Những lưu ý về dân chủ hóa từ Samuel P. Huntington


Những lưu ý về dân chủ hóa từ Samuel P. Huntington (1) (pro&contra).

Tháng 12 16, 2013
Phạm Hồng Sơn biên soạn
The third wave – democratization in the late twentieth century (tạm dịch: Làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba vào cuối thế kỷ XX) là một trong những công trình nghiên cứu quan trọng của Samuel P. Huntington [i]. Như nhan đề đã nêu, trong tác phẩm này, Huntington tập trung vào hiện tượng chuyển đổi hệ thống chính trị từ phi dân chủ (độc tài) sang dân chủ của tập hợp khoảng 30 quốc gia trên qui mô toàn thế giới diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1974 tới năm 1990 [ii].

Tác phẩm dày hơn 300 trang (khổ 13,9cm×20,8cm), xuất bản lần đầu năm 1991, gồm 06 chương, đi từ những vấn đề có tính khái quát cơ bản về dân chủ, sự phát triển dân chủ trên thế giới trong thời hiện đại, các yếu tố tạo thành làn sóng dân chủ hóa rồi đi tới khảo sát, phân tích các tác nhân, những đặc tính, các vấn đề, thách thức hệ trọng đối với làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba. Về lý do ra đời tác phẩm, Huntington, học giả chính trị và công dân Hoa Kỳ, viết rõ: “vì tôi tin dân chủ có tính lương thiện tự thân và…nó mang tới những hệ quả tốt đẹp cho tự do cá nhân, cho hòa bình thế giới và cho cả Hoa Kỳ.” [iii] Nhưng, ngay trong lời tựa, Huntington đã bày sự lo lắng về hiểu lầm có thể của người đọc: “tác phẩm này đề cập tới cả hai khía cạnh lý thuyết và lịch sử, nhưng đây không phải là công trình có tính học thuyết hay sử liệu…Nghiên cứu này không đưa ra mô hình tổng quát cho tiến trình dân chủ hóa những năm 1970 và 1980, cũng không mô tả bất kỳ một tiến trình dân chủ hóa riêng biệt của quốc gia nào. Tác phẩm này chỉ nhằm cố gắng lý giải và phân tích một tập hợp các chế độ có sự chuyển đổi (từ độc tài sang dân chủ) trong một thời đoạn nhất định.” [iv] Tiếp tục với tinh thần học thuật nghiêm cẩn như thế, Huntington nhắc lại nguyên tắc khách quan trong nghiên cứu của mình: “Giống như trong Political Order [v], tôi cũng cố hết sức để đảm bảo các phân tích không bị ảnh hưởng bởi những giá trị, thiên hướng, sở thích của bản thân, ít nhất trong 95% nội dung.[vi] Nhưng, như tự nhận là một người yêu và kỳ vọng ở dân chủ, Huntington thổ lộ: “Tuy nhiên, dường như mỗi khi thấy hữu ích tôi cũng đã làm rõ thêm những ý nghĩa trong phân tích của tôi cho những người đang muốn dân chủ hóa đất nước họ. Vì vậy có năm (05) chỗ tôi đã tạm gác lại vai trò của người làm khoa học xã hội để đóng vai một nhà tư vấn chính trị và đưa ra năm bộ ‘chỉ dẫn cho các nhà dân chủ hóa’.” [vii]

Bên cạnh năm bộ chỉ dẫn cụ thể đó, toàn bộ tác phẩm cũng có thể được coi là một tập tham chiếu cho bất cứ ai quan tâm đến dân chủ hóa – một công cuộc phức tạp và hệ trọng. Để có thể giúp một số độc giả Việt Nam – những người quan tâm tới dân chủ hóa nhưng chưa có điều kiện xem tác phẩm một cách trọn vẹn – nắm bắt một cách nhanh nhất nhưng không quá thiếu sót về những gì Huntington muốn lưu ý, gửi gắm tới các nhà dân chủ hóa, tôi xin giới thiệu ba phần sau đây tới quí độc giả:
A. Những vấn đề cơ sở. B. Năm bộ hướng dẫn cho các nhà dân chủ hóa. C. Một số lưu ý quan trọng khác. (Trong đó phần A và C là lược thuật, phần B là dịch).
A. Những vấn đề cơ sở
I. Đối tượng nghiên cứu và biến số [viii]
– Đối tượng nghiên cứu ở đây là dân chủ hóa (democratization), là sự chuyển đổi thể chế chính trị, chứ không phải dân chủ (democracy) hay bản chất của chế độ hiện hành.
– Biến số phụ thuộc (dependent variable) là dân chủ hóa. Biến số phân biệt (dichotomous variable)  là dân chủ. Còn các biến số độc lập (independent variable) là các vấn đề như kinh tế, cấu trúc xã hội, niềm tin tôn giáo, đặc tính văn hóa, ngoại nhân v.v. Nói cách khác, Huntington khảo sát sự biến đổi, tương tác của các yếu tố kinh tế, xã hội, tôn giáo, văn hóa, ngoại nhân… ảnh hưởng tới tiến trình dân chủ hóa một chế độ độc tài trên cơ sở những tiêu chí đã định về dân chủ.
II. Các yếu tố thuận lợi cho dân chủ và dân chủ hóa [ix]
Huntington có dành một phần riêng [x] để bàn khá thú vị về ý nghĩa và những cách định nghĩa, định dạng dân chủ, nhưng để đơn giản hóa, chúng ta hãy coi như đã thống nhất với nhau về khái niệm dân chủ và ở đây chỉ lưu tâm tới các yếu tố hữu ích cho dân chủ và quá trình tiến tới nó –tức dân chủ hóa – theo nhãn quan của Huntington, như sau:
1. Thịnh vượng về kinh tế nói chung ở mức cao.
2. Phân phối về thu nhập và/hoặc sự thịnh vượng tương đối bình đẳng.
3. Kinh tế thị trường.
4. Kinh tế phát triển và xã hội có sự hiện đại hóa.
5. Lịch sử từng có giai cấp quí tộc phong kiến.
6. Không còn tư tưởng phong kiến.
7. Giai cấp tư sản mạnh. (Barrington Moore đúc kết: “Không tư sản, không dân chủ.”)
8. Tầng lớp trung lưu mạnh.
9. Tỷ lệ biết chữ và trình độ học vấn cao.
10. Văn hóa thiên về “ăn để sống” hơn là “sống để ăn”.[xi]
11. Tôn giáo Tin lành.
12. Xã hội có tính đa nguyên và các nhóm trung gian trong xã hội mạnh mẽ.
13. Tính cạnh tranh chính trị được phát triển trước việc tham gia chính trị được mở rộng.
14. Các nhóm, hội đoàn dân sự có cấu trúc, vận hành kiểu dân chủ, đặc biệt các nhóm có liên hệ gần với chính trị.
15. Bạo lực, xô xát trong xã hội ở mức độ thấp.
16. Sự phân cực làm hai và tư tưởng cực đoan trong chính trị ở mức thấp.
17. Các thủ lĩnh chính trị có tư tưởng gắn bó với dân chủ.
18. Từng là thuộc địa của Anh.
19. Truyền thống bao dung và thỏa hiệp.
20. Từng bị lực lượng ngoại bang dân chủ chiếm đóng.
21. Ảnh hưởng của ngoại bang dân chủ.
22. Giới tinh hoa muốn rập khuôn các nước dân chủ.
23. Truyền thống trọng luật và tự do cá nhân.
24. Tính đồng nhất trong cộng đồng (về chủng tộc, nguồn gốc, tôn giáo).
25. Tính đa dạng trong cộng đồng (về chủng tộc, nguồn gốc, tôn giáo).
26. Đồng thuận về các giá trị chính trị và xã hội.
27. Thiếu đồng thuận về các giá trị chính trị và xã hội.
III. Các thành phần chính tham dự vào dân chủ hóa [xii]
Qua khảo sát làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba, Huntington nhận thấy tham dự vào các tiến trình chuyển đổi chính trị phức tạp đó là rất nhiều các thành phần khác nhau với các mục tiêu khác nhau, vì quyền lực, vì dân chủ hay chống dân chủ và cả vì nhiều mục đích khác. Căn cứ vào thái độ của các thành phần đó trong tiến trình dân chủ hóa, Huntington đã khái quát thành năm (05) nhóm chính thuộc hai phía:
1. Phía chính quyền độc tài: gồm ba (03) nhóm:
– Nhóm cứng đầu (standpatter) (1a);
– Nhóm cải cách theo hướng tự do (liberal refomer) (1b);
– Nhóm cải cách theo hướng dân chủ (democratic reformer) (1c).
2. Phía đối lập với chính quyền độc tài: gồm hai (02) nhóm:
– Nhóm cực đoan kiểu cách mạng (revolutionary extremist) (2a);
– Nhóm dân chủ ôn hòa (democratic moderate) (2b).
XU HƯỚNG THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI DÂN CHỦ
CHỐNG
THUẬN LỢI
CHỐNG
Chính quyền độc tài
Nhóm cải cách
Nhóm cứng đầu (1a)
Tự do hóa (1b)
Dân chủ hóa (1c)
Đối lập
Nhóm cực đoan (2a)
Nhóm dân chủ ôn hòa (2b)
Các thành phần tham dự chính yếu đó, nói chung, có cả hai loại mục tiêu giống nhau và đối kháng lẫn nhau.
Nhóm (1a) mâu thuẫn với cả (1b) và (1c) về vấn đề tự do hóa hoặc dân chủ hóa, nhưng cả ba đều có chung một mục tiêu là: chống, kìm giữ đối lập.
Nhóm (2a) và (2b) cùng có mục tiêu là phản kháng chính quyền hiện tại, giành quyền lực nhưng bất đồng về cách thức tiến hành và mô hình chính quyền tương lai.
Nhóm (1c) và (2a) có chung mục đích tạo dựng dân chủ nhưng chia rẽ về cách tiến hành, phí tổn và cơ cấu phân bổ quyền lực.
Nhóm (1a) và (2a) đối kháng tuyệt đối về quyền lực nhưng lại có cùng thiên hướng muốn gây suy yếu các nhóm dân chủ và duy trì tình trạng đối đầu thái cực trong chính trị.
Nhưng, thái độ và mục đích của các thành phần và cá nhân tham dự đều có thể biến đổi trong tiến trình, có thể tốt lên hay xấu đi cho dân chủ.
IV. Ba dạng chuyển đổi
Tương quan sức mạnh giữa 05 nhóm kể trên sẽ quyết định tới dạng thức tiến trình dân chủ hóa.
Nếu nhóm cứng đầu (1a) áp đảo trong chính quyền độc tài và nhóm cực đoan (2a) áp đảo phía đối lập, dân chủ hóa không thể xảy ra.
Đương nhiên, khi nhóm dân chủ có lực lượng vượt trội cả trong chính quyền độc tài (1c) và phía đối lập (2b) thì dân chủ hóa sẽ rất thuận lợi.
Khi nhóm dân chủ (2b) chỉ mạnh ở phía đối lập thì dân chủ hóa phụ thuộc vào các hoạt động gây tổn hại cho chính quyền độc tài và tăng cường sức mạnh của phía đối lập.
Nếu nhóm dân chủ (1c) chỉ mạnh ở phía chính quyền thì tiến trình dân chủ hóa có khả năng phải đối mặt với các hoạt động nổi loạn có vũ trang và sẽ bị thụt lùi do nhóm cứng đầu (1a) trong chính quyền độc tài tiến hành lật đổ để khống chế toàn bộ chính quyền.
Qua phân tích và quan sát sự tương tác giữa các nhóm kể trên, Huntington khái quát thành ba dạng thức dân chủ hóa sau đây:
1. Chuyển hóa (transformation[xiii]
Điểm cơ bản của dạng thức này là những người nằm trong chính quyền độc tài nắm vai trò điều khiển và quyết định tiến trình dân chủ hóa. Ba điều kiện cần cho dạng thức này: 1. Nhóm cải cách (1b và 1c) mạnh hơn nhóm cứng đầu (1a) trong nội bộ chính quyền. 2. Chính quyền độc tài mạnh hơn phía đối lập. 3. Nhóm ôn hòa (2b) mạnh hơn nhóm cực đoan (2a) ở phía đối lập.
Dạng chuyển đổi chuyển hóa chiếm 16 trong số 35 chuyển đổi chế độ trong làn sóng dân chủ hóa lần ba. Các trường hợp điển hình: Tây Ban Nha, Brazil và Hungary.
Chuyển hóa trong làn sóng dân chủ hóa lần ba thường diễn tiến qua năm (05) giai đoạn:
1.1. Xuất hiện nhóm cải cách [xiv]
Có 05 loại lãnh đạo (chính trị gia) có nhận thức cho rằng cần (hoặc tất yếu) phải chuyển động theo hướng dân chủ.
Loại 1: Những lãnh đạo có nhận định rằng những phí tổn, thiệt hại để duy trì quyền lực – như khống chế, chính trị hóa quân đội, duy trì các liên minh ủng hộ, vật lộn với các nan đề (thường là kinh tế) và gia tăng trấn áp đối lập – đã đạt đến điểm cần phải tìm một lối thoát trong danh dự (Chile, Peru).
Loại 2: Những lãnh đạo muốn giảm các nguy cơ, rủi ro cho bản thân một khi bị mất quyền lực. Tư tưởng chính của những người này là thà mất quyền còn hơn mất mạng.
Loại 3: Những lãnh đạo dự đoán nhầm về thực thi dân chủ. Họ tin tưởng nếu tiến hành một số những cải cách theo hướng thực hiện (hoặc phục hồi) một số thủ tục dân chủ thực sự (như bầu cử tự do, công bằng) thì tính chính đáng và quyền lực (độc đoán) sẽ được củng cố. Nhưng thực tế không diễn ra như thế (Ấn Độ, Chile, Thổ Nhĩ Kỳ).
Loại 4: Những lãnh đạo tin rằng dân chủ hóa sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước họ như tăng vị thế quốc tế cho quốc gia, giảm trừng phạt từ Hoa Kỳ hay từ quốc tế, tiếp cận được với các định chế tài chính quốc tế, được tham gia vào các tổ chức quốc tế, được tới Hoa Kỳ, vân vân.
Loại 5: Những lãnh đạo tin rằng dân chủ là một dạng thức cầm quyền đúng đắn và đất nước họ đã tới lúc phải có một hệ thống chính trị dân chủ như các quốc gia dân chủ và được kính trọng khác trên thế giới (Tây Ban Nha, Brazil, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ).
1.2. Nhóm cải cách nắm quyền [xv]
Đương nhiên, xuất hiện tư tưởng cải cách dân chủ hóa trong chính quyền chưa đủ, nhóm này cần phải có được thực quyền trong chính quyền độc tài. Bốn (4) cơ hội thường đưa tới việc nắm quyền của nhóm cải cách trong làn sóng thứ ba:
Cơ hội 1: Chính các nhà độc tài khởi xướng bầu cử dân chủ thực sự và chấp nhận kết quả mà phần thắng thuộc về nhóm cải cách (Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Chile).
Cơ hội 2: Cái chết của nhà độc tài sáng lập (hay kỳ cựu) vào đúng thời điểm thuận lợi cho nhóm cải cách lên nắm quyền. (Tây Ban Nha, Đài Loan, Liên Xô). Riêng Trung Quốc đã rất không may ở điểm này: Đặng Tiểu Bình chết quá muộn (năm 1997, chín năm sau sự kiện biểu tình đòi dân chủ kéo dài ở Thiên An Môn năm 1989.)
Cơ hội 3: Bản thân hệ thống chính trị độc tài đã thiết lập cơ chế thay đổi quyền lực thường kỳ. Và một thay đổi thường lệ, hội thêm những điều kiện khác, đã đưa các nhà lãnh đạo cải cách lên nắm quyền áp đảo (Brazil, Mexico).
Cơ hội 4: Các nhà cải cách hợp nhau lại để phế truất, bằng đảo chính hoặc qua kỹ thuật chính trị, nhà lãnh đạo cứng đầu để thế bằng người có tư tưởng vị dân chủ (Peru, Ecuador, Guatemala, Nigeria, Hungary, Bulgaria, Nam Phi).
1.3. Sự thất bại của tự do hóa [xvi]
Huntington nhận thấy một vấn đề cốt tử trong làn sóng dân chủ hóa lần ba là vai trò của những nhà cải cách (theo xu hướng) tự do và tính ổn định của thể chế độc tài đã được tự do hóa.
– Những nhà cải cách tự do đầu tiên thay thế những lãnh đạo cứng đầu thường chỉ tại vị ngắn ngủi và tiếp tục được thay thế bằng những nhà cải cách khác có thiên hướng mạnh hơn về dân chủ.
– Đa phần những nhà cải cách tự do chỉ muốn thay đổi chứ không muốn chấm dứt chế độ mà họ đã tham gia, cống hiến gần hết sự nghiệp vào đó. Họ thường chỉ muốn làm cho chế độ độc tài dễ được xã hội chấp nhận hơn và tiếp tục duy trì bản chất độc đoán.
– Quá trình tự do hóa đưa đến điểm, có thể gọi là điểm bế tắc vàng: Kích thích ước muốn dân chủ hóa mạnh hơn của xã hội và gia tăng ý muốn trấn áp tự do của một số thành phần có quyền. Bế tắc thường thể hiện bằng sự đụng độ, va chạm giữa một phía gia tăng các đòi hỏi, yêu cầu, yêu sách, phản kháng chính quyền và phía kia, các phản ứng đe dọa, sách nhiễu, gây hấn, trấn áp.
– Giai đoạn này có những tiến triển xấu đi và tốt lên (cho dân chủ) xen kẽ nhau.
1.4. Khống chế nhóm cứng đầu [xvii]
Bản thân nhóm cứng đầu trong chính quyền (1a) luôn có xu hướng bẻ gãy hoặc làm chậm quá trình chuyển đổi về phía dân chủ. Khi điểm bế tắc vàng xảy ra, xu hướng chống cải cách của nhóm cứng đầu càng mạnh hơn. Trước thách thức thoái lui này, nhóm cải cách thường phải thực hiện được các điểm sau:
– Tập trung quyền lực cho bộ phận lãnh đạo cao cấp có xu hướng cải cách.
– Thanh tẩy – đưa – các yếu tố cứng đầu ra khỏi các khu vực quan trọng (như chính phủ, quân đội, đảng cầm quyền,…) và thay thế ngay bằng những người ủng hộ cải cách. Việc thanh tẩy này được thực hiện qua nhiều kỹ thuật và kinh nghiệm tinh tế: gây trung lập, trấn an, vận động, thỏa hiệp… sao cho không khích động ra những phản ứng thái quá, cũng như có thể gây được thêm rạn nứt trong giới cứng đầu.
– Một chiến thuật thường thấy trong các chế độ độc tài phi quân sự: các nhà cải cách tạo ra một tính “chính đáng hồi cố” (backward legitimacy) gần gũi với tính chính đáng trước đó để tạo ra cảm giác kế tục quá khứ nhằm đạt được sự đồng thuận từ mọi giới, ngoại trừ duy nhất nhóm đối lập cực đoan (2a), nhằm trấn an và bất hoạt nhóm cứng đầu trong chính quyền (1a).
– Những lãnh đạo cải cách thành công ở giai đoạn này thường là những người nhạy bén về chính trị, linh hoạt về đối pháp, vững vàng về dân chủ.
1.5. Thu nạp đối lập [xviii]
Một khi đã nắm được quyền và khống chế được nhóm cứng đầu, những lãnh đạo cải cách phải tăng tốc ngay tiến trình dân chủ hóa bằng việc tiếp xúc, tham vấn các lãnh đạo đối lập và các nhóm xã hội quan trọng để tiếp tục gia tăng sự đồng thuận, tôn tạo thêm cơ sở chính trị cũng như mở rộng thêm sự tham gia chính quyền cho phía đối lập.
– Các tiếp xúc, bàn thảo với phía đối lập (nói chung) có thể diễn ra dưới hình thức: công khai-ngầm (kín), chính thức-không chính thức.
– Những lãnh đạo cải cách thành công thường dùng áp lực gia tăng của các nhóm dân chủ (2b) để gây suy yếu nhóm cứng đầu (1a); dùng các đòi hỏi mạnh tay của nhóm cứng đầu (1a) và kỳ vọng được chia sẻ quyền lực để gia tăng sự ôn hòa ở phía đối lập.
– Tính ôn hòa và sự hợp tác của các nhóm đối lập dân chủ với nhóm lãnh đạo cải cách trong chính quyền có vai trò rất quan trọng cho chuyển hóathành công.
2. Thay thế-lật đổ (replacement)[xix]
Điểm cơ bản của dạng chuyển đổi này là chính quyền độc tài không có các nhân tố cải cách hoặc họ hoàn toàn bị áp đảo bởi nhóm cứng đầu nhất quyết chống lại mọi thay đổi chế độ. Dân chủ hóa do đối lập xúc tiến, chính quyền suy yếu dẫn đến sụp đổ hoặc bị lật đổ.  Điều kiện cần cho thay thế-lật đổ xảy ra: 1. Phía đối lập tăng cường được sức mạnh. 2. Đồng thời, chính quyền độc tài bị suy yếu dần.
Thay thế-lật đổ là dạng chuyển đổi ít thấy nhất trong làn sóng dân chủ hóa lần ba (tổng số có 06: Bồ Đào Nha, Philippines, Rumani, Đông Đức, Argentina, Hy Lạp). Càng hiếm thấy đối với các chế độ độc tài độc đảng (có 1/11) hay độc tài quân sự (2/16). Nhưng nhiều hơn đối với độc tài cá nhân (3/7).
Thay thế-lật đổ thường có ba giai đoạn: 1. Xúc tiến các hoạt động để thay thế-lật đổ. 2. Thay thế-lật đổ. 3. Cạnh tranh giữa các nhóm đối lập hậu độc tài.
Thay thế-lật đổ trong làn sóng dân chủ hóa lần ba có một số điểm quan trọng:
– Quân đội đóng vai trò chính yếu (5/6 trường hợp): khi quân đội rút sự ủng hộ, khi quân đội tiến hành chống đối chính quyền hoặc khi quân đội từ chối dùng vũ lực chống phe đối lập, chế độ độc tài đều sụp đổ.
– Các trường hợp quân đội không bắn vào người biểu tình chống chính quyền là những trường hợp quốc gia đã có độ phát triển kinh tế khá cao và phía đối lập đã huy động được sự ủng hộ rộng rãi thuộc nhiều thành phần xã hội.
– Điểm sụp đổ của chế độ độc tài thường là đỉnh điểm gặp nhau của sự bất hợp tác hoặc biến thành chống đối chính quyền, tham gia vào đối lập của rất nhiều yếu tố, thành phần (giới trung lưu, cộng đồng tôn giáo, sinh viên, giới doanh nhân cao cấp, trí thức tinh hoa, đối tác nước ngoài như Hoa Kỳ,…)
– Các lãnh đạo độc tài bị lật đổ thường có kết cục không có hậu.
– Thường có một khoảng trống quyền lực, ngắn dài tùy thuộc tình trạng riêng từng bối cảnh, sau khi chế độ độc tài sụp đổ.
– Không xuất hiện tính “chính đáng hồi cố” như trong chuyển hóa, thay vào đó là sự áp đảo của chủ trương dứt bỏ hoàn toàn với quá khứ.
– Số phận của dân chủ được định đoạt bởi tương quan sức mạnh giữa nhóm đối lập dân chủ ôn hòa với nhóm đối lập cực đoan phi dân chủ.
3. Hóa thế (Transplacement) [xx]
Đặc trưng cơ bản của dạng chuyển đổi hóa thế là sự tương tác, phối hợp giữa nhóm cải cách (1b, 1c) phía chính quyền độc tài và nhóm ôn hòa phía đối lập (2b). Điều kiện cần cho hóa thế xảy ra: 1. Tương quan lực lượng giữa nhóm cải cách (1b, 1c) và nhóm cứng đầu (1a) trong chính quyền độc tài ở thế đưa tới khả năng chấp nhận đàm phán nhưng không chấp nhận chuyển đổi. 2. Nhóm ôn hòa (2b) chiếm thế áp đảo ở phía đối lập nhưng không đủ mạnh để lật đổ chính quyền.
Đã có 11 hóa thế xảy ra trong tổng số 35 chuyển đổi của làn sóng dân chủ hóa lần ba. Các trường hợp điển hình: Ba Lan, Cộng hòa Tiệp Khắc, Nam Hàn, Nam Phi.
Hóa thế thường trải qua một loạt gồm 04 giai đoạn liên tiếp và khác biệt:
1. Chính quyền độc tài thực hiện một số tự do hóa và bắt đầu bị mất dần quyền lực, quyền uy.
2. Đối lập tận dụng cơ hội kể trên để mở rộng sự ủng hộ và gia tăng hoạt động gây áp lực với kỳ vọng sớm thay thế-lật đổ được chính quyền.
3. Chính quyền phản ứng mạnh nhằm hạn chế, triệt hạ sự phát triển của đối lập. Căng thẳng, đụng độ giữa hai phía bùng nổ.
4. Cả hai phía, chính quyền độc tài và đối lập, đều nhận ra tình trạng bế tắc và bắt đầu thăm dò những khả năng chuyển đổi bằng đối thoại, đàm phán. (giai đoạn này có thể không xảy ra, khi: Sau một thay đổi về lãnh đạo, phía chính quyền đột ngột dùng cảnh sát và quân đội trấn áp tàn bạo đối lập; hoặc phía đối lập gia tăng được sức mạnh khiến chính quyền sụp đổ.
Một số lưu ý khác trong hóa thế:
– Tương quan sức mạnh giữa đối lập và chính quyền ở mức khá tương đương tới mức khiến cho nguy cơ đụng độ, thảm họa dễ xảy ra hơn là khả năng đàm phán, thỏa hiệp.
– Trong chính quyền thường có những yếu tố vận động, gây áp lực giới lãnh đạo cao nhất hướng tới đối thoại với đối lập.
– Nhóm ôn hòa phía đối lập phải đủ mạnh để gây tin tưởng trong đàm phán.
– Đối lập dễ chấp nhận đàm phán hơn khi chính quyền không quá bạo lực và trong chính quyền có các nhân vật ủng hộ việc chia sẻ quyền lực. Phía chính quyền dễ đi đến đối thoại hơn nếu phía đối lập không dùng bạo lực và có các thành phần đã từng tham dự chính thức trong chính quyền.
– Các chiến dịch của đối lập trên đường phố, thực địa (biểu tình, bãi công, bãi khóa, tuần hành,…) có diễn tiến lên xuống, trồi sụt lặp lại và kéo dài tương ứng với các đối phó, trấn áp của chính quyền (phong tỏa, bạo hành, bắt bớ, thiết quân luật,…).
– Giai đoạn tiền đối thoại (đàm phán) gần như là bắt buộc phải xảy ra: đối lập chấp nhận thuyên giảm hoặc hứa từ bỏ một số loại hoạt động áp lực,…; chính quyền thả tù chính trị, công nhận tính chính đáng của một số nhóm (cá nhân) đối lập,…
– Đàm phán luôn có tính mong manh và cả hai bên đều gặp cùng một khó khăn: bị các nhóm khác trong phe mình phản đối đàm phán hoặc bác bỏ kết quả đám phán.
– Đàm phán thất bại sẽ là cơ hội cho nhóm cứng đầu (1a) và cực đoan (2a) giành lại quyền kiểm soát tình hình (trong chính quyền và đối lập).
– Các đàm phán thành công thường được dựa trên nền tảng đảm bảo để không ai bị mất tất cả (phía chính quyền được đảm bảo không bị truy tố, trừng phạt vì những bạo hành trong quá khứ,…; phía đối lập được đảm bảo chia sẻ quyền lực,…)
(Ranh giới giữa chuyển hóa và hóa thế thường không rõ ràng, trong một số trường hợp có thể xếp lẫn sang nhau.)
(Còn tiếp 2 kì)
© Phạm Hồng Sơn & pro&contra

[i] Samuel P. Huntington (1927-2008), giáo sư chính trị học tại các đại học Harvard, Columbia, học giả có ảnh hưởng của Hoa Kỳ, đồng sáng lậpForeign Policy, từng làm tư vấn cho Bộ Ngoại giao, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ và cố vấn cho một số chính quyền nước ngoài. Một tác phẩm của Huntington đã được dịch ra tiếng Việt: The clash of civilizations and the remaking of world order (1996), do Nxb Lao Động ấn hành năm 2005 với nhan đề Sự va chạm của các nền văn minh.
[ii] Tập hợp các  quốc gia này gồm: Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ecuador, Peru, Bolivia, Argentina, Uruguay, Brazil, Honduras, Salvadoran, Guatemala, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Nam Hàn, Đài Loan, Hungary, Ba Lan, Đông Đức, Tiệp, Rumani, Mông Cổ, Mexico, Chile, Grenada, Nicaragua, Haiti, Papua New Guinea, Nambimia, Nam Phi, Nepal, Bulgari… Samuel P. Huntington, The third wave – democratization in the late twentieth century, Oklahoma, paperback printing 1993, University of Oklahoma Press, trang 22-25. (các chú thích sau đây về số trang đều dựa trên bản sách này, nếu có khác sẽ có chú thích thêm)
Huntington đưa ra khái niệm “làn sóng dân chủ hóa”: “là một nhóm các chuyển đổi thể chế từ phi dân chủ sang dân chủ, xuất hiện trong một thời đoạn cụ thể và có tính áp đảo những chuyển đổi theo chiều ngược lại trong cùng thời kỳ.” – trang 15.  Làn sóng dân chủ hóa thứ nhất, theo Huntington, diễn ra trong khoảng 1828-1926, làn sóng thứ hai 1943-1962 (trang 16). Lưu ý: mỗi làn sóng này đều có một làn sóng đảo ngược (trở lại phi dân chủ, nhiều hoặc ít) sau đó.
[iii] Trang xv.
[iv] Trang xiii.
[v] Một tác phẩm quan trọng khác của Huntington xuất bản năm 1968, tên đầy đủ: Political order in changing societies.
[vi] Trang xv.
[vii] Trang xv. Từ nhà dân chủ hóa dịch từ chữ democratizer – đây là chữ ít thấy dùng trong các tài liệu tương tự, bản thân người biên soạn chưa thấy ai dùng. Có lẽ đây là chữ dùng riêng của Huntington và điều này cũng phù hợp với tư duy của ông : dân chủ hóa là tiến trình có sự tham gia của nhiều thành phần, đối tượng, không cứ phải là người có tư tưởng (thực sự) dân chủ (democrat, democratic) hay vì dân chủ (pro-democracy activist).
[viii] Trang 11-12, 31-35.
[ix] Trang 37-38.
[x] Trang 5-13.
[xi] Nguyên văn: an instrumental rather than consummatory culture.
[xii] Trang 121-123.
[xiii] Trang 124-141.
[xiv] Trang 127-129.
[xv] Trang 129-131.
[xvi] Trang 131-137.
[xvii] Trang 137-139.
[xviii] Trang 139-141.
[xix] Trang 142-151.
[xx] Trang 151-161.
Tháng 12 18, 2013
Phạm Hồng Sơn biên soạn
B. Năm bộ hướng dẫn cho các nhà dân chủ hóa
I. Bộ số 1: dành cho các nhà cải cách dân chủ hóa nằm trong chính quyền độc tài ở dạng thức Chuyển hóa [i]
1. Xây dựng và giữ vững cơ sở chính trị (political base). Nhanh nhất có thể đưa ngay các nhân vật ủng hộ dân chủ hóa vào các vị trí chủ chốt trong chính phủ, đảng và quân đội.
2. Duy trì tính chính đáng hồi cố. Thực hiện các thay đổi thông qua các thủ tục đã có của chính thể độc tài và trấn an các nhân vật cứng đầu bằng những nhượng bộ tượng trưng, tuân thủ chiến thuật “hai bước tiến một bước lùi”.
3. Từng bước gia tăng sự ủng hộ cho bản thân sao cho giảm dần sự phụ thuộc vào bộ phận cầm quyền chống cải cách và mở rộng cơ sở ủng hộ theo hướng các nhóm đối lập ủng hộ dân chủ.
4. Luôn sẵn tinh thần đối phó với các hành động cực đoan của nhóm cứng đầu hòng chặn đứng thay đổi (ví dụ: âm mưu lật quyền,…). Kể cả việc có thể phải dùng thủ thuật khích nhóm cứng đầu hành động như thế rồi ra tay dẹp bỏ (cách ly, làm mất uy tín các nhân vật cực đoan chống cải cách.)
5. Nắm và kiểm soát vững vàng mọi cơ hội, ý tưởng then chốt trong tiến trình dân chủ hóa. Chỉ hành động trên thế chủ động, áp đảo. Không bao giờ được áp dụng cải tiến dân chủ chỉ để thỏa mãn áp lực từ các nhóm đối lập cực đoan.
6. Không nuôi kỳ vọng quá lớn cho dư luận. Phải thể hiện làm sao để công luận thấy được tầm quan trọng nằm ở việc tiến trình cải cách phải được tiếp tục hơn là vẽ ra cho họ những thành quả dân chủ mỹ mãn xa vời.
7. Khích lệ các nhóm đối lập có trách nhiệm, ôn hòa – những nhóm được xã hội (kể cả quân đội) có thiện cảm chấp nhận như một giải pháp thay thế trong tương lai.
8. Phải tạo dựng được một cảm giác chung rằng dân chủ hóa là tiến trình tự nhiên và tất yếu trong quá trình phát triển, kể cả khi vẫn còn một số bộ phận không mong muốn.
II. Bộ số 2: Dành cho các nhà dân chủ hóa ở phía đối lập trong dạng thức Thay thế-lật đổ [ii]
1. Tập trung chú ý vào tính bất chính đáng hoặc tính chính đáng bất minh của chính thể độc tài – điểm yếu nhất của chính thể. Tấn công vào các vấn đề gây bất bình rộng lớn như tham nhũng, sự tàn bạo. Nhưng, nếu hiệu năng của chính quyền còn tốt (đặc biệt là về kinh tế) thì những tấn công đó sẽ không hiệu quả. Song, một khi hiệu năng của nó bị suy thì việc làm nổi lên tính bất chính đáng sẽ là đòn bẩy quan trọng duy nhất trong việc phế truất nó.
2. Giống như các lãnh đạo dân chủ, các lãnh đạo độc tài cũng có những hiềm khích, bất hòa với bộ phận đã từng ủng hộ họ. Phải khuyến khích những nhóm bất mãn như thế ủng hộ dân chủ như một giải pháp thay thế cho chính thể hiện tại. Phải hết sức nỗ lực thu nạp các doanh nhân cao cấp, giới trung lưu, các nhân vật ảnh hưởng về tôn giáo, các lãnh đạo chính trị, kể cả những nhân vật đã tham gia tạo dựng và duy trì chính thể độc tài. Hình ảnh của phía đối lập càng có sắc thái “đáng tôn trọng” và có “trách nhiệm” thì khả năng thu nhận thêm được sự ủng hộ càng lớn.
3. Vận động, gây thiện cảm, cải hóa, chuẩn bị tinh thần dân chủ cho giới tướng lĩnh. Vì như đã phân tích, chế độ sụp đổ hay không phụ thuộc vào thái độ của quân đội (ủng hộ hay phản đối hay trung lập), vì vậy sự ủng hộ của quân đội rất quan trọng khi khủng hoảng xảy ra. Nhưng điều quí vị cần nhất là quân đội không muốn bảo vệ chế độ nữa.
4. Phải thực hành và truyền bá tinh thần bất bạo động. Đó là một trong những nguyên tắc quan trọng để có thể thu phục lực lượng an ninh: binh lính, cảnh sát không bao giờ có thiện cảm với những người ném chai xăng, gạch đá vào họ.
5. Tận dụng mọi cơ hội để thể hiện sự đối lập với chính thể, kể cả tham gia vào những cuộc bầu cử do chính quyền tổ chức.
6. Xây dựng các liên hệ với giới báo chí quốc tế, các tổ chức nhân quyền quốc tế, các hiệp hội liên quốc gia như các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt, cần huy động sự ủng hộ từ Hoa Kỳ. Các dân biểu liên bang Hoa Kỳ luôn tìm các phong trào, sự kiện có tính đạo đức để gia tăng hình ảnh cho bản thân họ và kình địch với giới hành pháp. Cần giới thiệu và cung cấp cho họ các tài liệu, hình ảnh về phong trào và các hoạt động của quí vị.
7. Tăng cường tình đoàn kết giữa các nhóm đối lập. Hãy nỗ lực tạo ra những tổ chức, cơ chế điều phối chung để gia tăng sự hợp tác giữa các nhóm. Đây là một vấn đề nan giải. Hãy lưu ý: các lãnh đạo độc tài thường là các tay lão luyện trong việc gây chia rẽ cho đối lập. Một phép thử tài năng lãnh đạo dân chủ của quí vị là khả năng vượt qua được các khó khăn đó và đảm bảo được sự đoàn kết cho các nhóm đối lập. Hãy nhớ lời Gabriel Almond: “Lãnh đạo vĩ đại là người tạo được liên minh rộng lớn.”
8. Phải chuẩn bị để lấp được thật nhanh khoảng trống quyền lực do sự sụp đổ của chế độ độc tài tạo ra. Bằng cách: đưa ngay lên nhà lãnh đạo có thiên hướng dân chủ, có tài biểu đạt, và được quần chúng thiện cảm; nhanh chóng tổ chức bầu cử để tạo tính chính đáng cho chính quyền mới; và xúc tiến xây dựng ngay tính chính đáng trên trường quốc tế bằng các quan hệ, tương tác với các tổ chức liên quốc gia, Hoa Kỳ, EU và giáo hội Công giáo. Cần chú ý: trong số các đối tác đồng minh của quí vị cũng có những thành phần muốn dựng lên một chính thể độc tài mới; quí vị cần âm thầm chuẩn bị, tổ chức những người ủng hộ dân chủ để đối phó thành công với ý tưởng phản dân chủ đó.
(Myron Weiner cũng đưa ra những lời khuyên tương tự trong trường hợp này: 1. Phải huy động được sự phản kháng chính thể độc tài ở mức độ rộng lớn và bất bạo động. 2. Tìm kiếm ủng hộ từ bộ phận trung dung và, nếu cần, cả từ cánh hữu thủ cựu. 3. Kìm chế bộ phận tả, không để họ áp đảo, kiểm soát phong trào. 4. Vận động giới quân nhân. 5. Tạo được thiện cảm từ giới truyền thông phương Tây và Hoa Kỳ. – Emperical Democratic Theory and the Transition from Authoritarianism to Democracy, PS 20, 1987, trang 866.)
III. Bộ số 3
Bộ 3a: dành cho các nhà dân chủ hóa nằm trong chính quyền độc tài ở dạng thức Hóa thế [iii]
1. Tuân thủ bộ hướng dẫn số 1 (dành cho chuyển hóa). Trước tiên phải cách ly và làm suy yếu các phần tử cứng đầu (1a), rồi củng cố sự vững chắc của quí vị trong chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị.
2. Như bộ hướng dẫn số 1 đã chỉ, quí vị cũng phải chủ động nắm vững và kiểm soát được mọi cơ hội, biến động trong tiến trình và cần nhượng bộ chủ động, gây bất ngờ cho cả phía đối lập và nhóm cứng đầu nhưng không bao giờ được nhượng bộ vì bị đối lập ép buộc công khai.
3. Phải đảm bảo có được sự bảo trợ từ các tướng lĩnh hàng đầu hoặc từ các lãnh đạo an ninh cao cấp cho việc tiến hành đối thoại, đàm phàn.
4. Hãy làm tất cả những gì có thể để gia tăng vị thế, thẩm quyền và củng cố tính chất ôn hòa của đối tác quan trọng phía đối lập đang thực hiện đàm phán với quí vị.
5. Xây dựng các kênh tiếp xúc tin cậy, kín đáo “sau sân khấu” với các lãnh đạo đối lập để bàn về các vấn đề quan trọng bậc nhất.
6. Nếu đàm phán thành công, quí vị gần như đã ở bên phía đối lập. Quan tâm hàng đầu lúc này là phải tạo được các đảm bảo, an toàn cho các quyền của bên đối lập và các nhóm có liên đới với chính quyền độc tài (ví dụ, quân đội). Tất cả mọi thứ khác đều nên giải quyết trên tinh thần đàm phán.
Bộ 3b: dành cho các nhà dân chủ hóa ở phía đối lập trong dạng thức Hóa thế [iv]
1. Sẵn sàng tinh thần để huy động lực lượng ủng hộ khi các cuộc biểu tình có khả năng làm suy yếu nhóm cứng đầu (1a) trong chính quyền độc tài. Nhưng nếu liều lượng tuần hành, biểu tình quá nhiều lại có nguy cơ gia tăng sức mạnh cho nhóm cứng đầu, làm yếu vị thế của nhóm chủ xướng đàm phán trong chính quyền và làm giới trung lưu lo ngại về bất ổn, rối loạn.
2. Hãy ôn hòa, tiết chế. Cần ứng xử như những chính khách.
3. Sẵn sàng tinh thần để đối thoại và, khi cần, nhượng bộ trên mọi vấn đề, trừ việc tổ chức bầu cử tự do và công bằng. [v]
4. Quí vị cần thừa nhận một thực tế là xác suất chiến thắng của quí vị vẫn cao trong các cuộc bầu cử ban đầu do chính quyền tổ chức và việc quí vị không tham gia sẽ gây thêm nhiều phức tạp cho việc điều hành của quí vị sau này.
Bộ 3c: dành cho các nhà dân chủ hóa ở cả hai phía, đối lập và chính quyền độc tài, trong dạng thức Hóa thế [vi]
1. Điều kiện chính trị thuận lợi cho việc đàm phán để chuyển đổi thể chế không bao giờ kéo dài hay chờ đợi. Hãy nắm ngay lấy cơ hội có thể và nhanh chóng cùng giải quyết những vấn đề hệ trọng.
2. Phải ý thức được tương lai chính trị của quí vị và của cả đối tác của quí vị phụ thuộc hoàn toàn vào việc có đạt được thỏa thuận về sự chuyển đổi sang dân chủ không.
3. Phải làm tắt được các yêu sách (trong nội bộ của quí vị) có nguy cơ trì hoãn đàm phán hoặc đe dọa tới lợi ích chính yếu của đối tác đàm phán.
4. Phải tin tưởng thỏa thuận mà quí vị đạt được là giải pháp khả dĩ duy nhất; những nhóm cứng đầu (1a) và cực đoan (2a) có thể lên án, phản đối nhưng họ không có khả năng đưa ra được giải pháp khác có sự ủng hộ rộng rãi.
5. Mỗi khi băn khoăn, không chắc chắn, hãy thỏa hiệp.
IV. Bộ số 4: dành cho việc xử lý các tội ác của chính thể độc tài [vii]
1. Nếu chuyển đổi ở dạng thức chuyển hóa hoặc hóa thế, quí vị đừng cố truy tố các quan chức độc tài vì những xâm hại nhân quyền trước đây của họ. Tổn phí chính trị của những hành động như thế sẽ lớn hơn bất cứ giá trị gì đạt được.
2. Nếu là thay thế-lật đổ và nếu quí vị cảm thấy việc truy tố là cần thiết về chính trị và đúng đắn về đạo đức, thì hãy truy tố nhanh gọn các lãnh đạo cao nhất của chính thể độc tài (tốt nhất là trong năm đầu tiên của chế độ mới). Và quí vị phải cho mọi người hiểu rõ: cấp trung và thấp của chế độ cũ sẽ không bị truy tố.
3. Hãy tạo dựng một cơ chế để có thể tổng hợp, phân tích, đánh giá một cách thấu đáo và bình tĩnh các tội ác đã xảy ra trong thời độc tài.
4. Quí vị phải nhận thức được rằng cả hai giải pháp “truy tố và trừng phạt” hay “tha thứ rồi quên đi” đều có những khiếm khuyết nghiêm trọng và giải pháp ít mất lòng nhất có thể là: đừng truy tố, đừng trừng phạt, đừng tha thứ và trên hết, đừng quên lãng.
V. Bộ số 5: dành cho việc kiểm soát quân đội và xây dựng quân đội chuyên nghiệp [viii]
1. Phải nhanh chóng đưa ra ngoài hoặc cho về hưu tất cả các sỹ quan có nguy cơ thay lòng, kể cả các nhân vật từng ủng hộ mạnh nhất cho độc tài lẫn các nhân vật có tư tưởng cải cách có thể đã từng giúp quí vị. Nhóm thứ hai này thường chóng chán dân chủ và thích can dự vào chính trị.
2. Trừng phạt nặng tay các tướng lĩnh dám âm mưu lật đổ chế độ mới, “sát nhất nhân vạn nhân cụ” [ix].
3. Hệ thống chỉ huy và trách nhiệm trong quân đội phải được củng cố và làm cho thật rõ ràng. Loại bỏ mọi điểm mập mờ, bất thường và khẳng định rõ tổng chỉ huy quân đội thuộc về nghạch dân sự – người đứng đầu chính quyền.
4. Cắt giảm mạnh số lượng quân ngũ. Một quân đội đã từng vận hành chính quyền thường có qui mô quá lớn và có quá nhiều sỹ quan.
5. Nếu giới sỹ quan còn tại ngũ cảm thấy thiếu thốn, khó khăn, hãy dùng ngân sách tiết kiệm được từ cắt giảm quân ngũ để tăng lương, thêm trợ cấp, cải thiện cuộc sống cho họ. Các phí tổn đó sẽ được bồi hoàn hậu hĩnh bằng những thành công khác.
6. Hãy hướng lực lượng quân đội vào các nhiệm vụ quốc phòng. Một lý do rất hợp lý là cần phải giải quyết xung đột với ngoại bang. Thiếu vắng mối đe dọa từ nước ngoài dễ làm cho quân đội của quí vị mất đi sứ mạng chính đáng cao cả và khiến họ lãng tâm nhiều hơn sang lĩnh vực chính trị. Cần phải cân bằng cho được giữa các lợi ích từ việc không có mối đe dọa từ bên ngoài với các thiệt hại từ bất ổn nội tại.
7. Đồng thời với việc định hướng cho quân đội vào các mục tiêu quân sự, phải cắt giảm mạnh lực lượng quân đội đóng tại hoặc gần thủ đô. Điều chuyển số đó về vùng biên hoặc tới những nơi xa xôi, vắng người.
8. Cấp cho quân đội đồ để chơi. Mua cho họ xe tăng, máy bay, xe bọc thép, súng pháo đời mới, hấp dẫn và các thiết bị điện tử cao cấp (tàu chiến không quan trọng lắm, còn hải quân thì không làm đảo chính được). Các quân nhân sẽ sung sướng và bận bịu (phải nghiên cứu, phải học cách dùng…) với những thứ đó. Khi quí vị biết chơi tốt những lá bài kiểu như thế và tạo được ấn tượng tốt đẹp ở Washington, quí vị sẽ có thể chuyển được nhiều chi phí sang cho những người đóng thuế ở Mỹ. Ngoài ra, quí vị còn nhận được thêm một điều lợi: cảnh báo giới quân nhân phải xử sự cho đúng nếu muốn tiếp tục có những đồ chơi như thế, vì các nhà lập pháp Mỹ không mấy thiện cảm với việc quân đội can dự vào chính trị.
9. Binh lính, giống như mọi người, đều thích được thích. Hãy tận dụng mọi cơ hội để gắn bó hình ảnh của quí vị với các quân nhân. Dự các sự kiện, các buổi lễ của quân đội; trao tặng huy chương cho họ; ca ngợi binh sỹ như biểu tượng cho những giá trị cao cả nhất; và nếu phù hợp với hiến pháp, hãy xuất hiện trong một bộ đồ lính.
10. Tổ chức và duy trì một tổ chức chính trị có khả năng huy động lực lượng ủng hộ tràn ra đường phố của thủ đô bất kỳ lúc nào có hành động đảo chính.
(The Economist, ra ngày 29/08/1987, cũng đưa ra một số tư vấn cho các lãnh đạo của chế độ dân chủ mới trong việc xử sự với quân đội: 1. Hãy tha thứ những lỗi lầm cũ hoặc ít nhất không cố trừng phạt,… 2. Phải tự tin và khéo léo,… 3. Hành xử đại lượng,… 4. Làm cho họ bận bịu,… 5. Giúp, dạy họ tôn trọng dân chủ,… 6. Kéo họ về phía bạn – nhưng đừng hứa hẹn nhiều hơn khả năng có thể của bạn,… 7. Nếu tất cả những điều trên không hiệu quả, giải tán quân đội.)
(Còn 1 kì)
© Phạm Hồng Sơn & pro&contra

[i] Trang 141-142.
[ii] Trang 149-151.
[iii] Trang 162.
[iv] Trang 162.
[v] Bản thân Huntington cũng cảnh báo khiếm khuyết của điểm (bầu cử) này. Một học giả khác trẻ hơn của Hoa Kỳ, Fareed Zakaria, đã phê phán điểm này rất kỹ trong bài luận The Rise of Illiberal Democracy(1997) (bản tiếng Việt: Sự trỗi dậy của các nền dân chủ phi tự do)  hoặc trong sách The Future of Freedom (2003).
[vi] Trang 162-163.
[vii] Trang 231.
[viii] Trang 251-252.
[ix] Nguyên văn: Ruthlessly punish the leaders of attempted coups against your new government, pour décourager les autres.



Tháng 12 20, 2013
Phạm Hồng Sơn biên soạn
Xem toàn bài trong bản PDF
C. Một số lưu ý quan trọng khác
Sau đây là một số điểm khác, trong The third wave – democratization in the late twentieth century của Huntington, có thể hữu ích cho những người quan tâm tới vấn đề dân chủ hóa. Thứ tự được xếp theo trình tự xuất hiện của chúng trong tác phẩm, không ngụ ý mức độ quan trọng.
1. Một đặc tính riêng biệt của chế độ độc tài toàn trị so với độc tài truyền thống là độc tài toàn trị nỗ lực định hình lại xã hội và cố uốn nắn bản thể con người theo ý họ. [i]
2. Các chế độ độc tài thường được thay thế bằng một chế độ độc tài khác. Các tác nhân làm chấm dứt một chế độ độc tài có thể khác xa các tác nhần cần cho dân chủ. [ii]
3. Khởi tạo dân chủ đòi hỏi giới tinh hoa (trí thức và chính trị) phải đạt được “đồng thuận thủ tục” (procedural consensus). Nói cách khác, giới tinh hoa phải tin và cùng nhau hành động vì dân chủ. [iii]
4. Bên cạnh các yếu tố khác, lãnh đạo chính trị và kỹ năng chính trị là những thứ tối cần cho dân chủ hóa. [iv]
5. Đôi khi thành công của dân chủ hóa lần này chỉ là hệ quả của những cố gắng dân chủ hóa đã thất bại trước đó. [v]
6. Có nhiều quốc gia gần như chưa từng trải nghiệm dân chủ đã chuyển đổi thành công sang dân chủ. [vi]
7. Các chế độ độc tài độc đảng xuất thân từ các phong trào dân tộc thường có cơ sở chính trị vững chắc hơn các loại độc tài tương tự. [vii]
8. Sự sống còn của một chế độ độc tài thường là biểu hiện của sự vận hành một cấu trúc xã hội hơn là sự vận hành của một chính thể. [viii]
9. “Không được tham gia chính trị thì không đóng thuế” là một yêu sách chính trị. Còn “Không đóng thuế thì không được tham dự chính quyền” là một hiện thực chính trị. [ix]
10. Một mô hình kinh tế thuận lợi cho dân chủ hóa là: tăng trưởng kinh tế cao xen với tình trạng suy thoái hoặc khủng hoảng ngắn. [x]
11. Các điều kiện kinh tế, xã hội, ngoại giao dù quan trọng đến mấy nhưng hoàn toàn vô nghĩa nếu không có những con người dám mạo hiểm làm dân chủ. [xi]
12. Chế độ độc tài độc đảng có hai nhóm khó khăn lớn cho dân chủ hóa: khung thiết chế ràng buộc hệ thống quyền lực nhà nước với các cơ quan của đảng; hệ thống tư tưởng (ý thức hệ) làm nhập nhằng giữa đảng với tổ quốc. [xii]
13. Dân chủ hóa một chế độc tài độc đảng cũng có nghĩa việc kiểm soát chính quyền của đảng đó bị thách thức và bản thân đảng đó biến chuyển thành một đảng chấp nhận cạnh tranh hơn. [xiii]
14. Độc tài cá nhân ít có xu hướng rời bỏ quyền lực hơn độc tài quân sự. [xiv]
15. Sinh viên là lực lượng đối lập phổ quát đối với mọi chế độ. Nhưng sinh viên sẽ bất lực khi thiếu ủng hộ mạnh mẽ. [xv]
16. Nguy cơ chia rẽ giữa các lãnh đạo, các nhóm phía đối lập luôn cao hơn và khó xử lý hơn nhiều so với cả nội bộ của một chính quyền độc tài đang rệu rã. [xvi]
17. Sự tự tin, huênh hoang của các lãnh đạo độc tài thường là kết quả từ một hệ thống phản hồi yếu kém, thiếu trung thực. [xvii]
18. Dân chủ cần bầu cử, cần tinh thần hợp tác, đàm phán, thỏa hiệp nhưng việc đối lập đồng ý tham dự các hoạt động của chính quyền độc tài có thể chỉ có tác dụng mang thêm tính chính đáng cho kẻ độc tài và làm hoang mang công luận. [xviii]
19. Chính quyền được sinh ra bằng ôn hòa, thỏa hiệp sẽ vận hành bằng đối thoại, chia sẻ trách nhiệm. Chính quyền được sinh ra từ bạo lực sẽ vận hành bằng dùi cui, nắm đấm. [xix]
20. Dân chủ hóa cần một nhận thức phân biệt quan trọng: không nên nhầm giữa năng lực yếu kém của lãnh đạo (hoặc đảng cầm quyền) với hệ thống chính trị dân chủ. [xx]
21. Một dấu hiệu của dân chủ non trẻ đã bén rễ chắc: qua hai vòng bầu cử liên tiếp, lãnh đạo đương nhiệm đồng ý chuyển giao quyền lực cho người thắng phiếu thuộc phía đối lập.[xxi]
22. Tinh thần trợ giúp, cổ xướng dân chủ từ Hoa Kỳ có thể sẽ tiếp tục hoặc không. [xxii]
23. Khủng bố, khủng hoảng xã hội và các chương trình cải cách kinh tế-xã hội quá lớn, quá nhanh là những thứ không có lợi cho những nền dân chủ non trẻ. [xxiii]
24. Các chế độ dân chủ ở Đông Á có thể bị suy yếu nếu Trung Cộng vẫn duy trì chính thể độc tài, vẫn tăng trưởng kinh tế và mở rộng ảnh hưởng trong khu vực. [xxiv]
25. Bên cạnh nhiều dạng độc tài đã xuất hiện, tương lai có thể sẽ có thêm một dạng chính thể độc tài với các lãnh đạo kỹ trị điện tử – dựa trên khả năng thao túng thông tin và vận dụng các phương tiện truyền thông tinh xảo. [xxv]
26. Phép thử cho tư tưởng dân chủ của chính trị gia là những thể hiện của người đó lúc tại vị chứ không phải khi đã về hưu. [xxvi]
27. Một dấu hiệu sớm sủa của dân chủ là việc chính quyền không hoặc ít cản trở, gây hấn sự tham gia một cuộc bầu cử công khai và công bằng từ các đảng đối lập. [xxvii]
28. Một khó khăn cho dân chủ hóa ở Trung Cộng là những nhà phê bình theo thiên hướng dân chủ thuộc dòng chính vẫn gắn bó với các thành tố cơ bản của Khổng giáo (thích hài hòa, đoàn kết hơn khác biệt, cạnh tranh; thích danh vị, chính thống hơn tự do cá nhân, ly khai…). [xxviii]
29. Nếu thừa nhận nền văn hóa Hồi giáo và Khổng giáo không tương thích với dân chủ thì cũng cần phải nhận thấy trong Hồi giáo và Khổng giáo vẫn có thể có những đặc tính thuận lợi cho, hoặc ít nhất không chống lại, dân chủ. Và văn hóa luôn luôn biến động, năng động. [xxix]
30. Lịch sử không bao giờ tiến theo đường thẳng nhưng nó chỉ tiến lên được nhờ những cú đẩy từ những con người hiểu biết và quyết đoán. [xxx]
Lời kết của người biên soạn
Qua những gì vừa trình bày, quí độc giả có thể đã nhận thấy hai điều:
1. Có một số từ có tính thuật ngữ, như hóa thếtính chính đáng hồi cố,nhà dân chủ hóa…, dù đã lĩnh hội được nhiều góp ý tận tình, có thể chưa phải là cách chuyển ngữ tối ưu. Nhưng người biên soạn hy vọng mọi độc giả vẫn hiểu giống nhau về nghĩa của chúng khi độc giả đọc kỹ những nội dung đi sau các từ đó. Và cũng hy vọng trong tương lai những cách chuyển ngữ đó sẽ được những thức giả quan tâm bổ khuyết.
2. Lập trường chính trị của Huntington thuộc trường phái realpolitik(tạm dịch: chính trị thực dụng) có nguồn gốc từ Niccolò Machiavelli (1469-1527). “Thực dụng”, nhất là đối với người phương Đông, không phải là một từ đáng xiển dương tuyệt đối về đạo đức. Bản thân Huntington cũng nhận ra điều đó, nhưng ông hy vọng độc giả hiểu cho: “thực dụng” của ông là nhiệt tâm vì dân chủ. Ngoài ra, Huntington cũng nhận thức rất rõ về những thiếu sót có thể hoặc đương nhiên trong công trình nghiên cứu của ông. [xxxi] Đó cũng là những điều mà người biên soạn muốn chia sẻ thêm với độc giả Việt Nam hôm nay – những người đang phải sống dưới một chế độ thuộc loại vài chính thể độc tài độc đảng toàn trị còn sót lại từ thế kỷ trước-thế kỷ XX.
© Phạm Hồng Sơn & pro&contra


[i] Trang 12.
[ii] Trang 35.
[iii] Trang 36.
[iv] Trang 39.
[v] Trang 42-44
[vi] Trang 44.
[vii] Trang 47,48.
[viii] Trang 64.
[ix] Trang 65.
[x] Trang 72.
[xi] Trang 107, 108.
[xii] Trang 117-120.
[xiii] Trang 120.
[xiv] Trang 120, 142, 143.
[xv] Trang 144.
[xvi] Trang 157.
[xvii] Trang 144, 181, 182.
[xviii] Trang 186-190.
[xix] Trang 207.
[xx] Trang 260-262.
[xxi] Trang 266, 267.
[xxii] Trang 285.
[xxiii] Trang 290-291.
[xxiv] Trang 293.
[xxv] Trang 294.
[xxvi] Trang 297.
[xxvii] Trang 305.
[xxviii] Trang 300-303.
[xxix] Trang 300-311.
[xxx] Trang 316.
[xxxi] Trang xv.


Con đường dân chủ Việt Nam

Trương Thái Du
Người viết báo độc lập, TP. HCM

Phải khẳng định mô hình dân chủ thể hiện tối thiểu ở hình thức phổ thông đầu phiếu là tất yếu sẽ diễn ra tại Việt Nam nói riêng và phần lớn lãnh thổ Á Đông nói chung. Bài viết này thử xoay quanh mấy câu hỏi “Khi nào?”, “Thế nào?” và “Tại sao?”. Tôi lấy cảm hứng từ Đặng Tiểu Bình: “Thế kỷ sau, Trung Quốc qua nửa thế kỷ nữa mới có thể thực hiện phổ thông đầu phiếu [1]”.

Tác giả chia sẻ quan điểm dân chủ của Đặng Tiểu Bình

Các nhà “dân chủ” Việt Nam thường dẫn dắt khái niệm dân chủ về khởi nguồn La Mã cổ đại để ngầm xem nó như là cốt túy thường hằng của văn minh phương Tây. Theo Huntington [2], vào năm 1942 thế giới chỉ có 12 thể chế dân chủ. Con đường dân chủ ở nhiều quốc gia cũng không hề là con đường một chiều, mà có tiến có lùi và không ngừng hoàn thiện. Chẳng hạn đến năm 1944 nữ giới ở Pháp mới có quyền bầu cử và mãi đến thập niên 1960, dưới ngọn cờ của Martin Luther King người da màu mới giành được quyền bình đẳng tương đối chấp nhận được trong xã hội Mỹ. Cho rằng các thể chế Âu – Mỹ là khuôn mẫu nên hướng đến, Huntington gọi chung các nước không có phổ thông đầu phiếu hoặc phổ thông đầu phiếu thiếu công bằng là Nondemocratic regimes (phi dân chủ) hoặc Authoritarian Regimes (chuyên chế).
Ghi nhận sự dân chủ hóa tại 35 quốc gia trong giai đoạn 1974 – 1990, Huntington gọi đấy là làn sóng dân chủ hóa thứ ba của nhân loại. Ông chia thành ba nhóm: Độc tài một đảng (11 nước, có Đài Loan, Liên Xô), Độc tài cá nhân (7 nước, có Ấn Độ, Philippine), Độc tài quân sự (16 nước, có Hàn Quốc, Pakistan) và Độc tài dân tộc (1 nước là Nam Phi). Ông cũng chú thích Đài Loan không dân chủ cho tới năm 1990, Nigeria và Sudan thì đảo ngược từ dân chủ về độc tài.
***
Trên cơ sở các khái niệm Huntington đưa ra, ta thấy rằng từ giữa thế kỷ 20 đến nay, tại Trung Quốc và Việt Nam luôn tồn tại chế độ một đảng. Tuy vậy, đi sâu vào thực chất, lại thấy có sự chuyển động nội tại không thể phủ nhận: Chế độ một đảng với nhiệm kỳ lãnh tụ suốt đời đã được cải tiến thành chế độ một đảng, lãnh tụ tối đa hai nhiệm kỳ, diễn ra tại Trung Quốc năm 1978 và Việt Nam 1986. Câu hỏi ở đây là Trung Quốc và Việt Nam có hoàn toàn nằm ngoài trào lưu dân chủ hóa thứ ba kia hay không? Biến cố Thiên An Môn 1989 là phong trào dân chủ dân túy hay chỉ là bi kịch chính trị đẫm máu, nơi Triệu Tử Dương đấu đá và giành quyền lực với Lý Bằng, gián tiếp thách thức vai trò nguyên lão của Đặng Tiểu Bình?

Afghanistan đã có bỏ phiếu tự do nhưng nhiều khiếm khuyết

Trong “cẩm nang” dân chủ nặng ký của mình, Huntington đưa ra các hướng dẫn dân chủ hóa rất chi tiết, từ hàng loạt phân tích và minh chứng khá kỹ càng. Tuy vậy, cũng như Marx, Lenin và Stalin, ông chưa chú trọng nghiên cứu ảnh hưởng của hình thái xã hội Á Đông đặc thù trong luận thuyết của mình. Đành rằng tài liệu này Huntington hoàn thành năm 1991, tôi vẫn thấy việc ông đặt trường hợp Thái Lan ra ngoài sự quan tâm của mình, là một điều đáng tiếc. Thật vậy, mâu thuẫn giữa thị dân và nông dân ở nước Thái đã, đang và sẽ trì hoãn hành trình dân chủ nơi ấy. Nó đặt công thức dân chủ Âu – Mỹ vào tình trạng hài hước: Kẻ nắm đa số phiếu trong một cuộc bầu cử phổ thông đã bị thải loại. Đó là chưa kể những gì diễn ra sau khi Huntington qua đời, mới đây thôi, tại Afghanistan: Các địa điểm bỏ phiếu luôn là điểm nóng, máu đổ đầu rơi. Phía sau cánh gà sân khấu, các đảng phái ký kết những thỏa hiệp đầy ám muội.
Các yếu tố ảnh hưởng đến vận động dân chủ dễ thấy nhất là kinh tế kiệt quệ, xã hội băng hoại, lãnh tụ qua đời. Chúng ta nhìn rõ điều này ở Singapore. Sự ổn định của nhà nước một đảng, dù đã được thu nhỏ chỉ trong một đô thị, cũng nên lấy làm tham chiếu. Theo tôi, hiện tượng mê tín thần quyền và lãnh tụ của xã hội châu Á nói chung cũng cần được tham khảo. Chẳng hạn gia tộc Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, đã củng cố nền độc tài của mình bằng họ của thánh Gandhi. Sự mị dân giúp họ giữ vững quyền lực liên tục mấy đời. Công thức nghị sĩ ông truyền, cha tiếp, con nối (dù có thông qua bầu cử) tại Nhật nhiều khi đã được các cử tri tỉnh táo mô tả là “ngán đến tận cổ”. Hiện tượng bình dân Trung Quốc ngưỡng mộ họ Mao phải được nhìn nhận trong bức tranh chung của cả một lục địa.
Giai đoạn thể chế một đảng, lãnh tụ suốt đời ở Trung Quốc và Việt Nam lần lượt là 29 năm (1949 – 1978) và 41 năm (1945 – 1986). Các con số này nói chung chỉ mang tính tượng trưng, chọn mốc khác chúng ta sẽ con số khác. Song, chúng đều khiến tôi hình dung về một chặng đường dài mang tính chu trình, không ngừng tự tiến hóa và va đập với các xu hướng khu vực lẫn toàn cầu.

Đa nguyên chính trị có cần nền tảng đa nguyên của xã hội không? Xã hội Việt Nam chưa bao giờ thân thiện với phản biện, các quan điểm khác nhau ít khi có cơ hội đứng bình đẳng cạnh nhau, bổ khuyết cho nhau.

Nền dân chủ Âu – Mỹ có bền vững không? Nhân dân Âu – Mỹ có khát khao thay đổi hay không? Chỉ nhìn vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ trong thoái trào kinh tế 2008 là rõ. Họ đã mất bao nhiêu năm để đạt được thành quả như hôm nay?
Mới đây trả lời phỏng vấn RFA luật sư Trần Lâm nêu ra ý tưởng lobby để tách đảng cầm quyền tại Việt Nam làm hai. Ông nói: “Làm hai thì nó có cái lợi là có hai Đảng, ba Đảng thì nó có đấu tranh với nhau, nó có phản biện nó có công khai”.
Thực ra ý tưởng này không mới và về bản chất, do yếu tố căn cước vùng miền rất nặng nề trong cơ cấu chính trị, đảng cầm quyền tại Việt Nam có thể nói là đã bao gồm ít nhất ba phân nhánh (bắc – trung – nam). Chúng ta lại phải chờ? Chờ cho sự phát triển và đồng hóa tự nhiên xóa nhòa căn cước vùng miền? Sử gia Keith Taylor đã có lý khi cho rằng ở khía cạnh nào đó, từ ngày khai sinh, lịch sử Việt Nam là những cuộc tranh chấp vùng miền liên miên.
Tôi cảm thấy thú vị với khái niệm vận động dân chủ hành lang (lobby dân chủ). Nó loại bỏ được nhóm người có âm mưu đầu cơ chính trị, những cá nhân thích mơ tưởng quyền lực (chức vụ bộ trưởng, thủ tướng chẳng hạn) hơn là trăn trở hoàn toàn với vận mệnh quốc gia, ấp ủ tình yêu nước thuần khiết. Họ chống độc tài và cũng chống cả dân chủ, như chính Huntington đã chỉ ra nhan nhản tại các phong trào dân chủ trên thế giới: “They used the rhetoric of democracy in their efforts to replace the existing authoritarian regime with one of their own[3]”.
Đa nguyên chính trị có cần nền tảng đa nguyên của xã hội không? Xã hội Việt Nam chưa bao giờ thân thiện với phản biện, các quan điểm khác nhau ít khi có cơ hội đứng bình đẳng cạnh nhau, bổ khuyết cho nhau. Lấy ví dụ cộng đồng Việt kiều tại Mỹ, dường như hiện nay chỉ có một quan điểm thống trị, bất cứ cái nhìn cá nhân và khác biệt nào cũng bị đưa ra công luận đấu tố dữ dội. Brian Đoàn, Nguyễn Hữu Liêm là những ví dụ nóng hổi. Khi những kẻ có cái đầu rực lửa dễ dàng bước lên làm chủ diễn đàn, tấn công vào cảm tính của xã hội, đó là lúc con người đang bị dẫn vào chiếc rọ độc tài một cách tự nguyện và hả hê hạnh phúc!

Con đường dân chủ văn hóa, đa nguyên tư tưởng chỉ có ngòi bút là vũ khí. Nó tụng ca thanh tẩy và cho rằng thanh tẩy bao giờ cũng nhân văn hơn phủ định, đạp đổ.

Trong một tranh luận gần đây, tôi cho rằng xã hội Thái Lan đang khá ổn định dấn bước trên con đường dân chủ của mình. Có năm yếu tố củng cố sự ổn định ấy: Chủng tộc (cơ bản khối dân tộc đang nắm vận mệnh nước Thái là đồng chủng), Tôn giáo (đạo phật nhân ái là quốc giáo của Thái Lan), Vương quyền (người Thái rất tôn trọng hoàng gia), Chia rẽ lịch sử và căn cước vùng miền (Thái Lan không tồn tại căn cước vùng miền sâu đậm như Việt Nam, họ có một lịch sử chung vì thời cận đại họ không bị chia cắt, bị ngoại bang đô hộ). Chiếu xét các yếu tố ấy vào hiện tình Việt Nam, khả năng một cuộc nội chiến nồi da xáo thịt tiếp bước “cách mạng dân chủ đẻ non” là không nhỏ.
***
Tiếp cận nội hàm “ở Việt Nam không có dân chủ” hay cho rằng nó đang trên hành trình đi đến dân chủ, sẽ dẫn chúng ta đến hai cái nhìn trái ngược, song hết sức cần thiết. Con đường dân chủ văn hóa, đa nguyên tư tưởng chỉ có ngòi bút là vũ khí. Nó tụng ca thanh tẩy và cho rằng thanh tẩy bao giờ cũng nhân văn hơn phủ định, đạp đổ. Người hoạt động dân chủ kiểu này vô nhiễm trước quyền lực và quyền lợi, họ thân thiện hóa những đối lập và tránh được đối đầu không cần thiết. Chính thái độ ấy sẽ điều chỉnh công thức dân chủ Âu – Mỹ, khi áp dụng vào Á Đông. Nó dễ dàng nhận ra những yếu tố phản dân chủ và cạm bẫy, trong một qui trình dân chủ kiểu mẫu.


[1] Bìa 4, Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ 21, tác giả Phùng Lâm, Nguyễn Văn Mậu dịch, NXB VH-TT 1999.
[2] Samuel P. Huntington, “How Countries Democratize”, Political Science Quarterly, Vol. 124, Number 1, 2009.
[3] Tạm dịch: Họ dùng cái hoa mỹ của dân chủ trong nỗ lực thay thế chế độ độc tài hiện hữu bằng chế độ (độc tài) của riêng họ.

Kịch bản của Huntington (Cho một Thế chiến thứ 3, có liên quan đến Việt Nam)

—Bài liên quan: TQ-Mỹ: cuộc chiến thế kỷ

Giọng lưỡi báo chí chính thống Trung quốc nói về Việt Nam: “Trung Quốc phải dùng vũ lực để tấn công bọn Việt Nam lòng lang dạ sói”

AF MEDIEN

Một cuộc chiến tranh toàn cầu với sự tham gia của các quốc gia nòng cốt chính yếu trong các nền văn hoá lớn trên thế giới là điều không dễ xảy ra, nhưng là điều có thể. Như đã dẫn giải, một cuộc chiến tranh thế giới mới có thể bắt đầu bằng sự leo thang xung đột sắc tộc giữa các nhóm trong các nền văn hoá. Dễ xảy ra nhất là có sự tham gia của một bên theo đạo Islam và bên kia là không thuộc Islam. Có nghĩa là các quốc gia nòng cốt theo đạo Islam sẽ ra tay cứu giúp những người anh em đồng đạo của mình.

Họ có thể bỏ qua và không can dự quá sâu nếu như những lợi ích thứ yếu ràng buộc.  Sự dịch chuyển cán cân quyền lực giữa các nền văn hoá và các nước nòng cốt của nó chính là nguy cơ lớn nhất của chiến tranh giữa các nền văn hoá.

Nếu sự lớn mạnh của Trung Quốc tiếp tục cộng với sự tự tin là “vai kép chính trong lịch sử loài người”, nó sẽ là gánh nặng thực sự cho trật tự quốc tế vào đầu thế kỷ 21. Trung Quốc lớn mạnh hơn với ảnh hưởng sâu rộng hơn ở Đông Á và Đông Nam Á sẽ đối kháng với quyền lợi của Hoa Kỳ.

Kịch bản nào cho một cuộc chiến xung đột quyền lợi giữa Mỹ và Trung Quốc?

Giả thiết chúng ta đang ở năm 2010. Hai nước Triều Tiên đã thống nhất, quân đội Mỹ đã rút khỏi bán đảo Triều Tiên. Sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Nhật Bản cũng giảm đáng kể. Đài loan và Hoa lục cũng đạt được một thoả thuận, trong đó đảm bảo cho  Đài Loan được phần lớn sự tự chủ của mình trên thực tế, nhưng Đài Loan phải công nhận chính thức quyền chủ quyền của Bắc Kinh. Ngoài ra, với sự giúp đỡ của Trung Quốc, Đài Loan được trở thành thành viên chính thức tại Liên hợp quốc, giống trường hợp của Ucraina và Belorussia hồi năm 1946.

Việc khai thác dầu tại Biển Đông được tiến hành gấp rút, đa phần dưới sự bảo trợ của Trung Quốc, nhưng trên một số vùng có sự kiểm soát của Việt Nam được các công ty của Mỹ triển khai.

Trung quốc với sự hăng hái tự tin về thực lực của mình đã ra tuyên bố quyền kiểm soát toàn bộ biển Nam Hải (Biển Đông), điều mà họ xưa nay vẫn yêu sách. Việt Nam bất bình dẫn đến hải chiến giữa tàu Trung Quốc và tàu Việt Nam.

Trung quốc quyết tâm trả thù cho thất bại tại cuộc chiến biên giới 1979, đã cho quân tiến vào Việt Nam. Việt Nam yêu cầu sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Trung Quốc cảnh báo Mỹ không nên can thiệp, Nhật Bản và các quốc gia châu Á khác tỏ ra lưỡng lự. Hoa kỳ tuyên bố phản đối việc chiếm đóng Việt Nam của Trung Quốc, kêu gọi trừng phạt kinh tế đối với Trung Quốc và gửi một trong số hạm đội tàu sân bay còn lại ít ỏi của mình vào vùng biển Nam hải (Biển Đông).

Trung quốc chỉ trích hành động đó là vi phạm hải phận của Trung Quốc và không kích hạm đội Mỹ. Những cố gắng của Tổng thư ký Liên hơp quốc và Thủ tướng Nhật bản cho một cuộc ngừng bắn đều không đạt kết quả. Chiến tranh lan sang các vùng khác ở Đông Á.

Nhật bản ra lệnh cấm Mỹ sử dụng căn cứ quân sự trên đất Nhật. Mỹ phớt lờ lệnh cấm. Nhật Bản tuyên bố giữ thái độ trung lập và phong toả các căn cứ quân sự. Không quân và tàu ngầm Trung quốc từ Đài Loan và Hoa lục gây cho tàu chiến và cơ sở quân sự của Mỹ ở Đông Á nhiều thiệt hại. Tiếp đó Trung quốc kéo quân vào Hà nội và chiếm đóng phần lớn Việt nam.

Mặc dù cả Trung Quốc lẫn Hoa kỳ đều đang nắm giữ nhiều tên lửa xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân nhưng cả hai đều ngầm giữ không sử dụng trong thời gian đầu của cuộc chiến.

Lo sợ trước một cuộc tấn công hạt nhân hiển hiện ở cả hai phía, nhưng căng thẳng hơn cả là phía bên Hoa Kỳ. Điều đó tạo ra mối quan ngại trong những người dân Mỹ, tại sao họ phải chịu đựng nguy cơ này. Nếu Trung Quốc muốn chiếm Nam Hải, Việt Nam hay toàn bộ Đông Nam Á thì liên quan gì đến họ? Đặc biệt là sự phản đối của các bang tây nam, nơi có nhiều người nói tiếng Tây Ban Nha. Với khẩu hiệu “Cuộc chiến này không phải của chúng ta” dân chúng và chính quyền các bang này muốn tránh bị lôi vào cuộc chiến giống như đã xảy ra tại tiểu bang New England năm 1812[1]…

… Trong khi đó chiến tranh đã bắt đầu gây ảnh hưởng đến các nước lớn của các nền văn hoá khác. Lợi dụng cơ hội Trung Quốc đang bận rộn với Đông Nam Á, Ấn Độ tấn công vào Pakistan trên diện rộng mục đích để dọn sạch kho vũ khí nguyên tử cũng như vũ khí thông thường của nước này. Thoạt đầu Ấn Độ không gặp trở ngai nào, cho đến khi có liên minh quân sự giữa Pakistan, Iran và Trung Quốc. Iran trợ giúp Pakistan với lượng quân sự khí tài hiện đại…

… Tất cả các cuộc chiến đều liên quan đến dầu mỏ. Mặc dù đầu tư rất nhiều vào năng lượng hạt nhân, Nhật bản còn vẫn phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ nhập khẩu, điều đó làm cho Nhật thấy cần thiết phải hợp tác với Trung Quốc trong việc nhập dầu mỏ từ vùng Vịnh Ba tư, Indonesia và Biển Đông.

Cuộc chiến tiếp tục với qui mô lớn hơn. Các quốc gia khối Ả-rập ngày càng bị rơi vào vòng kiểm toả của lực lượng cuồng tín. Nguồn dầu mỏ từ vùng Vịnh cho phương Tây bị cắt, Phương Tây ngày càng bị phụ thuộc nhiên liệu từ Nga, Caucasus và miền Trung Á. Phương Tây muốn lôi kéo Nga về phía mình và buộc phải ủng hộ Nga mở rộng ảnh hưởng xuống các nước Islam ở miền nam.

Đồng thời Mỹ cố gắng lôi kéo sự trợ giúp toàn bộ của đồng minh Âu châu. Trên thực tế Tây Âu chỉ có cử chỉ ủng hộ về ngoại giao và kinh tế, ngoài ra thì trì hoãn về quân sự.

Trung quốc và Iran lo sợ khối Tây Âu cuối cùng sẽ đứng về phía Mỹ, giống như Mỹ đã từng cứu giúp Anh, Pháp thời Thế chiến thứ II. Để ngăn chặn điều này, họ bí mật chuyển dàn tên lửa tầm trung chứa đầu đạn hạt nhân đến Bosnia và Algeria và cảnh báo Tây Âu về việc tham gia cuộc chiến…

Một cuộc chiến toàn cầu gồm một bên là Hoa kỳ, châu Âu, Nga và Ấn độ và bên kia là Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước Hồi giáo. Kết cục sẽ ra sao?

Cả hai bên đều có trong tay rất nhiều vũ khí hạt nhân, ngay cả khi giả thuyết là sẽ không được sử dụng một tí tẹo nào thì một điều rõ ràng, các quốc gia chủ chốt sẽ bị tàn phá nặng nề.

Giả sử là cả hai bên biết kiềm chế, các bên tham chiến đã mệt mỏi đi đến một thoả thuận đình chiến, thì nó cũng không giải quyết được vấn đề chủ chốt, đó là đòi hỏi bá quyền của Trung quốc ở Đông Á. Nếu không phương Tây phải cố gắng khuất phục Trung quốc bằng chiến tranh qui ước. Liên minh quân sự với Nhật giúp cho Trung Quốc có được một hải tuyến phòng thủ ngăn chặn Mỹ tấn công vào miền duyên hải nơi có khu công nghiệp và đông dân. Lựa chọn khác là tấn công Trung Quốc từ phía tây.

Cuộc chiến của Nga với Trung Quốc là lý do để NATO kết nạp Nga vào khối quân sự và trợ giúp Nga chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc vào Serbia, cũng như đảm bảo sự kiểm soát của Nga đối với các nước Islam giàu nhiên liệu vùng Trung Á. Giúp đỡ quân nổi dậy Tây Tạng, Uighuri và Mông cổ chống lại sự thống trị của Trung Quốc. Hỗ trợ chuyển quân đội của Nga từ phía tây nhằm hướng đông sang Siberi, từ đó đánh trận quan trọng vượt Vạn Lý Trường Thành vào Bắc Kinh vào sâu tận Trung Nguyên.

Bất cứ kết cục nào của cuộc chiến toàn cầu giữa các nền văn hoá này có được, tàn phá lẫn nhau bằng vũ khí nguyên tử, đình chiến vì mệt mỏi hay ngay cả khi quân đội Nga và phương Tây diễu binh trên quảng trường Thiên An Môn đi nữa thì hậu quả lâu dài chắc chắn sẽ rộng khắp. Tổn thất kinh tế, nhân mạng và sức mạnh quân sự nặng nề của các bên là không tránh khỏi.

Hậu quả là trung tâm quyền lực của thế giới theo thời gian chuyển dịch từ đông sang tây, và lại từ tây sang đông, nay lại từ bắc xuống nam. Kẻ hưởng lợi chính từ cuộc chiến này là những ai đứng ngoài. Trong khi phương Tây, Nga, Trung Quốc và Nhật bản bị tàn phá các mức độ khác nhau thì Ấn Độ, mặc dù có tham dự nhưng tránh được sự tàn phá, nay có thể rảnh tay để tái thiết lại thế giới theo trật tự của Ấn độ giáo.

Dân chúng Mỹ đổ lỗi cho sự tụt hậu là do giới bảo thủ Tin lành da trắng, dẫn tới việc dân Mỹ gốc Tây Ban Nha lên nắm quyền với lời hứa được nhận sự trợ giúp của các nước Mỹ-Latin. Một chiến dịch tương tự Kế hoạch Marshall[²] từ các nước  Nam Mỹ.  Các quốc gia mới nổi này đã không tham gia vào cuộc chiến.

Hoa Kỳ nhìn nhận sự can thiệp như thế là cần thiết, để bảo vệ luật pháp quốc tế, để chống lại một cuộc xâm lược, để bảo vệ tự do hàng hải, để đảm bảo quyền tiếp cận dầu mỏ của Mỹ ở Biển Đông và chống lại sự thống trị của một thế lực duy nhất tại Đông Á.

Đối với Trung Quốc lại là việc không thể chấp nhận được. Đó là âm mưu mà các nước phương Tây luôn ngạo mạn gây sức ép và muốn làm mất mặt Trung Quốc. Khiêu khích và chống lại vai trò chính đáng của Trung Quốc trên sân chơi chính trị ngay trong vùng ảnh hưởng đã được thừa nhận.

Chiến tranh giữa các nền văn hoá là điều cần tránh trong thời đại tới, đặc biệt các nước chính yếu không nên can dự vào các xung đột giữa các nền văn hoá. Đó là một sự thật khó chấp nhận, nhất là đối với những quốc gia như Hoa Kỳ. Nguyên tắc của sự đa dạng hoá, trong đó các nước chính yếu phải kiềm chế tránh can dự vào các xung đột tại các nền văn hoá khác là điều kiện tiên quyết cho một nền hoà bình trong một thế giới đa dạng và đa cực.

Điều kiện thứ hai cần có là nguyên tắc cùng hoà giải, trong đó có việc thỏa thuận giữa các nước nòng cốt để giảm thiểu hay kết thúc các cuộc xung đột sắc tộc giữa các nước hay các nhóm thiểu số trong các nền văn hoá.

Chấp nhận những nguyên tắc này cùng với một thế giới bình đẳng về nguồn gốc văn hoá là điều không dễ chấp nhận. Điều đó đúng với cả các nước phương Tây lẫn các nước thuộc nền văn hoá khác, những thế lực đang muốn cùng phương Tây chia sẻ hay thậm chí độc quyền vai trò thống trị.

© Samuel P. Huntington / Kampf der Kulturen

Le Viet Linh lược dịch

Nguồn: http://www.afmedien.de/news/publizistik/kampfderkulturen.php

* Samuel P. Huntington là tác giả cuốn sách nổi tiếng The Clash of Civilizations đã được dịch ra tiếng Việt, tựa đề Sự va chạm của các nền văn minh, NXB Lao động, 2003.

[1] Bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận lẫn nhau của 2 cường quốc hải quân Anh-Pháp làm cho ngoại thương của Mỹ bị thiệt hại buộc Mỹ tuyên chiến với Anh quốc năm 1812.  Người Mỹ bị lôi vào chiến tranh với lý do không rõ ràng.

[2] Kế hoạch Marshall là kế hoạch viện trợ nhằm vực dậy nền kinh tế các nước Tây Âu sau thế chiến thứ 2 mang tên Ngoại trưởng Hoa kỳ thời 1947-1949 Georg C. Marshall.

——————-

Bài học của Chiến tranh thế giới thứ II – Kẻ đốt lửa cuối cùng sẽ chết cháy!

BVN đã trình bạn đọc một bài viết sặc mùi hiếu chiến đăng rộng rãi trên nhiều trang mạng chính thống của Trung Quốc và đương tồn tại nhởn nhơ trên đó (Xem: http://www.boxitvn.net/bai/3680 ). Đây chỉ là một trong vô số bài mang giọng điệu khiêu khích kiểu ấy (mà chúng tôi sẽ lần lượt cung cấp đến quý bạn một vài bài kế tiếp, lời lẽ còn nhờm tởm hơn), nó vừa cho thấy thái độ rất coi thường của những kẻ cầm chịch ĐCS và Nhà nước Trung Hoa đối với những đối tác đang tỏ ra quá nhũn nhặn đến mức cúi thấp cái đầu trước họ, vừa báo hiệu nguy cơ kích động của một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan bên trong xã hội Trung Quốc có thể đưa đến những hành động bột phát điên rồ.

Nhưng ta hãy cứ đặt giả thuyết nếu có một cuộc chiến tranh giới hạn nào đó xẩy ra thì tình thế sẽ thế nào? Bạn Hà Hiền, trong bài viết vừa gửi đến chúng tôi đưa ra một giải đoán sơ bộ:

“Trong tương lai nếu có chiến tranh, rất nhiều khả năng vẫn chỉ là xung đột giữa các nước bằng chiến tranh quy ước để giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, giải quyết các “mối hận” riêng rẽ (như trường hợp xung đột Nga – Grudia) vào thời điểm mà kẻ gây chiến thấy thuận lợi và với cách thức tiến hành sao cho tránh đến mức thấp nhất việc “quốc tế hóa”, nhất là sự can thiệp bằng quân sự của các nước khác.

Xin được trở lại vấn đề cụ thể được nhiều người quan tâm là quan hệ Việt – Trung.  Một cuộc chiến tranh quy ước như vậy nếu xảy ra giữa VN và TQ thì chắc chắn VN sẽ bị thiệt hại nặng hơn về nhân mạng, và có thể thua về quân sự trong thời gian đầu nhưng thắng lợi cuối cùng không thuộc về TQ cả về quân sự lẫn chính trị, cả về đạo lý và văn hóa. Lịch sử hàng nghìn năm quan hệ Việt – Trung và cuộc chiến gần đây nhất xảy ra năm 1979 mà mỗi bên đều đã dạy cho bên kia một bài học là những minh chứng rõ ràng nhất cho điều này. Việt Nam khác với Grudia. Một cuộc chiến tranh như vậy cũng sẽ làm TQ suy yếu và là cơ hội cho các cường quốc khác”.

Đúng hay sai, xin mời bạn đọc xem xét và suy ngẫm, kết hợp với các bài “Giải quyết vấn đề Biển Đông, then chốt là hành động” của Hoàn cầu thời báo, và “Mỹ – Trung cuộc chiến thế kỷ” của Ian Bremmer mà chúng tôi mượn lại trên một vài trang mạng vào ngày 9-5-2010 để đưa lên BVN trong cùng một cụm chủ đề.

Bauxite Việt Nam

Hôm nay ngày 9/5, kỷ niệm 65 năm ngày kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II bằng thất bại thảm hại của nước Đức Quốc xã. Đây là bài học cho bất kỳ kẻ nào còn có ý định gây chiến nhằm thay đổi trật tự thế giới trừ khi kẻ đó muốn là “kẻ đốt đền”, muốn ghi tên mình vào lịch sử như là những kẻ cuối cùng phải nhận lấy cái chết nhục nhã nhất và bị chính nhân dân nước mình trong thời đại văn minh này nguyền rủa như Hitle.

Vì thế những “học giả” vô công rồi nghề nhưng lại loạn chữ ngồi nghĩ ra những thứ đại loại  như “Kịch bản Huntington” (*) hoặc bất kỳ một “kịch bản” nào khác về một cuộc Chiến tranh thế giới thứ III có lẽ cũng muốn tên mình trở thành nổi tiếng bởi sự ngu xuẩn mang tầm cỡ quốc tế vượt xa sự ngu xuẩn ở cấp độ quốc gia kiểu “Đỗ Ngọc Bích”!

Trong thời đại ngày nay, nếu có Chiến tranh thế giới thứ III thì gần như chắc chắn vũ khí hạt nhân sẽ được dùng đến và điều này đồng nghĩa với việc cả nước gây chiến cũng bị hủy diệt. Không có kẻ nào giành thắng lợi tuyệt đối trong một cuộc chiến như vậy mà cả nhân loại sẽ thua tuyệt đối. Tất nhiên nguy cơ này vẫn còn dù chỉ với xác suất 1% vì trong nhân loại vẫn còn 1% những kẻ điên rồ muốn tự sát. Còn nếu có những kẻ gây chiến chỉ nghĩ đến bản thân chúng thì chúng cũng đừng ảo tưởng rằng chúng chỉ việc hy sinh hàng triệu nhân dân nước chúng còn chúng thì sẽ an toàn ngồi rung đùi trong các boongke chống bom hạt nhân. Chúng có chui xuống cống thì cũng không thoát khỏi cái chết! Cái chết nhục nhã của  Hitle và những tên quốc xã đầu sỏ khác là một bài học nhãn tiền!

Nhưng chẳng lẽ nhân loại văn minh bây giờ lại chịu bị hủy diệt và chết theo 1 kẻ mất trí giống như Hitle?

Vì vậy trong tương lai nếu có chiến tranh, rất nhiều khả năng vẫn chỉ là xung đột giữa các nước bằng chiến tranh quy ước để giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, giải quyết các “mối hận” riêng rẽ (như trường hợp xung đột Nga – Grudia) vào thời điểm mà kẻ gây chiến thấy thuận lợi và với cách thức tiến hành sao cho tránh đến mức thấp nhất việc “quốc tế hóa”, nhất là sự can thiệp bằng quân sự của các nước khác.

Xin được trở lại vấn đề cụ thể được nhiều người quan tâm là quan hệ Việt – Trung.  Một cuộc chiến tranh quy ước như vậy nếu xảy ra giữa VN và TQ thì chắc chắn VN sẽ bị thiệt hại nặng hơn về nhân mạng, và có thể thua về quân sự trong thời gian đầu nhưng thắng lợi cuối cùng không thuộc về TQ cả về quân sự lẫn chính trị, cả về đạo lý và văn hóa. Lịch sử hàng nghìn năm quan hệ Việt – Trung và cuộc chiến gần đây nhất xảy ra năm 1979 mà mỗi bên đều đã dạy cho bên kia một bài học là những minh chứng rõ ràng nhất cho điều này. Việt Nam khác với Grudia. Một cuộc chiến tranh như vậy cũng sẽ làm TQ suy yếu và là cơ hội cho các cường quốc khác.

Theo 1 bài viết trên Bauxite Việt Nam,   một số trang mạng chính thống và không chính thống của Trung Quốc đang tuyên truyền một cách vô trách nhiệm và điên rồ về 1 cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc. Tôi không tin là các nhà lãnh đạo có thừa thông minh như lãnh đạo TQ lại  nghe theo những kịch bản xui dại một cách ngu xuẩn như vậy! Nhưng cũng có thể chính vì các nhà lãnh dạo TQ thừa thông minh nên họ đang thực hiện một chính sách chơi bài ngửa là không ngừng gia tăng áp lực của họ chủ yếu trên Biển Đông theo chiến lược “cái gậy và củ cà rốt”, trong đó “gậy” được dùng cho các… ngư dân VN đang hàng ngày phải lo kiếm ăn trên các ngư trường truyền thống của mình, còn “cà rốt” là “16 chữ vàng” hay “4 tốt” gì đó thì họ giơ ra để nhử những người đang nắm quyền điều hành đất nước, kèm theo việc “đánh võ mồm” kiểu chiến tranh tâm lý trên cả các kênh chính thống và không chính thống.

Mục đích khá lợi hại của kiểu “diễn biến” chiến tranh chẳng ra chiến tranh, hòa bình chẳng phải hòa bình này là lấn dần từng bước bằng cách làm suy yếu VN cả từ bên trong và bên ngoài với chi phí bỏ ra là không đáng kể.  Nhưng liệu cái trò này có tạo ra hiệu quả như ý muốn hay lại tạo ra thêm những phản ứng “tự diễn biến” chết người nằm ngoài sự tính toán của những kẻ đầu têu ra cái trò đó thì xin… để hồi sau sẽ rõ.

HH

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: