì nằm trên đỉnh ngọn đồi ngay phía Đông cửa ải, trong khi đó, theo báo chí nhà nước và nhân viên bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam phụ trách vấn đề biên giới thì mốc 19 nằm ở vị trí của mốc 1118 mới như đã nói trong phần trên. Hai vị trí này cách nhau khoảng 250 m và nằm trên hai ngọn đồi khác nhau. Theo biên bản cắm mốc đã nói, thì mốc 19 phải nằm ở trên một đỉnh đồi (“sur le sommet placé face du fort chinois de Kouei-Tao”). Ngoài ra, mốc 19 trong bản đồ AMS thì ở một đỉnh đồi có cao độ 364 m, nhưng mốc 1118, mà theo báo chí và nhân viên nhà nước Việt Nam thì trùng với mốc 19 cũ, lại ở trên sườn đồi, với cao độ 320,6 m. Khó mà tin đội cắm mốc Pháp Thanh đã phạm một nhầm lẫn về cao độ tương đương với một tòa nhà 15 tầng! Ngọn đồi mà bộ Ngoại giao VN cho là mang mốc 19 (1118 mới) là một điểm trắc địa, tức là trên đỉnh có đặt một mốc dấu nào đó dùng để định chuẩn tọa độ, nên các nhà làm bản đồ chắc chắn biết chính xác vị trí của nó và khó có thể nhầm lẫn với một ngọn đồi khác cách đó 300 m. Hơn nữa,bản đồ AMS thể hiện ngọn đồi đó hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Việt Nam (vị trí của mốc trắc địa cũng nói lên điều này). Khó có khả năng xảy ra việc những người làm bản đồ lại nhầm lẫn một ngọn đồi có chứa cột mốc biên giới với một ngọn đồi tách rời nằm hoàn toàn trong lãnh thổ của một bên.
Như vậy, có khả năng cao là mốc 19 trên bản đồ AMS đã đượcthể hiện chính xác và điều này có nghĩa là sau này mốc đó đã bị dời khoảng hơn 250 m về phía Nam, sang một ngọn đồi khác. Chúng ta nên nhớ là ngọn đồi này đã bị Trung Quốc chiếm một thời gian dài, và ngay cả lúc đàm phán vẫn bị họ chiếm đóng, nên khả năng là họ đã di chuyển cột mốc không phải là nhỏ. Nhà nước Việt Nam cần phải giải thích vì lý do gì họ đã không khẳng định vị trí của mốc 19 như trên bản đồ AMS, một vị trí phù hợp hơn với biên bản cắm mốc, mà lại khẳng định một vị trí vừa không phù hợp với biên bản (vì không nằm trên đỉnh núi) vừa rất thiệt thòi cho Việt Nam.
KẾT LUẬN
1. Bản đồ 4 và 7, mà chúng tôi đã điều chỉnh theo địa hình và kiểm chứng bằng nhiều cách, có thể coi là trình bày chính xác (trong vòng chừng 30 m) vị trí của biên giới 1999 trên bản đồ AMS mà quân đội Mỹ vẽ năm 1964, dựa theo bản đồ của Pháp.
2. Trên Quốc lộ 1, biên giới đã lùi khoảng 290 m về phía Nam.
3. Trên đường sắt Bằng Tường-Đồng Đăng, biên giới đã lùi khoảng 360 m về phía Nam so với biên giới trên bản đồ AMS. Nhiều khu vực lân cận bị mất trên dưới 1 km vuông.
4. So với bản đồ AMS thì Việt Nam đã mất hầu hết những cao điểm (đỉnh và sống núi) chung quanh ải Nam quan và dọc Quốc lộ 1 cho tới Đồng Đăng, và chỉ còn giữ những sườn núi thấp.
4. Có khả năng là cột mốc 19 cũ đã bị dời hơn 250 m về phía nam, qua một ngọn đồi khác, khiến biên giới quanh đó cũng di chuyển theo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Dương Danh Huy, Phạm Quang Tuấn, Phan Văn Song (2013) So sánh vị trí cột mốc biên giới Việt Nam – Trung Quốc với bản đồ của quân đội Mỹ. http://boxitvn.blogspot.com.au/2013/10/so-sanh-vi-tri-cot-moc-bien-gioi-viet.html, https://danluan.org/tin-tuc/20131007/so-sanh-vi-tri-cot-moc-bien-gioi-viet-nam-trung-quoc-voi-ban-do-cua-quan-doi-my
[3] Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc giữa Việt Nam – Trung Hoa. Công báo, Chính phủ CHXHCN Việt Nam, 634+635 tới số 640+641. http://congbao.chinhphu.vn/noi-dung-van-ban-so-36_2010_SL-LPQT-(5924)?cbid=6117
[4] Báo QĐND viết: “Đường biên giới đi qua Km0 rồi đến mốc 19 cũ và đến điểm cách điểm nối ray 148 mét về phía Bắc. Hiện nay ta đã cắm mốc 1116 và 1117 đối xứng với nhau qua quốc lộ 1A của Việt Nam, và mốc 1118 trùng vị trí mốc 19 (cũ). Như vậy, đường biên giới lịch sử tại khu vực này không những đã được tôn trọng mà còn được cụ thể hóa bằng một hệ thống cột mốc mới hiện đại”.  http://www.qdnd.vn/qdndsite/en-us/75/48397/print/Default.aspx
[5] Ông Vũ Dũng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao trả lời phỏng vấn: “Hiệp ước 1999 đã xác định đường biên giới đi qua Km 0, qua mốc 19 cũ do Pháp và nhà Thanh cắm và qua điểm nằm cách điểm nối ray 148 m về phía bắc”   http://phapluattp.vn/237883p0c1013/cam-moc-bien-gioi-tai-cua-khau-huu-nghi.htm
[6] Bị vong lục của Bộ ngoại giao nước CHXHCNVN về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lấn lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới, 15/3/1979.
[7] Bản đồ biên giới đất trên liền giữa nước CHXHCN Việt nam và nước CHND Trung Hoa. Công báo, Chính phủ CHXHCN Việt Nam, 142+149. http://congbao.chinhphu.vn/noi-dung-van-ban-so-36_2010_SL-LPQT-%285924%29?cbid=8248
[8] Trương Nhân Tuấn (2009) Biên Giới Việt Nam: vùng tiếp giáp tỉnh Quảng Tây. http://thongluan.co/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4102.
________________________________________________________
PHỤ LỤC: Trích Nghị Định Thư mô tả biên giới trong khu vực Đồng Đăng-Nam Quan
Mốc giới số 1095 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 536,71m, tọa độ địa lý 210 59’ 31,093” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 01,621” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1095, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam, đến mốc giới số 1096. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,223km.
Mốc giới số 1096 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt tại thung lũng, có độ cao là 500,47m, tọa độ địa lý 21059’ 23,876” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 00,800” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1096, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam, đến mốc giới số 1097. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,253km.
Mốc giới số 1097 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 519,99m, tọa độ địa lý 210 59’ 15,759” vĩ độ Bắc, 1060 40’ 59,436” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1097, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam, đến mốc giới số 1097/1. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,094km.
Mốc giới số 1097/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 525,25m, tọa độ địa lý 210 59’ 12,691” vĩ độ Bắc, 1060 40’ 59,339” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1097/1, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam, cắt qua khe, đến mốc giới số 1097/2. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,165km.
Mốc giới số 1097/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 524,59m, tọa độ địa lý 210 59’ 07,331” vĩ độ Bắc, 1060 40’ 59,769” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1097/2, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam – Đông Nam, đến mốc giới số 1098. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,228km.
Mốc giới số 1098 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, cạnh đường mòn, có độ cao là 472,07m, tọa độ địa lý 210 59’ 00,617” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 03,096” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1098, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam – Đông Nam 207m, đến điểm có độ cao 508m (tọa độ địa lý 210 58’ 54,50” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 06,13” kinh độ Đông), sau đó theo đường sống núi, hướng chung Nam – Đông Nam, đến mốc giới số 1099. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,559km.
Mốc giới số 1099 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên yên ngựa, cạnh đường mòn, có độ cao là 352,12m, tọa độ địa lý 210 58’ 45,641” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 12,568” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1099, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông Nam, đến mốc giới số 1100. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,655km.
Mốc giới số 1100 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên yên ngựa, cạnh đường mòn, có độ cao là 427,07m, tọa độ địa lý 210 58’ 32,279” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 28,777” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1100, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông Nam, đến mốc giới số 1101. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,620km.
Mốc giới số 1101 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 483,41m, tọa độ địa lý 210 58’ 23,132” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 41,110” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1101, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam, đến mốc giới số 1102. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,144km.
Mốc giới số 1102 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 483,23m, tọa độ địa lý 210 58’ 18,479” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 41,781” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1102, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Tây Nam, đến mốc giới số 1102/1. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,132km.
Mốc giới số 1102/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 406,05m, tọa độ địa lý 210 58’ 16,031” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 38,003” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1102/1, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam – Đông Nam, đến mốc giới số 1102/2. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,086km.
Mốc giới số 1102/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 399,14m, tọa độ địa lý 210 58’ 13,408” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 39,026” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1102/2, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Nam, cắt qua một đường mòn, đến điểm có độ cao 470m (đo trên bản đồ), sau đó theo đường sống núi, hướng chung Tây Nam, đến mốc giới số 1103. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,576km.
Mốc giới số 1103 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên yên ngựa, có độ cao là 333,73m, tọa độ địa lý 210 58’ 00,423” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 29,282” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1103, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung là hướng Nam, đến mốc giới số 1103/1. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,374km.
Mốc giới số 1103/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 371,35m, tọa độ địa lý 210 57’ 50,349 vĩ độ Bắc, 1060 41’ 30,442” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1103/1, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông – Đông Bắc 21m, đến điểm có độ cao 382m trên đỉnh núi (tọa độ địa lý 210 57’ 50,60” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 31,10” kinh độ Đông), sau đó theo đường thẳng hướng Đông 43m, đến mốc giới số 1103/2. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,064km.
Mốc giới số 1103/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, cạnh đường mòn, có độ cao là 347,15m, tọa độ địa lý 210 57’ 50,396” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 32,564” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1103/2, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông Bắc, đến điểm có độ cao 361m (tọa độ địa lý 210 57’ 52,73” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 35,56” kinh độ Đông), sau đó theo đường thẳng, hướng Đông – Đông Nam, đến mốc giới số 1104. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,142km.
Mốc giới số 1104 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt ở phía Tây đường cái từ Cốc Nam (Việt Nam) đến Long Huai (Trung Quốc), có độ cao là 311,30m, tọa độ địa lý 210 57’ 52,450” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 36,536” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1104, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông, cắt qua đường cái từ Cốc Nam (Việt Nam) đến Long Huai (Trung Quốc), đến mốc giới số 1105. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,018km.
Mốc giới số 1105 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt ở phía Đông đường cái từ Cốc Nam (Việt Nam) đến Long Huai (Trung Quốc), có độ cao là 312,24m, tọa độ địa lý 210 57’ 52,477” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 37,169” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1105, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông, đến mốc giới số 1106. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,064km.
Mốc giới số 1106 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 359,50m, tọa độ địa lý 210 57’ 52,564” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 39,392” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1106, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung là hướng Nam, đến mốc giới số 1107. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,278km.
Mốc giới số 1107 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, cạnh đường mòn, có độ cao là 349,00m, tọa độ địa lý 21057’ 43,879” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 40,948” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1107, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông – Đông Bắc, đến mốc giới số 1108. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,127km.
Mốc giới số 1108 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 418,39m, tọa độ địa lý 210 57’ 45,315” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 45,103” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1108, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông Nam, đến mốc giới số 1109. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,132km.
Mốc giới số 1109 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên yên ngựa, có độ cao là 369,28m, tọa độ địa lý 210 57’ 42,149” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 48,174” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1109, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông – Đông Nam, đến mốc giới số 1110. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,313km.
Mốc giới số 1110 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 412,29m, tọa độ địa lý 210 57’ 37,392” vĩ độ Bắc, 1060 41’ 56,223” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1110, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông Bắc, đến điểm có độ cao 436m (tọa độ địa lý 210 57’ 42,86” vĩ độ Bắc, 106042’ 03,91” kinh độ Đông) sau đó theo đường sống núi, hướng chung Bắc – Đông Bắc, đến mốc giới số 1111. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,574km.
Mốc giới số 1111 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên yên ngựa, có độ cao là 407,72m, tọa độ địa lý 210 57’ 49,014” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 07,858” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1111, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung là hướng Bắc, đến điểm có độ cao 430m (đo trên bản đồ), sau đó theo đường thẳng, hướng Đông Nam, đến mốc giới số 1112. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,284km.
Mốc giới số 1112 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên yên ngựa, cạnh đường mòn, có độ cao là 404,38m, tọa độ địa lý 210 57’ 54,797” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 10,083” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1112, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông Nam, đến điểm có độ cao 430m (đo trên bản đồ), sau đó theo đường sống núi, hướng chung Bắc – Đông Bắc, đến mốc giới số 1113. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,536km.
Mốc giới số 1113 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 462,77m, tọa độ địa lý 210 58’ 05,022” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 18,931” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1113, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông Bắc, đến mốc giới số 1114. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,354km.
Mốc giới số 1114 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 390,14m, tọa độ địa lý 21058’ 12,413” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 28,406” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông, đến mốc giới số 1114/1. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,044km.
Mốc giới số 1114/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 360,47m, tọa độ địa lý 210 58’ 12,392” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 29,923” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/1, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Bắc, đến mốc giới số 1114/2. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,222km.
Mốc giới số 1114/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 347,79m, tọa độ địa lý 210 58’ 19,589” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 29,658” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/2, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Bắc, đến mốc giới số 1114/3. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,128km.
Mốc giới số 1114/3 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 376,79m, tọa độ địa lý 210 58’ 23,707” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 29,078” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/3, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Tây – Tây Bắc, đến mốc giới số 1114/4. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,053km.
Mốc giới số 1114/4 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 397,11m, tọa độ địa lý 210 58’ 24,670” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 27,540” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/4, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Bắc, đến mốc giới số 1115. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,141km.
Mốc giới số 1115 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 421,69m, tọa độ địa lý 210 58’ 29,263” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 27,763” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1115, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông – Đông Nam, qua điểm có độ cao 359m, đến điểm có độ cao 334m (tọa độ địa lý 210 58’ 25,57” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 39,35” kinh độ Đông), sau đó theo đường thẳng hướng Đông, đến mốc giới số 1116. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,398km.
Mốc giới số 1116 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa cương, có gắn quốc huy, đặt trên sườn núi, phía Tây đường cái từ cửa khẩu Hữu Nghị (Việt Nam) đi Hữu Nghị Quan (Trung Quốc), có độ cao là 312,30m, tọa độ địa lý 210 58’ 25,419” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 40,798” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1116, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông, qua Km0, cắt qua đường cái từ cửa khẩu Hữu Nghị (Việt Nam) đi Hữu Nghị Quan (Trung Quốc), đến mốc giới số 1117. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,085km.
Mốc giới số 1117 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa cương, có gắn quốc huy, đặt trên sườn núi, phía Đông đường cái từ cửa khẩu Hữu Nghị (Việt Nam) đi Hữu Nghị Quan (Trung Quốc), có độ cao là 312,50m, tọa độ địa lý 210 58’ 25,138” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 43,744” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1117, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông – Đông Bắc, đến mốc giới số 1118. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,034km.
Mốc giới số 1118 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sườn núi, có độ cao là 320,63m, tọa độ địa lý 210 58’ 25,625” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 44,789” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1118, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung là hướng Nam, qua điểm có độ cao 364m (tọa độ địa lý 210 58’ 22,87” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 45,52” kinh độ Đông), đến mốc giới số 1119. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,165km.
Mốc giới số 1119 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 350,96m, tọa độ địa lý 210 58’ 20,386” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 45,328” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1119, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung là hướng Đông, đến mốc giới số 1120. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,201km.
Mốc giới số 1120 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 320,91m, tọa độ địa lý 210 58’ 20,184” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 51,888” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1120, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông, đến mốc giới số 1121. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,062km.
Mốc giới số 1121 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa cương, có gắn quốc huy, đặt trên dốc núi, có độ cao là 294,96m, tọa độ địa lý 210 58’ 19,949” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 54,029” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1121, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông, cắt qua một con suối và đường sắt từ Đồng Đăng (Việt Nam) đi Bằng Tường (Trung Quốc), đến mốc giới số 1122. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,072km.
Mốc giới số 1122 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa cương, có gắn quốc huy, đặt ở phía Đông đường sắt từ Đồng Đăng (Việt Nam) đi Bằng Tường (Trung Quốc), có độ cao là 294,33m, tọa độ địa lý 210 58’ 20,001” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 56,545” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1122, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông, đến điểm có độ cao 315m ( tọa độ địa lý 21058’ 20,02” vĩ độ Bắc, 1060 42’ 57,75” kinh độ Đông), sau đó theo đường sống núi, hướng chung Bắc – Đông Bắc, đến mốc giới số 1123. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,259km.
Mốc giới số 1123 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 354,12m, tọa độ địa lý 210 58’ 26,722” vĩ độ Bắc, 1060 43’ 00,748” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1123, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Đông – Đông Bắc, qua điểm có độ cao 368m (tọa độ địa lý 210 58’ 26,90” vĩ độ Bắc, 1060 43’ 07,17” kinh độ Đông), đến mốc giới số 1124. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,472km.
Mốc giới số 1124 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi Co Mìn, có độ cao là 403,68m, tọa độ địa lý 210 58’ 32,425” vĩ độ Bắc, 1060 43’ 14,054” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1124, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông Bắc, cắt qua một đường mòn, đến mốc giới số 1125. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,320km.
Mốc giới số 1125 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 368,86m, tọa độ địa lý 210 58’ 40,967” vĩ độ Bắc, 1060 43’ 20,436” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1125, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Bắc – Đông Bắc, cắt qua một con suối, đến mốc giới số 1126. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,113km.
Mốc giới số 1126 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi nhỏ, có độ cao là 360,80m, tọa độ địa lý 210 58’ 44,032” vĩ độ Bắc, 1060 43’ 22,579” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1126, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông Bắc, cắt qua khe, đến mốc giới số 1127. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,272km.
Mốc giới số 1127 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 430,25m, tọa độ địa lý 210 58’ 50,717” vĩ độ Bắc, 106043’ 28,775” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1127, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Bắc – Đông Bắc, đến mốc giới số 1128. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,941km.
Mốc giới số 1128 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 610,97m, tọa độ địa lý 210 59’ 13,022” vĩ độ Bắc, 1060 43’ 42,315” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1128, đường biên giới theo đường sống núi, hướng chung Bắc – Đông Bắc, đến mốc giới số 1129. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,994km.
Mốc giới số 1129 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 612,69m, tọa độ địa lý 21059’ 41,964” vĩ độ Bắc, 106043’ 49,942” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1129, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Bắc – Đông Bắc, đến mốc giới số 1130. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,311km.
Mốc giới số 1130 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 550,78m, tọa độ địa lý 210 59’ 50,422” vĩ độ Bắc, 10643’ 55,901” kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1130, đường biên giới theo đường thẳng, hướng Đông Bắc, cắt qua khe, đến mốc giới số 1131. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,327km.
P.Q.T. – P.V.S.
Các tác giả gửi trực tiếp cho BVN
Advertisements

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: