Đồng chí X và Trần Thủ Độ


Son Tran

Các blog trong nước dường như chỉ đăng bài có lợi cho đ/c X, thậm chí một số blog còn “đánh bóng” tên tuổi ông ta một cách sống sượng.

Chẳng lẽ họ không nhận thấy đ/c X là người phải chịu trách nhiệm chính trước tình trạng Trung Quốc vẫn đang ngày đêm xâm lược kinh tế Việt Nam suốt mấy năm qua và sắp sửa thôn tính xong nền kinh tế Việt Nam? Chẳng lẽ họ không nhận thấy đ/c X là nhân vật đứng đằng sau các vụ bắt bớ và đàn áp khốc liệt nhằm vào những người lên tiếng chống bá quyền Trung Quốc và đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam?

Không hiểu một khi ông ta lên làm Tổng Bí thư thì họ còn tung hê ông ta đến đâu? Không khéo lúc đó chẳng còn cái gọi là báo chí “lề phải” hay “lề trái” nữa mà chỉ còn mỗi một “lề 3X”.

Trong khi vợ chồng mình tố cáo bè lũ cướp nước và bán nước Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng suốt mấy năm nay thì hầu như chẳng mấy ai lên tiếng ủng hộ, dù là chỉ lên tiếng yêu cầu nhà chức trách Việt Nam làm rõ trắng đen vụ việc thôi.

Một hiểm hoạ hầu như ai cũng nhận thấy mà không ai dám lên tiếng thì làm sao tránh khỏi mất nước đây?

Những người cầm bút trong xã hội không chỉ có sứ mạng cao cả, mà họ còn có quyền lực – đó là sức mạnh của thông tin và truyền thông. Thiết nghĩ, họ vừa không được phép thoái thác sứ mạng cao cả của mình là phản ánh SỰ THẬT, vừa không được phép lạm dụng quyền lực của mình để phục vụ cho bất kỳ một thế lực hắc ám nào.Trung Nam Hải đang toan tính gì với con bài Nguyễn Tấn Dũng?

Lê Anh Hùng
Kết cục của chế độ cộng sản
Chủ nghĩa cộng sản là một sản phẩm quái thai trong dòng chảy của lịch sử nhân loại. Dĩ nhiên, như một quy luật tất yếu, nó đã và đang bị lịch sử vứt vào sọt rác.
Thành trì của chủ nghĩa cộng sản thế giới là Liên Xô đã sụp đổ cách nay ¼ thế kỷ. Giờ đây, số quốc gia lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm hệ tư tưởng chính thống chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay: Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba và Lào.
Cùng với xu thế dân chủ hoá trên toàn thế giới, người dân ở các quốc gia cộng sản còn lại đó đã bắt đầu thức tỉnh và lên tiếng đòi tự do, dân chủ và quyền con người chính đáng của mình. Việc Mỹ và Cuba vừa tuyên bố bình thường hoá quan hệ sau hàng thập kỷ ở trong trạng thái đối đầu là dấu hiệu mới nhất minh chứng cho xu thế không thể đảo ngược ấy.
Quá trình mở cửa hội nhập với thế giới trong bối cảnh cuộc cách mạng Internet và cách mạng truyền thông xã hội diễn ra ngày càng sâu sắc là nhân tố quyết định tạo ra những biến chuyển lớn lao trong lòng xã hội Việt Nam thời gian qua.
Ngày càng nhiều người dân Việt Nam công khai lên tiếng đòi xoá bỏ Điều 4 trong Hiến pháp, điều khoản hiến định vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng CSVN đối với nhà nước và xã hội. Điều mà chỉ mới cách đây mấy năm ít ai dám nghĩ tới thì nay người ta đã công khai bày tỏ thái độ. Đặc biệt, xu thế này ở Việt Nam lại diễn ra trong bối cảnh nhà cầm quyền cộng sản gia tăng chính sách đàn áp nhằm vào những tiếng nói đòi tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.
“Kẻ thức thời mới là tuấn kiệt.” Nay thì tiếng nói đòi đổi thay không chỉ vang lên trong đám thường dân, mà ngay cả trong giới cầm quyền cũng đã xuất hiện những lời lẽ bóng gió về đòi hỏi tất yếu đó.
Toan tính của Bắc Kinh
Hàng ngàn năm qua, Trung Quốc chưa lúc nào nguôi tham vọng thôn tính Việt Nam. Ngay cả trong những ngày tháng “mặn nồng” nhất của mối quan hệ hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” giữa hai nước, họ cũng không một phút giây sao nhãng “sứ mạng cao cả” đó.
Cố nhiên, Bắc Kinh thừa khôn ngoan và thực tế để hiểu rằng chế độ cộng sản ở Việt Nam không tránh khỏi sụp đổ trong vài năm tới.
Khi sụp đổ tất yếu ấy diễn ra, chính quyền hậu cộng sản tại Việt Nam có nhiều khả năng sẽ là một chính thể dân chủ đi theo quỹ đạo của Mỹ và phương Tây. Đơn giản, người dân Việt Nam đã quá chán ngán với chế độ độc tài, còn Trung Quốc thì chưa bao giờ là niềm tin của họ, ngoại trừ những tên Việt gian bán nước.
Cơ may lớn nhất cho Trung Quốc lúc đó là nhân lúc Việt Nam rơi vào khoảng trống quyền lực, họ sẽ phát động một cuộc tấn công chớp nhoáng nhằm vào Trường Sa hòng kiểm soát hoàn toàn Biển Đông.
Để ngăn ngừa một Việt Nam hậu cộng sản đi theo quỹ đạo của Mỹ, việc Trung Quốc đưa quân vào Việt Nam phối hợp với đội quân Hán tặc và Việt gian tại chỗ là một khả năng thực tế, nhất là khi Trung Quốc đã và đang tìm cách khống chế một số vị trí hiểm yếu về an ninh quốc phòng ở Việt Nam như các khu rừng đầu nguồn ở một số tỉnh, Vũng Áng – Sơn Dương (Hà Tĩnh), Tây Nguyên (qua dự án khai thác bauxite), Hải Vân (qua hai dự án du lịch của người Hoa), Ninh Thuận (qua dự án điện hạt nhân Ninh Thuận do PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải làm Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước), cáccăn cứ quân sự dưới hình thức dự án kinh tế trá hình ở Lào và Campuchia, v.v.
Mặc dù vậy, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc đưa quân vào nước khác ẩn chứa nhiều rủi ro, nhất là với một quốc gia có truyền thống chống Trung Quốc như Việt Nam. Trung Quốc hoàn toàn có thể bị sa lầy và dễ dàng đánh mất vị thế siêu cường, thậm chí bước sa chân đó có thể biến thành cơ hội “ngàn năm có một” để Mỹ và phương Tây xâu xé tanh bành một Trung Hoa Đại Hán đang ngày càng cho thấy là vấn đề lớn nhất của cả thế giới.
Thậm chí, ngay cả khi Trung Quốc đánh chiếm được Trường Sa thì chính phủ hậu cộng sản ở Việt Nam chắc chắn sẽ ở vào thế đối đầu với Trung Quốc. Lúc ấy, với sự hậu thuẫn của Mỹ và phương Tây, một cuộc chiến trường kỳ của Việt Nam hòng giành lại Trường Sa là khả năng gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ phải đối mặt. Chưa biết thắng thua thế nào, nhưng cái giá mà Trung Quốc sẽ phải trả là không hề nhỏ.
Chính vì vậy, kịch bản khả quan nhất cho Trung Quốc trong bối cảnh chế độ độc tài toàn trị ở Việt Nam sắp sụp đổ là dựng lên một chế độ độc tài hậu cộng sản giống như Nga, trong đó nhân vật sắm vai “Putin của Việt Nam” là kẻ mà Trung Quốc dễ dàng khống chế và thao túng.
Nếu điều này xẩy ra, ngoài biển thì Trung Quốc có thể tiếp tục quá trình thôn tính Trường Sa theo chiến thuật “tằm ăn dâu” sở trường, trước phản ứng lấy lệ của lãnh đạo Việt Nam, cho đến khi họ kiểm soát hoàn toàn Trường Sa và đặt Mỹ và phương Tây vào tình thế đã rồi; trên đất liền thì Trung Quốc sẽ tiếp tục khống chế các vị trí các vị trí xung yếu về an ninh – quốc phòng nhằm khi chiến sự xẩy ra thì sẵn sàng cho phương án chia cắt Việt Nam thành nhiều phần mà không cần phải tốn nhiều công sức, thậm chí chỉ cần sử dụng lực lượng trá hình tại chỗ; và đặc biệt, nền kinh tế Việt Nam sẽ đi đến chỗ lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, tiếp nối quá trìnhvẫn đang diễn ra nhiều năm nay.
Một khi bộ máy lãnh đạo chóp bu hoàn toàn bị thao túng, các vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng trên cả nước bị khống chế và nền kinh tế trở thành “một bộ phận không thể tranh cãi của Trung Quốc”, Việt Nam coi như lọt hẳn vào quỹ đạo của Trung Quốc và việc đi đến chỗ trở thành một Tây Tạng hay Tân Cương mới của Đại Hán chỉ còn là vấn đề thủ tục.
Tại sao lại là Nguyễn Tấn Dũng?
Vấn đề lúc này đã trở nên rõ ràng: Ai sẽ là nhân vật sắm vai “Putin của Việt Nam” trong kịch bản thâm độc và xảo quyệt thể hiện đúng bản chất của Trung Quốc như trên? Xin thưa, nhân vật đó không ai khác hơn đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tại sao lại là Nguyễn Tấn Dũng, nhân vật vẫn có những lời lẽ mạnh mẽ nhất nhằm vào Trung Quốc trong ban lãnh đạo Việt Nam hiện nay? Và chẳng phải bản thân Hoàn Cầu Thời Báo từng mấy lần lên tiếng “cảnh báo”về lập trường “bài Hoa, thân Mỹ” của ông ta đấy sao?
Xin thưa, bất chấp những tuyên bố “hùng hồn” của ngài Thủ tướng nhằm vào Trung Quốc, cũng như những lời “cảnh cáo” của báo chí Trung Quốc nhằm vào ông ta, Nguyễn Tấn Dũng vẫn là một trong những người Việt Nam lập nhiều “chiến công” nhất cho Trung Nam Hải kể từ năm 1945 đến nay. Xin đơn cử:
  1. Trước kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XII (tháng 7.2007), ông Nguyễn Tấn Dũng đã nhất quyết đề cử ông Hoàng Trung Hải vào vị trí quan trọng thứ hai trong chính phủ: Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế. Mặc dù lúc đó một số cán bộ ở Ban Tổ chức Trung ương và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã gửi Tâm Huyết Thư cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư để tố cáo lý lịch người Hán của ông Hoàng Trung Hải, nhưng vẫn không ngăn chặn được. Ngoài ra, ông Nguyễn Tấn Dũng còn tin tưởng giao phó cho ông ta vô số trọng trách quán xuyến nền kinh tế khác. Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ có một người Hán nào, đặc biệt lại che dấu lý lịch với mưu đồ đen tối, leo lên đến vị trí gần như nắm trong tay cả nền kinh tế và gây ra không biết bao nhiêu tai hoạ cho Việt Nam (nhưng đặc biệt có lợi cho Trung Quốc) suốt từ năm 2007 đến nay.
  2. Năm 2005, tức trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng ngồi lên chiếc ghế Thủ tướng, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ chiếm 15,9%, với giá trị nhập siêu là 2,67 tỷ USD. Chín năm dưới quyền lãnh đạo của ông ta, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam cứ tăng dần đều và đến năm 2014 thì lên tới 29,5%, với giá trị nhập siêu là 28,9 tỷ USD. Quý vị hãy hình dung thế này: cộng với giá trị nhập khẩu tiểu ngạch trá hình và hoạt động buôn lậu tràn lan từ Trung Quốc, ước chừng cứ 2 sản phẩm Việt Nam nhập khẩu từ bên ngoài thì có 1 sản phẩm “made in China”, và tỷ lệ đó vẫn đang tăng lên qua từng năm. Nếu xét thực tế phần lớn sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc là chất lượng thấp và độc hại thì đây thực sự là THẢM HOẠ đối với một nền kinh tế có độ mở nằm trong nhóm 5 nước cao nhất trên thế giới như Việt Nam.
Đồ thị: Tỷ trọng xuất nhập khẩu giữa Việt Nam – Trung Quốc trong
tổng kim ngạch XNK của Việt Nam giai đoạn 2000÷2014
 – Nguồn: VOA
  1. Trong lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của Việt Nam, mặc dù bị Trung Quốc xâm lược và đô hộ nhiều lần, nhưng chưa bao giờ người Trung Quốc “cắm chốt” được ở bất cứ đâu trên mảnh đất phương Nam này. Song đến nay, nhờ “công lao” của cặp bài trùng Nguyễn Tấn Dũng – Hoàng Trung Hải mà Trung Quốc đã đặt chân vào và từng bước khống chế nhiều vị trí xung yếu về an ninh – quốc phòng ở Việt Nam: một loạt dự án thuê đất rừng đầu nguồn ở một số tỉnh, dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, dự án Formosa ở Vũng Áng, hai dự án du lịch của người Hoa trên đèo Hải Vân, dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận, v.v.
  2. Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhà thầu Trung Quốc trúng thầu đến 90% các dự án hạ tầng trọng điểm ở Việt Nam, với vô số hệ luỵ về an ninh – quốc phòng và những thiệt hại không thể đong đếm về kinh tế (chậm tiến độ hàng năm; chất lượng thấp; phụ thuộc vào Trung Quốc về phụ tùng và linh kiện thay thế, v.v.). 
  3. Với tư cách là người phụ trách Đảng uỷ Công an Trung ương kể từ năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng là nhân vật đóng vai trò quyết định trong chiến dịch đàn áp ngày càng khốc liệt nhằm vào phong trào chống Trung Quốc xâm lược ở Việt Nam nhiều năm qua. Những tiếng nói phản kháng Trung Quốc mạnh mẽ nhất như TS Cù Huy Hà Vũ, blogger Điếu Cày, nhà văn/blogger Phạm Viết Đào, blogger Anh Ba Sàm, nhà văn/blogger Nguyễn Quang Lập… đều lần lượt “được” ông ta cho vào “an dưỡng” trong tù. Mới đây, nhà văn/blogger yêu nước Phạm Viết Đào đã chỉ đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đã chỉ đạo lực an ninh dưới quyền bắt bỏ tù ông cũng như nhiều blogger khác. 
  4. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chính là “tác giả” của bản Thông báo cấm biểu tình chống bành trướng Bắc Kinh do UBND Tp Hà Nội ban hành ngày 18/8/2011.
Theo nhà báo Huy Đức: “Ngày 2.8.2011, Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: ‘Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình. Để rồi, ngày 18.11.2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là ‘gây rối Thủ đô’, là có ‘các thế lực chống đối trong và ngoài nước’. Dân chúng nào biết tác giả bản thông báo này là Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những ‘tác phẩm báo chí’ bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.”
  1. Cho đến nay, văn bản pháp lý quan trọng nhất của nhà nước Việt Nam nhằm khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa chính là Luật Biển do Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 21.6.2012. Tuy nhiên, mặc dù cố tạo ra vẻ ta đây là nhân vật chống Tàu mạnh mẽ nhất trong bộ máy, ông Nguyễn Tấn Dũng lại không hề để lại bất kỳ dấu ấn nào trong quá trình ra đời của đạo luật. Đây được cho là một chiến thắng cá nhân của ông Trương Tấn Sang, người lúc bấy giờ còn cho thấy lập trường chống Trung Quốc rõ ràng. Không những vậy, tuy đã gần 3 năm trôi qua kể từ khi đạo luật này được thông qua,  chính phủ của TT Nguyễn Tấn Dũng vẫn chưa có bất kỳ động thái gì để triển khai thực hiện đạo luật đó, kể cả việc đơn giản nhất là ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện.
  2. Ông Nguyễn Tấn Dũng là một “bậc thầy” của trò “nói một đàng, làm một nẻo”. Điều này thì chẳng còn mấy ai lấy làm lạ nữa. Điều lạ ở đây là dường như ông ta càng “nói một đàng, làm một nẻo” thì lại càng có nhiều người tung hê và đặt niềm tin vào ông ta. Không ít người vẫn đang mơ màng là ông ta sẽ cải cách thể chế nếu nắm quyền hành trong tay, đơn giản là vì họ đã nhiều lần nghe ông ta hô hào “cải cách thể chế”, mà lần nào nghe cũng sướng tai. Xin hỏi, nếu ông ta thực tâm muốn cải cách thể chế, tại sao ông ta lại KHÔNG HỀ thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, điều mà ông ta đã lớn tiếng hô hào ngay từ những ngày đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai và hoàn toàn nằm trong phạm vi chức trách cũng như quyền hạn của ông ta. Kinh tế quyết định chính trị. Nếu ông ta thực tâm muốn cải cách thể chế chính trị, tại sao ông ta không tiến hành cải cách thể chế kinh tế để thúc đẩy cải cách chính trị? Tổng thống Obama từng hy vọng việc ký kết TPP với Việt Nam sẽ diễn ra trong năm 2013, vậy mà 2 năm sau đấy người ta vẫn chưa xác định được thời điểm ký kết. Nguyên nhân chủ yếu cho sự chậm trễ này là vì Việt Nam chậm tái cấu trúc nền kinh tế và thái độ “quyết liệt” của ông Nguyễn Tấn Dũng trong việc đàn áp những người con ưu tú của đất nước dám cất lên tiếng nói đòi cải cách hệ thống và chống bá quyền Trung Quốc. (Dĩ nhiên, đây là điều mà Trung Quốc hết sức mong muốn.)
Bên cạnh những gì đã trình bày trên đây là thực tế (i) hàng hoá Trung Quốc ngày càng tràn ngập thị trường Việt Nam, (ii) hoạt động buôn lậu hàng hoá từ Trung Quốc về Việt Nam ngày một phổ biến, (iii) làn sóng doanh nghiệp Trung Quốc thâu tóm doanh nghiệp Việt Nam đang âm thầm diễn ra, (iv) các nhà đầu tư Trung Quốc đang ráo riết săn lùng bất động sản Việt Nam, và (v) người lao động Trung Quốc nhan nhản trên khắp lãnh thổ Việt Nam – tất cả đều diễn ra dưới quyền cai quản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thử hỏi, kể từ năm 1945 đến nay, liệu còn người Việt Nam nào lập được nhiều “thành tích” cho Trung Quốc hơn ông Dũng?
Những phát biểu hùng hồn của ông Dũng nhằm vào Trung Quốc và những lời “cảnh cáo” mà Hoàn Cầu Thời Báo nhằm vào ông Dũng chẳng qua chỉ là trò loè bịp dư luận do Trung Nam Hải giật dây, hòng tạo điều kiện cho con bài đắc dụng nhất của họ “ghi điểm” trong mắt công chúng Việt Nam hầu tiến tới thâu tóm ngôi vị tối cao tại kỳ Đại hội Đảng sắp đến.
Mặc dù đứng ở vị trí thứ ba hệ thống “ngôi thứ” của bộ máy, nhưng ông Tấn Dũng vẫn được đánh giá là nhân vật quyền lực nhất Việt Nam nhiều năm qua.

Mặc dù đứng ở vị trí thứ ba hệ thống “ngôi thứ” của bộ máy, nhưng ông Tấn Dũng vẫn được đánh giá là nhân vật quyền lực nhất Việt Nam nhiều năm qua.

Ông Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định trước Quốc hội hôm 19.11.2014 rằng quan điểm của ông ta trong quan hệ với Trung Quốc là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”.
Vậy ông ta sẽ “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” với Trung Quốc như thế nào một khi trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Việt Nam?
Xin thưa, quá trình “Hán hoá” Việt Nam sẽ còn diễn ra nhanh hơn so với thời kỳ ông ta làm Thủ tướng, bởi lúc này chẳng còn thế lực nào ở Việt Nam đủ sức thách thức quyền lực của ông ta cả.
Hãy nhìn lại 9 năm dưới “triều đại” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xem Việt Nam đã bị “Hán hoá” đến thế nào để hình dung ra bộ mặt Việt Nam 10 năm tới dưới “triều đại” của Tổng Bí thư/Tổng thống Nguyễn Tấn Dũng.

Dĩ nhiên, nếu trở thành Tổng Bí thư khoá tới, ông ta sẽ tiến hành cải cách thể chế “theo cách của 3X” vào cuối nhiệm kỳ để dọn đường cho mình trở thành “Putin của Việt Nam”.

Tác giả bài viết này là người vẫn đang theo đuổi vụ tố cáo đối với PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và (nguyên) TBT Nông Đức Mạnh kể từ năm 2008 đến nay, nhưng không hề được giải quyết đúng pháp luật, trong bối cảnh ngay cả ĐBQH Dương Trung Quốc, người tiếp nhận đơn thư của chúng tôi, cũng đã bị PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải khống chế và thao túng, mặc dù vụ việc đã được truyền thông quốc tế nhiều lần đưa tin.
Trong câu chuyện tố cáo, tác giả đã nêu rõ ông Hoàng Trung Hải (và sau lưng ông ta là Trung Nam Hải) đã gài bẫy và khống chế được ông Nguyễn Tấn Dũng. Vì thế, ông ta đã nhất quyết đặt ông Hoàng Trung Hải vào vị trí PTT phụ trách kinh tế, và ra sức bảo vệ nhân vật đầy tai tiếng và mờ ám này. Bản thân vợ tác giả, cô Lê Thị Phương Anh, nhân chứng sống của vụ án và từng là một mắt xích quan trọng trong đường dây ma tuý của PTT Hoàng Trung Hải, lại đang bị Công an Đồng Nai bắt giam và truy tố trái phép từ ngày 15.5.2014.
Bộ Ngoại giao Mỹ từng nêu vụ Lê Anh Hùng, người tố cáo cặp bài trùng Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng, bị cưỡng chế vào trại tâm thần từ ngày 24.1 ÷ 5.2.2013 như một vụ vi phạm nhân quyền tiêu biểu của nhà cầm quyền Việt Nam trong năm 2013.
Dưới áp lực của dư luận, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn điềm nhiên tuyên bố dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Với dự án khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine trên đèo Hải Vân thì mặc dù Bộ Quốc phòng đã chính thức có văn bản kiến nghị dừng dự án từ ngày 28.11.2014 song đến nay ông ta vẫn chưa hề hé răng lấy nửa lời, dù trước đấy ông ta đã hứa “sẽ xem xét lại”. Nếu đối thủ của ông ta không “xì” tin cho báo chí lên tiếng thì sẽ chẳng bao giờ có chuyện ông ta “xem xét lại” ở đây cả.
Tương tự, nếu đối thủ của ông ta không “xì” ra cho báo chí biết chuyện Cty Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đòi thành lập đặc khu kinh tế trực thuộc Văn phòng Chính phủ thì nay Formosa Hà Tĩnh đã trở thành một “tiểu quốc” của Đại Hán trực thuộc PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải rồi (dù trên thực tế nó đã trở thành đặc khu Trung Quốc từ lâu).
Đặc biệt, nếu truyền thông quốc tế không kịp thời loan tin thì âm mưu lập căn cứ tại Cửa Việt của Trung Quốc cũng đã trở thành hiện thực.
Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

******************

NGUYỄN TẤN DŨNG – NHÂN VẬT NĂM 2015???
Nguyễn Quang Duy
Năm 2015 là năm sửa sọan cho Đại Hội 12 nên hứa hẹn nhiều tranh chấp về cả nhân sự lẫn đường lối của đảng Cộng sản, ông Nguyễn Tấn Dũng lại đang được dưluận nhắc tới như một Tổng Bí Thư đảng Cộng sản hay một Tổng Thống tương lai cho Việt Nam, nên một số vấn đề cần đưa ra nhằm nhận định và ước đóan tình hình của năm nay.
Thay đổi từ bên trong và bên trên
Thời gian qua đảng Cộng sản đã có một vài thay đổi lớn: nhiều vấn đề đã được mang ra Trung Ương Đảng bàn thảo để đi đến quyết định chung.
Như, Hội Nghị 10 lần này, theo nhiều nguồn tin thì ông Dũng đã dẫn đầu số phiếu tín nhiệm cao với trên 77 phần trăm phiếu. Đây là lầnđầu tiên đảng Cộng sản để các Ủy viên Trung Ương Đảng đánh giá mức độ tín nhiệm các thành viên Bộ Chính trị.
Hay tại Hội Nghị 6, 10-2012, các Ủy viên Trung ƯơngĐảng đã từ chối lời đề nghị của Bộ Chính trị về “một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị”.
Người bị đề nghị kỷ luật được nêu danh “đồng chí X”,nhưng qua đồn đóan chính là ông Nguyễn Tấn Dũng. Lý do ông Dũng bị đề nghị kỷluật và các ý kiến trong Hội Nghị 6 vẫn là chuyện nội bộ của Trung Ương.
Hai dẫn chứng bên trên cho thấy những thay đổi từbên trong và bên trên của đảng Cộng sản đã có lợi cho ông Dũng, nó giúp ông củng cố uy lực và quyền hành.
Thêm vào đó nhiều vấn đề từ lý thuyết đến chính sách cũng đã được công khai đưa ra thăm dò bàn luận. Thắng lợi ông Dũng chính là thắng lợi chung của phe cánh muốn thay đổi, nhất là thay đổi quan hệ giữa đảng và nhà nước Cộng sản.
Lấy thí dụ muốn gia nhập Hiệp Ước Đối tác kinh tếXuyên Thái Bình Dương (TPP) cánh nhà nước phải điều hành trong khuôn khổ quốc tế dựa trên các điều khỏan thỏa thuận với các quốc gia liên hệ, trong khi cánh bảo thủ thì vẫn cố bám vào các tín điều không còn giá trị.
Hay phía nhà nước muốn đánh giá đúng các họat động thì cần minh bạch việc thu chi tài chánh và trong tình trạng bội chi, tiếp tục thất thu phía nhà nước cần cắt giảm ngân sách. Ảnh hưởng nặng trong việc cắt giảm này là các sinh họat không cần thiết của đảng Cộng sản và của Mặt Trận Tổ Quốc, và họat động không mang lại lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước.
Bế mạc Hội Nghị 12 ông Nguyễn Phú Trọng cho biết không thể để tư nhân sở hữu báo chí và báo chí nhà nước không được chạy theo lợi nhuận. Nhưng ngay sau đó ông Dũng lại tuyên bố thông tin là nhu cầu thiết yếu không thể ngăn cấm và để cạnh tranh thì thông tin của nhà nước cũng cần kịp thời và chính xác.
Tuyên bố của ông Dũng cho thấy sẽ có nhiều thay đổi về nội dung và phương cách đưa tin của truyền thông “chính thống”. Ngân sách các Tổ Chức trong Mặt Trận Tổ Quốc bị cắt giảm sẽ ảnh hưởng việc trợ cấp cho những tờ báo thiếu khả năng cạnh tranh thông tin.
Trong vai trò Thủ Tướng ông Dũng sẽ đẩy mạnh cải cách truyền thông và trong chính trị người nắm được truyền thông là người nắmđược quyền lực.
Nói đến truyền thông cũng cần nhắc đến diễn đàn Chân Dung Quyền Lực đang đưa nhiều thông tin về giới lãnh đạo cộng sản. Diễn đàn này nhanh chóng thu hút người đọc và lan tỏa ảnh hưởng từ không gian ảo ra dư luận dân gian.
Vì nhiều thông tin được cho là từ nội bộ, cách đưa tin khá kịp thời và chính xác, lại có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng nên nhiều ngừơi tin rằng ông Dũng chính là chủ nhân của diễn đàn.
Cũng có người tin rằng từ phe cánh của Nguyễn Bá Thanh, Tổng Cục 2, gián điệp Trung Quốc, hay do chính Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) dựng lên.
Các nỗ lực thay đổi từ bên trong của ông Dũng thích hợp với chiến lựơc xoay trục của Hoa Kỳ do đó đã được chính giới Hoa Kỳ công khai ủng hộ. Con gái của ông Dũng lại vừa trở thành công dân Hoa Kỳ. Nên nếu diễn đàn do CIA hỗ trợ thì cũng không có gì phải ngạc nhiên.
Thay đổi về bang giao quốc tế
Tại Hoa Kỳ, đảng Cộng Hòa đã nắm cả Thượng viện lẫn Hạ viện, đảng này tích cực ủng hộ TPP và nếu được gia nhập Việt Nam sẽ là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất. Nhưng để được gia nhập TPP Việt Nam cần cải thiện nhân quyền, tôn trọng các quyền tự do tín ngưỡng, lập hội, ngôn luận, thực thi quyền thành lập nghiệp đòan độc lập, cải thiện hệ thống tư pháp, minh bạch thông tin và nhất là cải cách để thật sự có thị trường thương mại tự do.
Đảng Cộng hòa ủng hộ việc tăng cường quân sự và thắt chặt bang giao với Á châu và đưa ra chính sách cứng rắn hơn đối với Trung Quốc.Đường lối đó sẽ giúp giảm thiểu tham vọng bá quyền bành trướng của nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh.
Việt Nam là nước nhỏ, đang bị Trung Quốc đe dọa, ông Dũng đã có những tuyên bố khá mạnh như:
Trong quá trình hợp tác, những mâu thuẫn về lợi ích buộc mỗi quốc gia phải đấu tranh đểbảo vệ lợi ích chính đáng của mình, … không thể có kiểu nhà tôi là nhà anh, của tôi là của anh được”, hay
Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhậnđánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viễn vông, lệ thuộc nào đó“.
Lẽ đương nhiên Trung Quốc không thể làm ngơ trước những cố gắng thay đổi của Việt Nam, nhất là đang cố gắng để xích gần hơn với Hoa Kỳ quốc gia đối thủ của Trung Quốc. Vì thế tờ Hoàn Cầu Thời báo cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc vừa nêu đích danh Nguyễn Tấn Dũng là “đại diện cho phe thân Mỹ”.
Điều lạ là trên blog Nguyentandung.org lại trích dẫn nguyên văn Hoàn Cầu Thời báo như sau:
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nếu trở thành Tổng bí thư khóa tới có thể sẽ làm thay đổi đáng kể chiến lược quốc gia và chính sách đối ngoại của Việt Nam, chào đón sự tham gia sâu hơn của Mỹ vào Việt Nam. Washington đã nhận ra ‘tiềm năng’ của Thủtướng Nguyễn Tấn Dũng và Đại hội 12 có thể là cơ hội duy nhất cho ông lên nắm quyền lực tối cao, Mỹ có ý định ca ngợi kết quả của các cuộc đàm phán TPP là một trong những thành tựu lớn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”.
Bản tin đã được nhiều tờ báo trong nước đăng tải, ngầm chuyển tải một thông điệp Bắc Kinh không muốn ông Dũng làm Tổng Bí Thư vì ông là “đại diện cho phe thân Mỹ”. Ông Dũng đã biết khai thác yếu tố “Trung Quốc”để củng cố quyền hành, còn ông có thực sự “thân Mỹ thóat Trung” là một câu hỏi chưa có câu trả lời.
Một số người đi xa hơn cho rằng ông Dũng có thể trởthành Tổng Thống hay sẽ tóm thu cả hai chức Tổng Bí Thư Đảng và Chủ tịch Nhà nước. Thực tế cho thấy muốn giành được chức Tổng Bí Thư không phải là dễ. Ông Dũng phải thỏa hiệp và phân chia quyền lực với những người khác trong Bộ Chính Trị.
Đối với người dân và các đảng viên bình thường
Ở các quốc gia dân chủ nếu một người lãnh đạo đưa quốc gia vào vòng khủng hỏang người dân sẽ sử dụng lá phiếu để chọn người khác thay thế.
Trong khi đó ở Việt Nam, mọi quyết định đều xuất phát từ Bộ Chính Trị bởi thế trong vụ Vinashin ông Dũng mới tuyên bố “Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu Chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai.
Chính vì thế khi đất nước lâm vào tình trạng khủng hỏang tòan diện cũng không có người đứng ra nhận trách nhiệm và không có cơ chế để chế tài người được đảng Cộng sản giao công việc.
Công bình nhận xét ông Dũng là khuôn mặt sáng giá nhất trong Bộ Chính trị, thậm chí ông Dũng hơn cả Thủ tướng tiền nhiệm Phan Văn Khải. Như khi gặp Tổng thống Bush, ông Khải phải cầm giấy đọc mà lại đọc không được suôn sẻ.
Những phát biểu khá dứt khóat về chủ quyền biển đảo và thay đổi thế chế của ông cũng được đa số dân chúng ủng hộ (so với những người khác trong Bộ Chính Trị).
Đối với Phong Trào dân chủ
Vào ngày 15-10-2014 tại viện Körber ở Berlin Đức, ông Nguyễn Tấn Dũng đã cho biết “Chúng tôi tin rằng nhân quyền, tự do, dân chủ là xu hướng không thể đảo ngược và là đòi hỏi khách quan của xã hội loài người. VN không phải ngoại lệ, không đứng ngoài xu thế này”.
Ông Dũng nói thế, nhưng điều nghịch lý là trong 9 năm ông Dũng cầm quyền Phong Trào dân chủ đã bị ông thẳng tay đàn áp. Ngay cả những blogger đơn độc như Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Nguyễn Hữu Vinh, Hồng Lê Thọ, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Già… cũng bị bắt và bị kết án.
Mà nhân quyền lại là điều kiện để Việt Nam gia nhập TPP, nên nếu Hoa Kỳ quyết định bất lợi cho Việt Nam là điều có thể đóan trước.
Và để sửa sọan cho Đại Hội 12, tình trạng bắt bớ vi phạm nhân quyền trong những ngày sắp tới có thể sẽ tăng thêm.
Tạm Kết
Năm 2015 sẽ có nhiều biến động chính trị. Nếu ông Dũng tiếp tục nắm quyền hành thì không chắc cơ chế sẽ thay đổi. Nếu cơ chế vẫn chưa thay đổi thì tình trạng vẫn như cũ không có gì thay đổi.
Nhận định đúng tình hình và ước đóan đúng tương lai sẽ giúp mỗi người trong chúng ta quyết định đúng hành động của mình.
Tương lai Việt Nam không phải của riêng ông Dũng, hay của đảng Cộng sản mà là của tất cả chúng ta.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
28-1-2015


Thảm hoạ của độc đoán, chuyên quyền

Lê Diễn Đức
Giống như trang “Quan Làm Báo”, trang “Chân Dung Quyền Lực”, ra đời vào giữa tháng 12 năm 2014, đã gây tiếng vang trong dư luận.
“Quan Làm Báo” xuất hiện vào lúc các hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) chuẩn bị nhóm họp lần thứ 6, thứ 7, khi xảy ra cuộc tranh giành ảnh hưởng, hay đúng hơn, cuộc xung đột giữa Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang với Nguyễn Tấn Dũng, thậm chí cho khả năng loại bỏ Nguyễn Tấn Dũng khỏi ghế Thủ tướng.
Nếu như “Chân Dung Quyền Lực” được “Nikkei Asian Review”, một trong những cơ quan truyền thông lớn nhất Nhật Bản đưa tin, thì “Quan Làm báo” vào thời gian ấy cũng được nhiều tờ báo nước ngoài nói đến.
Về cuộc xung đột giữa Sang-Trọng và Dũng, tờ “Bangok Post” ngày 15 tháng 10, 2012 viết:
“Dẫn đầu cuộc tấn công vào ông Dũng không ai khác là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người đã rọi ánh sáng vào những vụ bê bối xung quanh thủ tướng và chính phủ của ông. Nền kinh tế chậm chạp, lạm phát, tham nhũng và khủng hoảng ngân hàng trong những tuần gần đây đã được xem là tất cả các tiêu cực đối với ông Dũng”.
Cũng tháng 10/2012, trong bài “Úm bà la, chúng ta tha chúng mình”, lấy ý “We forgive us” của tờ “The Economist” tôi đã viết:
“Đặt cược quá cao, có lúc một ăn tới một trăm, nên bị cháy túi, “Quan Làm Báo” suốt hai tuần Hội nghị  Trung ương 6 họp kín, đã không mò ra được thông tin nào khả tín. Những cơn gió từ các dữ kiện bê bối mà “Quan Làm Báo” trong gần nửa năm nỗ lực tạo nên, dường như đã thổi vào nhà hoang. Sau cuộc chơi, ta nhìn thấy một “Quan Làm Báo” khác, có vẻ đã thấm mệt, chất liệu thông tin gây sốc kém hẳn!”
“Ngay sau cơn sóng gió, hình ảnh Nguyễn Tấn Dũng đi duyệt binh oai vệ bên cạnh Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, một yếu nhân được “Quan Làm Báo” đặt ở phía Sang-Trọng, có thể chưa hẳn nói lên hết sức mạnh của ông Dũng trong thế chân kiềng kinh tế-an ninh-quân đội, nhưng là một tín hiệu thách thức cho bất cứ ai muốn làm suy chuyển chiếc ghế Thủ tướng của ông ta và cho cuộc mặc cả tiếp theo. Cứ xem sự hỉ hả, có phần lấc cấc của bà Hồ Thu Hồng, người được dư luận cho là thân cận với tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, cựu cố vấn của Nguyễn Tấn Dũng, thì thấy.
“The One-man -show” kịch tính của Hội nghị Trung ương 6, được kết thúc bằng “The Day After Show” hoành tráng!
Ông Nguyễn Phú Trọng lúc bấy giờ run lên như sắp bật khóc khi nói về những sai lầm của đảng trong báo cáo tổng kết. Dấu hiệu bất lực kết thúc cuộc chiến Sang-Trọng và Dũng với giải pháp thoả hiệp “chúng ta tha chúng mình”!
Với đà chiến thắng, tới hội nghị Trung ương 7, Nguyễn Tấn Dũng đã làm chủ tình hình, gần như “mua đứt” gần 200 uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, mà đa phần là các bộ trưởng, thứ trưởng trong nội các và lãnh đạo các tỉnh được ông bổ nhiệm và phân bổ lợi ích. Ý đồ đưa Nguyễn Bá Thanh, Trưởng Ban nội Chính vào Bộ Chính Trị của Nguyễn Phú Trọng bị chặn đứng bằng việc Ban Chấp hành Trung ương giới thiệu thêm các nhân vật khác để bỏ phiếu. Và hai người nằm ngoài ý muốn của Nguyễn Phú Trọng là Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội cùng Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, lọt vào Bộ Chính Trị.
Từ hội nghị Trung ương 7 đến hội nghị Trung ương 10 là thời gian khá dài ông Dũng củng cố vị trí, chấn chỉnh một số chính sách.
Mặc dầu bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam ảm đạm với nợ công tăng nhanh, nợ xấu chồng chất và tình trạng phá sản của các doanh nghiệp tư nhân, mức tăng trưởng kinh tế năm 2014 cao hơn so với dự kiến, 5,9% (5,42 % năm 2013) đã làm cho ông Dũng có thể mạnh miệng hơn.
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu nhờ xuất khuẩt của khu vực vốn nước ngoài FDI (chiếm khoảng 66-69% tổng kim ngạch xuất khẩu, riêng Samsung đã xấp xỉ 30 tỷ USD). Xuất khẩu của khu vực FDI, xuất khẩu qua Mỹ (xấp xỉ 26 tỷ USD) và nguồn kiều hối trên 12-14 tỷ USD (2014) đã làm cân bằng tổng cán cân xuất nhập khẩu thương mại, nhưng trong thực tế nhập siêu từ Trung Quốc tới 24 tỷ USD (bằng15% GDP).
Nếu như “Chân Dung Quyền Lực” tiết lộ kết quả bỏ phiếu tín nhiệm trong hội nghị Trung ương 10 là đúng (và có khả năng như thế ) thì rõ ràng ông Dũng đã đạt được một bước vững chắc trong việc nắm trọn quyền lực
“Chân Dung Quyền Lực” nhận xét về ông Dũng như sau: .
“Về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông là người đạt số phiếu tín nhiệm cao nhất (với 152 phiếu tín nhiệm cao, đạt 77%), điều này phản ánh đúng thực tế, thời gian qua ông đã khẳng định bản lĩnh với các quyết sách làm ổn định kinh tế và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Không chỉ Trung ương mà dư luận trong quần chúng nhân dân cũng thể hiện rõ điều này”.
Từ nhận xét trên đây, “Chân Dung Quyền Lực” dường như lộ rõ chân tướng là một trang web của nhóm lợi ích ủng hộ ông Dũng.
Đầu năm 2016 sẽ có đại hội 12 của ĐCSVN, cũng là lúc phân định các chức vụ lãnh đạo của đảng và nhà nước. Ở tuổi 65 ông Dũng không thể tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo nhà nước hay chính phủ nữa. Khả năng ông sẽ làm Tổng Bí thư là hoàn toàn có thể xảy ra trong bối cảnh hiện tại và ông đang phát quang con đường này để nắm vị trí cao nhất của đảng cầm quyền.
Nguyễn Phú Trọng trong hội nghị 10 nói về việc thay đổi thể chế nhưng không thay đổi chế độ, có nghĩa rằng, cơ cấu quyền lực Tổng Bí thư -Chủ tịch nước-Chủ tịch Quốc hội-Thủ tướng, tức cơ cấu “Vua Tập Thể”, có thể bị thay đổi.
Tuy nhiên, theo tôi, khả năng giống mô hình Trung Quốc, Tổng Bí thư kiêm luôn Chủ tịch nước khó xảy ra, vì ĐCSVN chưa muốn trao trọn quyền lực vào một người.
Về Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Tấn Dũng có thể yên tâm với bà Nguyễn Thị Kim Ngân, dường như là một ứng viên nặng ký nhất với số phiếu tín nhiệm cao đứng thứ ba.
Cho nên không bỗng dưng mà “Chân Dung Quyền Lực” tấn công vào Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hay Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, những người có khả năng cạnh tranh các chức vụ Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng không hợp với ý ông Dũng.
Sống trong văn hoá sợ hãi và nô lệ, tư duy há miệng chờ sung mong dân chủ tới, nên không ít người Việt hy vọng nếu quyền lực tập trung vào Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam sẽ có những đổi lớn, sẽ thoát Trung, xích gần với Mỹ hơn. Cũng có người cho rằng, giải pháp Nguyễn Tấn Dũng là sự lựa chọn bất khả kháng giữa cái xấu và cái xấu hơn.
Ngay đến Jonathan London, giáo sư Đại học Hồng Kông, trong bài “Những bất ngờ trên đường chọn lãnh đạo kế vị” cũng viết:
“Tuy có người nghi vấn sự thành thật của ông, ông vẫn là chính khách hùng biện nhất của Việt Nam và là tác giả của kế hoạch có chủ trương tự do nhất cho sự phát triển của Việt Nam, đó là bài phát biểu Năm Mới 2014 của ông. Ông nhiều lần tuyên bố rằng “dân chủ là tương lai”, không nao núng trước những trò gây hấn hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, và dường như rất thoải mái với ý tưởng bang giao mật thiết với Mỹ”.
Những tuyên bố nghe có vẻ hùng hồn của ông Dũng về chủ quyền Hoàng Sa thực ra là những câu mị dân nhằm trấn an dư luận, vô thuởng vô phạt trong quan hệ với Bắc Kinh. Người ta có câu “vừa ăn cướp vừa la làng” là vậy!
Ai chủ trương cho Trung Quốc thuê 300 ngàn héc-ta rừng đầu nguồn? Chính sách nào để hơn 90% tổng thầu EPC các dự án đầu tư quan trọng nhất lọt vào tay Trung Quốc? Ai cho Trung Quốc thuê Vũng Áng 70 năm với đặc khu Formasa? Ai chủ trương cho Trung Quốc thuê đèo Hải Vân? Ai để Trung Quốc khai thác Bauxite Tây Nguyên và hơn 60% các mỏ tài nguyên phía Bắc? Chính sách nào để hàng hoá Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, hàng chục ngàn nguời Trung Quốc sang Việt Nam lao động bất hợp pháp khắp ba miền, v.v…
Tất cả những điều nói trên là bằng chứng rõ ràng nhất của hành động đẩy nền kinh tế VIệt Nam vào lệ thuộc Trung Quốc, an ninh quốc phòng và chủ quyền lãnh thổ bị đe doạ; là sự tiếp tay cho cuộc xâm thực mềm của Bắc Kinh.
Không ai khác, đây là chính sách, chủ trương của ĐCSVN mà ông Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp thực hiện trong vai trò Thủ tướng.
Khi nhậm chức Thủ tướng vào năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng đã tập hợp gần 20 tập đoàn, tổng công ty nhà nước dưới quyền điều hành trực tiếp của mình. Chính sách sai lầm, đầu tư vô tội vạ, bắt chước mô hình Cheabol của Hàn quốc của ông đã đẩy các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào tình cảnh thua lỗ khủng khiếp (đến nay hơn 1,5 triệu tỷ đồng, trong đó nợ khó đòi hơn 200 ngàn tỷ đồng).
Mới 2014 của ông tuyên bố “dân chủ là tương lai”, nhưng đồng thời cũng lệnh cho Bộ Công an kiên quyết không để hình thành lực lượng đối lập và bắt giam các bloggers “Anh Ba Sàm” Nguyễn Hữu Vinh, “Người Lót Gạch” Lê Hồng Ngọc, và “Quê Choa” Nguyễn Quang Lập.
Nếu nói về độ giả dối và trơ trẽn chẳng ai bằng ông ta. Ông ta đã từng công bố sẽ từ chức nếu không chống được tham nhũng vào năm 2006.  Tình trạng tham nhũng hiện giờ ra sao?
Cài cắm các con trai vào các chức vụ công quyền, con gái vào các dự án đầu tư từ Nam ra Bắc, đặc biệt ở đảo Phú Quốc, chứng tỏ ông là một người rất hám danh lợi, chăm sóc cho lợi ích của gia tộc. Chuyên quyền như V. Putin của nước Nga cũng không cho con cái dính líu vào chuyện làm ăn và chính trị.
Quyền lực của Nguyễn Tấn Dũng hiện nay bao trùm nhưng vẫn còn vướng rào cản của cơ cấu “Vua Tập Thể”. Nếu tiếng nói quyết định nằm hết về phía ông ta, thì đây là thảm hoạ cho dân tộc. Đất nước sẽ đắm chìm trong một chế độ độc tài, độc đoán và chuyên quyền hơn cả chế độ “Vua Tập Thể” hiện nay.
Vì vậy, chọn Nguyễn Tấn Dũng không phải là giải pháp ít xấu hơn mà là giải pháp tồi tệ hơn!
© Lê Diễn Đức



John Nguyen CaoNƯỚC CỜ XUẤT TƯỚNG CỦA ĐẢNG

Nguyễn An Dân
26-7-2014
Mấy hôm nay dư luận bàn tán xôn xao chuyện bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đi Mỹ và báo chí truyền thông nhận định “vận động Mỹ ủng hộ Việt Nam”
Trước nhất, chính thức là ông Phạm Quang Nghị đi với tư cách đại biểu Quốc Hội, không phải với tư cách Ủy Viên Bộ Chính Trị và bí thư thành ủy. Vì vốn dĩ dù có chức vụ cao trong đảng và thiết chế quyền lực trong nước (nhóm 16 ủy viên Bộ Chính Trị), nhưng với thông lệ quốc tế, chính phủ các nước tư bản không tiếp đảng viên các đảng theo nghi lễ quốc khách, dù là đảng cầm quyền, nếu người đó không có chức danh trong chính phủ.
Sự trái khoáy này làm Việt Nam đã bị “việt vị” hai lần. Năm 2000, Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu thăm Pháp, cuối cùng đã đẩy ngành ngoại giao nước Pháp vào thế lúng túng vì họ không biết sắp xếp ai để tiếp. Chính phủ Pháp không thể tiếp công khai và long trọng một ông Tổng bí thư đảng cầm quyền Việt Nam được vì không chính danh, thế là sau cùng họ cử Tổng bí thư đảng Cộng sản Pháp ra tiếp, và chuyến đi của ông Lê Khả Phiêu thành chuyện đầu voi đuôi chuột trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.
Một sự kiện khác là sau khi lên Tổng Bí Thư, ông Nguyễn Phú Trọng tiến hành công du các nước Châu Mỹ trong năm 2012. Trong lịch trình có Brazil, tuy nhiên khi phái đoàn công du của Tổng bí thư rời Cu-Ba và chuẩn bị đáp máy bay sang Brazil thì Tổng thống Brazil có thông báo khẩn hủy lịch gặp dù việc này đã lên nghị trình rất lâu. Có lẽ do những tuyên bố bất lợi ở Cuba của ông Trọng. Brazil là một quốc gia tự do dân chủ, nên sau khi nghe bài phát biểu của ông Trọng ở Cu ba, Brazil e ngại ông Trọng khi đến Brazil lại thuyết giảng về chủ nghĩa Cộng Sản tiếp tục thì bất lợi cho chinh quyền Brazil
“Tổng bí thư dự bị”
Với lịch sử ngoại giao không mấy tự hào của chức danh Tổng bí thư đảng khi ngoại vận các nước tư bản như thế, nên dễ hiểu là vì sao phía Việt Nam im lặng và có vẻ “giấu kín” chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị, phải chăng phía đảng sợ rằng coi chừng lịch trình bị “đầu voi đuôi chuột” như hai chuyến trước chăng? Ở cấp Tổng bí thư đương nhiệm mà còn bị Brazil và Pháp ứng xử như thế, huống chi là vai trò “Tổng bí thư dự bị”.Cũng có khi là đảng e ngại Trung Quốc sẽ “phá rối” nếu Việt Nam ồn ào quá nên đi bài “nín thở qua sông” ?
Muốn xét về chuyến đi này của ông Nghị, trước tiên hãy xét về nhu cầu của hai nước xem nước nào cần đi và nước nào cần mời. Điểm lại các chuyến đi ngoại giao của hai bên qua lại, ta có thể thấy chỉ có lời mời của John Kerry dành cho Phạm Bình Minh hiện nay. Rõ ràng lời mời này có mục đích xúc tiến ký kết công khai các nội dung hợp tác giữa chính phủ hai bên nhằm làm cho Trung Quốc “chùn tay” trong việc lấn lướt Việt Nam, ký kết một cách chính thức theo nguyên tắc ngoại giao quốc tế. Ngoài ra Mỹ thấy chưa cần mời ai khác phía Việt Nam sang Mỹ lúc này.
Về mặt Quốc Hội Mỹ, trong tháng 5 và tháng 6, đã có hai đoàn đại biểu quốc hội Thượng Viện và Hạ Viện sang Việt Nam và xúc tiến các vấn đề song phương giữa quốc hội hai nước. Còn ông Nghị đi Mỹ với tư cách đại diện đoàn đại biểu Quốc Hội Hà Nội, không đủ thẩm quyền để đại diện Quốc Hội Việt Nam. Nên nếu ông Nghị trao đổi thông tin với Quốc Hội Mỹ thì nên xem như là ông Nghị học hỏi Quốc Hội Mỹ hơn là Quốc Hội Mỹ cần học hỏi Quốc Hội Việt Nam.
Như vậy việc ông Nghị đi Mỹ “theo lời mời của bộ ngọai giao Mỹ” (mà không theo lời mời của Quốc hội Mỹ) là để làm gì? Và có cần thiết gì giữa quan hệ hai nước lúc này không? Rõ ràng là không. Về hành pháp-không, về lập pháp-cũng không. Như vậy không có nhu cầu quan trọng vậy sao Mỹ mời? (mà có thật Mỹ chủ động mời không? Hay mời, nếu có, theo yêu cầu của phía đảng Cộng Sản VN?). Đơn giản là ông Phạm Quang Nghị cần đi hơn là Mỹ cần mời. Nên khả năng gần như chắc chắn là đảng đã thông qua đại sứ Mỹ ở Việt Nam tác động để Mỹ ra 1 thư mời cho ông Nghị để ông Nghị danh chính ngôn thuận đi Mỹ.
Vì sao phải thế?
Trong bối cảnh đảng đang lúng túng vì khó có thể trả lời trước dư luận là “vì sao chưa kiện Trung Quốc” cũng như sự xì xào là đảng đã “mắc kẹt vào tinh thần hội nghị Thành Đô” nên ảnh hưởng đến tính chính danh cầm quyền của đảng, nhất là trong tình thế “không biết giàn khoan quay lại khi nào”. Việc dư luận nhìn đảng “không tỏ ra nỗ lực thực sự trong ngoại vận để bảo vệ chủ quyền” dĩ nhiên đảng hiểu, vì thế đảng “ráng vận động hành lang” cho chuyến đi này của ông Nghị là điều dễ thấy, ngoài động thái xoa dịu quần chúng là “đảng cũng đã đi với Mỹ” thì còn có các mục đích “kềm chân phe chính phủ” trong chiến lược xoay trục của phe này, cũng như ra mắt ông Nghị là “lãnh đạo cao nhất của đảng cầm quyền Việt Nam sắp đến”
Toàn đảng đang chuẩn bị tiến hành đại hội đảng lần thứ 12 năm 2016. Theo truyền thống, tổng bí thư “phải” là người miền Bắc thì các nhân vật phù hợp còn lại trong Bộ Chính Trị lại thừa cái này thiếu cái kia cùng chưa đủ uy vọng, ngay cả Phạm Quang Nghị cũng thế. Cần chú ý là các đời Tổng bí thư trước đây như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng đều kinh qua các chức vụ quan trọng trong “tứ trụ” như chủ tịch quốc hội 1 nhiệm kỳ rồi mới vào tổng bí thư trong giai đoạn gần đây.
Nếu Phạm Quang Nghị lên thẳng từ bí thư Hà Nội vào ghế Tổng bí thư thì cũng còn “hơi non”. Nên động thái cho ông Nghị đi Mỹ là nằm trong 1 chuỗi các động thái “gây dựng hình ảnh” cho ông Nghị trước dân và nội bộ đảng, vì ngoài Phạm Quang Nghị ra, có vẻ đảng không còn nhân vật nào hội đủ các điều kiện cần và đủ cho chức danh Tổng bí thư kỳ này, người có uy tín và kinh nghiệm trong đảng thì phải về hưu vì đến tuổi, người còn đủ tuổi thì uy tín không đủ, nên “bó đũa chọn cột cờ” có vẻ hợp lý cho đảng.
Vì sao Mỹ tiếp ?
Ba nguyên nhân chính chủ yếu lý giải việc ông Phạm Quang Nghị đi Mỹ như trên đã rõ, câu trả lời là phía Việt Nam cần hơn là Mỹ cần, nhưng vì sao Mỹ vẫn tiếp ông Nghị ?
Thứ nhất, về nguyên tắc hành xử của Mỹ, hễ quan chức nước nào muốn đi Mỹ thì Mỹ đều tiếp, vì nó có lợi cho Mỹ, ít nhất là ở chỗ có thêm thông tin để đánh giá, để tìm hiểu nội bộ bên kia, Mỹ được nhiều mà không mất gì nên Mỹ tiếp và ủng hộ. Dư luận đừng ngộ nhận rằng Mỹ tiếp là do nhà nước Mỹ hay đảng phái nào ở Mỹ “muốn quan hệ với đảng cộng sản Việt Nam (hoặc với Tổng bí thư tương lai) qua chuyến đi này”, không như một số ý kiến trên mạng nhận xét “khó có thể nghi ngờ rằng đến nay quan hệ hai đảng Việt-Mỹ làm đảng cộng sản Trung Quốc ghen tị”
Vấn đề thứ hai cần chú ý là Mỹ tiếp đúng nguyên tắc ngoại giao, ông Nghị có tư cách trưởng đoàn đại biểu Quốc hội một địa phương, nên Mỹ cử thứ trưởng ngoại giao tiếp, chứng tỏ giữa hành pháp cao cấp Mỹ và ông Phạm Quang Nghị “không có gì để bàn với nhau vì không đối đẳng”. Cũng thế ta dễ hiểu vì sao Mỹ sắp xếp chủ tịch Thượng Viện, Ông Leahy là chủ tịch (về nghi lễ ngoại giao sau phó TT Mỹ Biden) của đảng Dân Chủ ở Thượng Viện, và nghị sĩ McCain vì ông này hiểu Việt Nam nhiều và là đại diện cho phía đảng Cộng Hòa trong Thượng Viện (President Pro Tempore) để tiếp ông Nghị
Vấn đề thứ ba là có nhận định cho rằng các việc ông Nghị bàn với phía Mỹ là các việc “ở tầm nguyên thủ” thì không đúng. Rõ ràng các nội dung hai bên trao đổi không có gì quan trọng hay triển khai cái mới, về kinh tế thì là xúc tiến đầu tư hai nước…về chính trị thì “Việt Nam cám ơn Mỹ trong vấn đề tranh chấp biển Đông”, chỉ là những cái nói lại những cái hai bên đã có từ hiệp định thương mại Mỹ-Việt mà thôi cũng như nhắc lại nghị quyết 412 của Quốc Hội Mỹ dành cho Biển Đông.
Vấn đề thứ tư là có dư luận nói rằng điều này cho thấy đảng cầm quyền Việt Nam đang “âm thầm xoay trục sang Mỹ và phương tây” thì rõ ràng chưa hợp lý. Nếu đảng cầm quyền muốn xoay trục thật thì vì sao Phạm Bình Minh chưa đi sang Mỹ để hai bên chính danh ký kết một cái gì đó khả thi để cùng nhau làm mà cử Phạm Quang Nghị đi trong tư thế “nín thở qua sông” để làm gì? Nếu lập luận là Phạm Quang Nghị đi với tư cách “thái tử kế vị” để trình bày chính sách “âm thầm xoay trục của toàn bộ đảng” thì sao không đi cùng Phạm Bình Minh như ông Nguyễn Phú Trọng cùng đi với Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc năm 2011? Điều này chỉ làm bộc lộ sự chia rẽ và “tranh công” ở nội bộ đảng trong vấn đề “thân Mỹ, thoát Trung”: đảng cử Phạm Quang Nghị đi, nhưng lại không hay chưa cho Phạm Bình Minh, Bộ trưởng ngoại giao của chính phủ, đi dù đã được mời chính thức từ lâu.
Vấn đề thứ năm là vì sao Trung Quốc không tỏ ra quan tâm và e ngại gì về chuyến đi này (truyền thông Trung Quốc không lưu ý) ? Phải chăng Trung Quốc đã biết trước do “có trao đổi ngầm giữa 2 đảng” hay là Trung Quốc đã quá hiểu mình sẽ lại chi phối được Việt Nam nên họ vẫn “bình chân như vại và chả quan tâm gì” ???
Có ý kiến nói rằng có khi Mỹ xem xét để chọn Phạm Quang Nghị thay cho Nguyễn Tấn Dũng trong việc duy trì ảnh hưởng của Mỹ trong đảng cầm quyền Việt Nam. Nhận xét này xem ra không có cơ sở lắm. Xét về các mặt quyền lực cầm nắm thực sự, ảnh hưởng quốc tế và uy tín trong dân thì ông Nguyễn Tấn Dũng trội hơn rất nhiều, vậy hà cớ gì Mỹ lấy cái ít mà bỏ cái nhiều, bỏ cái hiện đang có mà lấy cái chưa hình thành?
Tóm lại, việc ông Phạm Quang Nghị đi Mỹ chuyến này có lợi ích chăng là lợi ích của riêng ông Nghị và đảng, chứ chẳng có tác dụng gì về mặt chiến lược cho quan hệ hai nước dấn sâu hơn và cũng không thể hiện gì là “toàn đảng đang xoay trục qua Mỹ”. Chúng ta nên chờ chuyến đi của Phạm Bình Minh, nghe đâu sẽ thực hiện vào tháng 9 này.
Nguyễn An Dân

John Nguyen Cao

Cuộc Chiến Hậu Giàn Khoan
Nguyễn An Dân
Giữa tháng 7 năm /2014 Trung Quốc chính thức rút giàn khoan HY-981 khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa, chấm dứt một cuộc “dàn quân” và khẩu chiến leo thang có nguy cơ châm ngòi xung đột vũ trang giữa các bên có lợi ích liên quan.
Tuy nhiên, dư chấn của giàn khoan này để lại là không nhỏ. Một cuộc “động đất chính trị” lan tỏa mạnh trong Việt Nam, bắt đầu từ lời tuyên bố được coi là “mạnh mẽ hơn trước đây” của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi nói về ‘tình hữu nghị mơ hồ lệ thuộc” giữa Việt Nam-Trung Quốc và đáp lại là bài viết của báo đảng Trung Quốc khi kêu gọi ‘đứa con hoang đàng Việt Nam hãy trở về”
Theo nhiều luồng dư luận nhận định rằng giàn khoan HY-981 chỉ là mở đầu cho cuộc chiến Mỹ-Trung về ảnh hưởng tại châu Á nói chung và lợi ích địa chính trị tại Biển Đông cùng kênh đào Kra nói riêng của các quốc gia có liên quan. Trước âm mưu đó, quốc gia trực tiếp chịu ảnh hưởng nhất là Việt Nam sẽ thế nào? Phải chăng giàn khoan đã được rút đi nhưng cơn chấn động vẫn còn ở lại, một cơn chấn động chính trị cho nội bộ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản VN, tuy ngấm ngầm nhưng ngày càng gay go hơn, từ nay đến Đại Hội đảng 2016. Ai sẽ nắm được quyền chủ động? TBT Nguyễn Phú Trọng hay TT Nguyễn Tấn Dũng?
“Nhóm thân Trung Quốc” ?
Lâu nay giới quan sát chính trị Việt Nam cho rằng có sự ảnh hưởng của Trung Quốc vào chính trị Việt Nam qua hội nghị Thành Đô 1990, trong đó có một số thỏa thuận nay đã được hé ra cho quần chúng biết, như “các vấn đề có thể gây ảnh hưởng cho nhau giữa hai đảng- hai nước mà cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Quốc không đăng thì cơ quan ngôn luận đảng cộng sản Việt Nam không đăng” (1)
Cũng trong thời gian có giàn khoan, website tự công bố là “chính thức của thủ tướng”, trang www.nguyentandung.org, đã đăng tải nhiều thông tin lâu nay là “cấm kỵ”, mang tính công kích đảng, như ‘nếu đảng không dẫn dắt nhân dân khởi kiện Trung Quốc thì còn cần đảng lãnh đạo làm gì nữa”, “ngăn cản khởi kiện là phản bội dân tộc”. (2)
Các quan chức của đảng hiện nay vẫn còn nói rằng đang cân nhắc thời điểm hợp lý để có lợi ích lớn nhất khi kiện. Nhân dân thì không hiểu thế nào hợp lý khi mà Trung Quốc đã nổ súng chiếm Hoàng Sa năm 1974, Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988, nhất là trong thời gian diễn ra sự việc giàn khoan, đã có 2 ngư dân chết. Đã 40 năm qua rồi (tính từ 1974) vẫn chưa có thời điểm hợp lý hay sao, dù Trung Quốc đã bắn chết hàng trăm binh sĩ và người dân, cùng xây nhà, sân bay, trường học ở hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa?
Sự nhân nhượng lâu nay của “lực lượng duy nhất có đủ uy tín và sáng suốt để lãnh đạo đất nước“ là Đảng Cộng Sản Việt Nam trước Trung Quốc sau một loạt những diễn biến kể trên khiến người ta có thể tin rằng thông tin nói “một bộ phận trong đảng là thân Trung Quốc và bị Trung quốc chi phối” là có cơ sở ?
Nhóm thân Mỹ ?
Một luồng dư luận khác cũng nhận định rằng các đời Thủ tướng Việt Nam, khởi đi từ thời kì đổi mới năm 1986 đến nay, có xu hướng ngả về Phương Tây và Mỹ, để qua đó kêu gọi sự ủng hộ tài chánh, kỹ thuật, nhằm phát triển đất nước.
Đến thời điểm trước 1986, do theo ý thức hệ cộng sản-XHCN, nên quyền lực của chức danh Tổng Bí Thư là lớn nhất, nên khi đó ở chức danh này có thể huy động sự ủng hộ của các quốc gia XHCN khác như Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi mà Việt Nam không liên hệ với thế giới tư bản, chức Thủ tướng được đảng dựng ra để quản lý đất nước trong đối nội, chỉ có vai trò khiêm tốn trong thiết chế quyền lực cộng sản thời kỳ bấy giờ.
Sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, đảng buộc phải thực hiện “đổi mới” , mở cửa bang giao với thế giới tư bản. Theo đó, vai trò của chức danh Thủ tướng dần dần trở nên quan trọng, vì vốn dĩ các quốc gia Châu Âu và Bắc Mỹ giàu có chỉ làm việc với chính phủ, theo đúng truyền thống ngoại giao quốc tế, không làm việc với đảng cầm quyền.
Chức danh thủ tướng Việt Nam từ vai trò “hình nhân thế mạng” ở quá khứ đã dần dần có ưu thế hơn qua việc kiêm lo đối nội lẫn đối ngoại theo quốc tế đòi hỏi. Kết quả là chính phủ có vai trò quan trọng trong việc ban hành chính sách, thương thảo quốc tế, có quyền lực độc lập hơn qua việc huy động được các nguồn hỗ trợ tài chánh bên ngoài từ Mỹ và phương Tây.
Chính vì thế nên sau 1975 đến nay các đời Thủ tướng Việt Nam đều “không yên thân”. Phạm Hùng thì bị chết trong một tai nạn giao thông khi đương chức, Võ Văn Kiệt suýt bị thay thế năm 1990 (vụ Hà Phan), khi về hưu thì bị quản chế, theo dõi, và theo tin đồn, bị “mưu hại” khi muốn lập lại đảng Lao Động. Phan Văn Khải thì than thở với những người thân tín đại ý “chúng nó nắm hết, mình có quyết được gì nhiều đâu”, về hưu khi chưa hết nhiệm kỳ rồi sống tiếp trong im lặng. Mới đây là Nguyễn Tấn Dũng suýt bị kỷ luật vì “điều hành kinh tế yếu kém, phai nhạt lý tưởng và đạo đức cách mạng” theo diễn văn tổng kết tại Hội Nghị Trung Ương 6 của đảng năm 2012 (3). Phải chăng hệ lụy kéo theo do mâu thuẫn này là cái chết của vài ông tướng thứ trưởng an ninh-tình báo của công an Việt Nam trong mấy năm qua nhằm giấu kín các âm mưu thanh trừng này khỏi vỡ lỡ ?
Các sự kiện đã xảy ra như thế đã làm dư luận sinh ra nghi ngờ, không thiếu cơ sở, rằng lâu nay luôn có tranh chấp mạnh mẽ trong đảng về đường lối đối ngoại “theo Trung hay theo Mỹ” giữa 2 nhóm Tổng Bí Thư và nhóm Thủ Tướng, và cao trào nhất là mấy tháng qua. Và phải chăng đại hội 12 của đảng vào năm 2016 sẽ là hiệp đấu quyết định, do đó Trung Quốc thấy cần rút giàn khoan để tạo lại uy thế cho nhóm thân Trung Quốc trong đảng hiện nay?
Trận chiến hai bên
Từ năm 2012 đến nay, người đứng đầu chính phủ nhiều lần phát ngôn “mang tính chống đối bành trướng Trung Quốc”, nhất là từ khi có giàn khoan, còn người đứng đầu đảng là Tổng Bí Thư thì tập trung vào việc chống tham nhũng. Thậm chí ngay khi giàn khoan còn hiện diện, ông Nguyễn Phú Trọng im lặng khá lâu và khi phát ngôn lại thì dù phải chống việc Trung quốc đặt giàn khoan nhưng vẫn luôn cảnh giác phải thận trọng “sai một ly đi một dậm”, vẫn đặt nặng việc bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ, cảnh giác âm mưu “diễn biến hòa bình” của “các thế lực thù địch”….
Trong thiết chế một đảng độc quyền lãnh đạo, việc chống tham nhũng trong thực chất thường chỉ là một hình thức thanh trừng nội bộ để củng cố quyền lực hơn là chống tham nhũng thực sự. Việc Tập Cận Bình đang làm với nhóm Chu Vĩnh Khang- Bạc Hy Lai phải chăng sẽ là hình ảnh cuộc chống tham nhũng của Việt Nam trong tương lai gần đến do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn dắt để thanh trừng nhóm chống đối phía Thủ tướng?
Và phía Thủ tướng cũng chống tham nhũng để phản công lại. Nếu đảng đem “người được coi là nhóm thủ tướng” là Phạm Thanh Bình ở Vinashin ra xử thì Thủ tướng cũng đem Dương Chí Dũng ở Vinalines ra xử, mà cao trào vụ án này là cái chết của một tướng an ninh lâu nay trung thành với đảng là thượng tướng Phạm Quý Ngọ.
Truyền thông nhà nước nói rằng tướng Ngọ “chết vì bệnh” và sau đó các cơ quan tư pháp Việt Nam tuyên bố khép lại vụ án Vinalines và các lời khai của Dương Chí Dũng về các nhân vật “cao cấp hơn tướng Ngọ”. Tưởng hết chuyện, không ngờ tháng 6 vừa qua, vụ việc lại mở ra lần nữa, qua quyết định kiểm toán lại Vinalines do Đinh La Thăng ký, và tuyên bố của Nguyễn Bá Thanh, trưởng ban nội chính trung ương “các lời khai của Dương Chí Dũng đang được tiếp tục điều tra”, vào tháng 6/2014 vừa qua
Có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh, người được coi là cánh tay chống tham nhũng của Tổng bí thư, với tính cách thắng thẳn cùng khát vọng cải cách của mình, đã bất mãn với nhóm thân Trung Quốc đang bị nhân dân coi là “nhu nhược”, nên chuyển qua ủng hộ nhóm Thủ tướng bằng cách mở rộng tiếp điều tra vụ Dương Chí Dũng bỏ trốn. Dương Chí Dũng khai rằng có đưa 500.000 USD cho tướng Ngọ, nhưng nhân dân nghĩ rằng nếu có việc tướng Ngọ thả Dũng, thì không thể vì 500,000 USD đó. Với một Thượng tướng an ninh cao cấp đang ở thế ngôi sao sáng, không thể và không dại gì vì “tham vặt 10 tỷ đồng” mà hủy tiền đồ chính trị đang lên của mình.
Và phải chăng nhóm Thủ tướng lại có cú phản đòn thứ hai và thứ ba vào lúc này khi mà liên tiếp trong hai ngày 21 và 22 tháng 7/2014, Tổng thanh tra chính phủ và Tổng cục cảnh sát tuyên bố vào cuộc điều tra hai vụ đại án. Một vụ lem nhem giải tỏa đền bù ở quận Đống Đa từ năm 2004 (thời kỳ ông Nguyễn Phú Trọng còn là Bí thư thành ủy Hà Nội) và vụ vỡ ống nước 9 lần của Vinaconex, một doanh nghiệp lớn có vốn nhà nước và có nhiều “quan hệ sâu xa” với 2 ủy viên Bộ Chính Trị “được coi là trong nhóm Tổng bí thư”. Đó là Tô Huy Rứa, Trưởng ban tổ chức trung ương, và Phạm Quang Nghị, Bí thư thành ủy Hà Nội đương nhiệm.
Rất đáng chú ý trong cách nhóm chính phủ vào cuộc hai vụ án này, một là phát biểu của ông Nguyễn Hồng Điệp (Trưởng ban tiếp dân Trung ương) “trong hai cuộc thanh tra thì một lần Bộ Xây Dựng phải thu hồi quyết định thanh tra mà không nói rõ lý do. Đặc biệt, hồ sơ vụ việc cho biết, tại lần thanh tra lần thứ nhất từ tháng 7/2007 đến tháng 7/2008, có 4 trong 9 nội dung Thanh tra Bộ Xây dựng không thể tiến hành để đưa ra kết luận vì “thái độ chống đối, thiếu hợp tác của công ty Bảo Long” và “thái độ bao che dung túng của chính quyền các cấp tại địa phương”, và “trong năm nay dù đầu năm không có kế hoạch làm nhưng phải kiên quyết làm ngay”(4).
Cả hai vụ đều có chung một sự lạ nữa, trái với thông lệ, là các ‘đại án ngàn tỷ” thì an ninh có thẩm quyền điều tra, nhưng lần này theo tuyên bố của Thanh tra chính phủ thì là Tổng cục cảnh sát đang điều tra. Phải chăng các vụ này có dính đến các ủy viên Bộ Chính Trị trong nhóm đối lập với Thủ tướng, nên lực lượng an ninh, vốn lâu nay được coi như “thanh kiếm của đảng”, đã bị Thủ tướng cho đứng ngoài cuộc, thay bằng lực lượng cảnh sát?
Tương lai của đảng ?
Trong bối cảnh Việt Nam đang cần cải cách thể chế để vào TPP, một lối thoát quan trọng cho sự trì trệ của nền kinh tế hiện nay, và cần một thỏa thuận liên minh với Mỹ và khối đồng minh lâu đời của Mỹ ở Đông Á nhằm đương cự được với bành trướng Trung Quốc, thì có thể “trận nội chiến” của hai nhóm trong đảng sẽ có kết quả vào hội nghị Trung Ương 10 cuối năm nay. Các đòn thế của hai bên –một đằng là “bỏ phiếu tín nhiệm nếu không đạt là cho nghỉ ngay” mà Tổng bí thư đã tuyên bố, và một đằng là sự vào cuộc ngoài kế hoạch cua nhóm Thủ tướng để tiếp tục làm sáng tỏ 3 vụ án nói trên—phải chăng là những đòn tiến công đưa ra trước khi có Hội Nghị TW 10 là để làm mất uy tín nhau ?
Trong các diễn biến như thế, có một luồng dư luận nhận định rằng có thể Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang lên kế hoạch chuẩn bị nắm chức Tổng bí thư đảng tại đại hội 12 để thực hiện tuyên bố đầu năm “Đảng nắm chắc ngọn cờ dân chủ”. Chỉ có nắm được đảng, với sự hỗ trợ của Mỹ và phương Tây, mới có thể “nắm chắc ngọn cờ dân chủ”và mới có đủ sức đương cự lại bành trướng Bắc Kinh.
Và phải chăng, để vô hiệu hóa kế hoạch này, nên phiá Tổng bí thư đã đi một bước trước. Ngày 23/07/2014 vừa qua, Bí thư thành ủy Hà Nội, người ‘đang được coi là’ ‘tổng bí thư dự bị” vào đại hội 12 năm 2016, đã đi Mỹ và “vận động Mỹ ủng hộ Việt Nam”. Trong khi đó thì Ngoại trưởng Phạm Bình Minh vẫn chưa được đi Mỹ dù đã được Ngoại Trưởng John Kerry của Mỹ mời từ lâu.
Theo truyền thông đưa tin thì ông Phạm Quang Nghị đi theo lời mời của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Dường như chuyến đi này không có gì quan trọng cho quan hệ Việt-Mỹ theo các tin tức loan ra. Như vậy phải chăng nhóm thân Trung Quốc trong đảng vận động cho chuyến đi này để thực hiện kế hoạch “một ná hai chim”. Một là chứng tỏ cho dư luận thấy nhóm Tổng bí thư không vì e ngại đánh mất quan hệ với Trung Quốc mà bỏ qua việc vận động Mỹ ủng hộ Việt Nam giữ chủ quyền, hai là “vua kế vị” Phạm Quang Nghị muốn giành bớt ảnh hưởng của “người toan tính tiếm quyền” Nguyễn Tấn Dũng trong thời gian từ đây đến khi đại hội đảng 12 diễn ra ?
Phía Thủ Tướng chẳng thể ngồi yên. Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đang đi một vòng các nước Âu châu, và chắc sẽ qua Mỹ trước HNTW 10, khi mà Thủ tướng Dũng đã nắm chắc được đa số phiếu trong Bộ CT.
Trong một diễn biến khác, cũng xảy ra một việc thú vị. Trên tờ Người Đô Thị, tờ báo, theo dư luận, đang được coi là “cơ quan phát ngôn của một xu hướng cải cách chính trị bên trong thành ủy TpHCM”, đã cho đăng một trang truyện tranh sáng tác ngắn, trong đó có lời phát ngôn muốn ‘bỏ búa liềm” và dùng “công cụ” của một nước Viễn Đông xa xôi mang tính trung lập (5). Phải chăng đó là tín hiệu báo ra bên ngoài về một chiến lược cải cách chính trị của Việt Nam trong tương lai khi nhóm thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thắng thế. Mô thức sẽ là “bỏ búa liềm” trong ngắn hạn, trung hạn là mô hình Nga năm 1991 và dài hạn là mô hình một nhà nước dân chủ trong thế trung lập (và chuyên lo kiếm tiền để giàu mạnh) như thông điệp lồng trong nội dung truyện tranh? Một câu truyện bằng tranh thật “táo bạo” trên một tờ báo “lề phải” và trong khuôn khổ của chế độ độc đảng Mác xít-Lêninit hiện nay. Nó có báo hiệu tương lai “bỏ búa liềm”, tự lột xác, của đảng CS hiện nay hay không? Nó có báo hiệu một mùa xuân dân chủ phi Mác xít tại Việt Nam hay không? Những câu hỏi đó chỉ có lời giải đáp khi cuộc “nội chiến” trong đảng chấm dứt, và cần được theo dõi trong những tháng năm tới.
Người ta nói cái đập cánh của một con bướm cũng có khả năng gây ra cơn bão. Chính trường Việt Nam đang có hàng loạt dấu hiệu và hoạt động sóng gió như vậy, e rằng cơn bão tư tưởng, chính trị sẽ còn lớn hơn bão Thần Sấm vừa qua, chỉ là không biết nó thổi về hướng nào, Mỹ hay Trung Quốc?
Nguyễn An Dân
(Ngày 23/07/2014)

LTS: Quan điểm cho rằng trước nguy cơ mất nước, chúng ta cần phải chọn trong những cái xấu, tìm ra cái ít xấu nhất. NQ&TD giới thiệu quan điểm nên ủng hộ 3X để đánh TC. Trước đây đã có quan điểm cho rằng bất hạnh của VN là có một phe thân Tầu nhưng ít tham nhũng và một phe vô cùng tham nhũng nhưng ít ra cũng bớt thân Tầu.

-THD: Sự nhẹ dạ của người Việt (Blog Quê Choa 17-6-14) — Ai thích bài Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát! (TL 12-6-14) của Nguyễn Gia Kiểng thì cũng sẽ rất tâm đắc với bài này (thậm chí có thể cho bài này là trội hơn vì nó sâu sắc, không đã kích cá nhân với nhiều dẫn chứng đáng nghi ngờ như bài của Nguyễn Gia Kiểng).◄◄

Nguyễn Trần Sâm

Nhìn lại lịch sử nước nhà gần một thế kỷ qua, không thể không nhận ra rằng một trong những nguyên nhân chính yếu dẫn đến những tai họa cho dân tộc nằm ngay ở tính cách người Việt, đặc biệt ở sự nhẹ dạ, nông nổi.

Người Việt ta rất thích được ca ngợi, rất có “năng khiếu tự hào”.

Mỗi khi có một cái cớ nào đó thì đại đa số đều say sưa với niềm tự hào vô bờ bến. Đặc biệt, khi trong mấy chục triệu đồng bào có một nhân vật nào đó làm được một việc gì “ngang tầm thời đại” thì mọi người đều coi đó như một bằng chứng về sự vượt trội của “dân tộc tôi”. Họ không biết và không thèm biết rằng một dân tộc khác có thể có hàng ngàn nhân tài cỡ đó, thậm chí còn có những người giỏi hơn. Vì thích được tự hào nên người ta sẵn sàng tin tuyệt đối khi có một người nước ngoài nào đó khẳng định rằng Việt Nam thật tuyệt vời, thậm chí là nhất thế giới.

Sau chiến thắng Điện Biên, nhà thơ chính trị đã viết “Lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” làm ngây ngất bao trái tim. Sự say sưa càng được nhân lên khi có những người nước ngoài đến Việt Nam và khẳng định Điện Biên Phủ là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại. (Trong khi đó, nếu vào một trang mạng tìm kiếm nào đó và gõ “Lịch sử thế giới” hay “Lịch sử thế giới thế kỷ XX”, quý vị sẽ thấy hiện ra hàng chục tài liệu lịch sử, trong đó không có chỗ nào nhắc một lần đến Điện Biên Phủ; chỉ có Đức, Pháp, Nga, Mỹ,… với hai cuộc thế chiến, và một số sự kiện lớn khác. Và nếu quý vị đi nước ngoài và ra đường hay công viên chặn mọi người lại để hỏi thì chắc trong 1 vạn người may ra có 1 người biết Điện Biên Phủ là gì.)

“Sung sướng làm sao khi sáng mai thức dậy bỗng thấy mình là người Việt Nam.” Câu nói của một bà nào đó người Cuba (hình như nhà báo?) vào khoảng năm 1967 rõ ràng đã đẩy “niềm tự hào Việt Nam” lên tới trời. Từ ngày đó, người Việt ta không còn muốn để mắt đến một dân tộc nào khác nữa!

Sự nhẹ dạ của người dân được trang bị thêm lòng tự hào đó đã nhiều lần bị lợi dụng. Những nhân vật “làm chính trị”, với chiêu bài vừa tâng bốc, phỉnh nịnh quần chúng, vừa nói những lời mỹ miều về sự sẵn sàng hy sinh tất cả vì dân vì nước, vừa hứa hẹn về tương lai xán lạn, lại vừa tuyên truyền rằng đội ngũ lãnh đạo của cái dân tộc vĩ đại này xứng đáng là đỉnh cao trí tuệ của nhân loại, dễ dàng dắt đám quần chúng nông nổi đi theo. Thậm chí người ta còn bảo được quần chúng nhắm mắt lại trên đường đi để khỏi thấy còn có những lối đi khác, mà nhiều người vẫn tin và làm theo. Trong cuộc tranh giành đám quần chúng nhẹ dạ, nhóm người nào ma lanh hơn, xảo trá hơn sẽ thắng.

Trong những ngày này, sự nhẹ dạ vẫn đang tiếp tục bị lợi dụng. Hàng vạn người đã xuống đường biểu tình theo hai sự định hướng khác nhau. Đám người này thì nghe theo bọn côn đồ lạ hoắc, không biết chui từ lỗ nào lên, xúi họ xông vào tất cả các công ty nước ngoài, nhất là của Đài Loan, để đập phá. Đám khác lại theo sự định hướng “chính thống”, tham gia “phản biểu tình” để làm mất đi tinh thần chống bọn kẻ cướp Đại Hán, mà không biết rằng họ đang tự làm hỏng tương lai của chính mình.

Đáng buồn hơn nữa là sự nhẹ dạ của những nhà trí thức, kể cả những vị nổi tiếng. Một nhân vật có thế lực, mặc dù toàn thân đã “nhúng chàm”, từng gây ra bao tai họa cho những con người tử tế, từng làm thất thoát phần lớn ngân sách quốc gia, tức mồ hôi xương máu của bao nhiêu thế hệ, kể cả những thế hệ tương lai, chỉ cần nói được một hai câu trúng ý các nhân sỹ, bỗng được các vị này coi như bậc thánh nhân. Họ ca ngợi. Họ tung hô. Rồi dồn hết hy vọng vào một cuộc đổi dời long trời lở đất mà dường như nhân vật đó sắp tạo ra. (Nếu đúng lúc này mà nhân vật đó chết, có lẽ “lịch sử” sẽ quên đi mọi điều dơ dáy mà nhân vật đó đã từng làm, để truyền tụng với nhau rằng “ngài” đã “hiển thánh”!)

Ở một mức độ nào đó đúng là có thể giải thích được thái độ như vậy của kẻ sỹ. Khi trông chờ có một cuộc thay đổi thì điều quan trọng là nó có xảy ra được hay không. Người thực hiện nó là ai cũng được. Kẻ thực hiện dù có là kẻ xấu xa nhất thì việc thực hiện vẫn là tốt cho xã hội, vẫn nên được đón mừng. Đôi khi, vì quyền lợi chung, có thể cần “khích tướng” để một nhân vật có thế lực “nổi máu” lên và ra tay. Nhưng đó là trong trường hợp có thể hy vọng một cách có cơ sở vào khả năng thay đổi. Và dù có khích tướng thì cũng không nên ca tụng và đặt mọi niềm tin vào một nhân vật không xứng đáng.

Sự nhẹ dạ và nông cạn còn làm cho một số nhân vật có bằng cấp rất cao ngưỡng mộ và trông chờ cả vào những nhân vật ngoại bang. “Với toàn bộ tầm nhìn chiến lược toàn cầu của Putin cũng như của nước Nga, tôi nghĩ rằng họ cũng hoàn toàn có khả năng nhận biết giới hạn của nước Nga, can dự hay là hợp tác với Trung Quốc… Chuyện chấp nhận để Trung Quốc để thao túng ở Biển Đông rồi đe dọa Việt Nam, trước hết là một đồng minh chiến lược của nước Nga ở Đông Nam Á, chắc chắn Nga sẽ không thể chấp nhận”, – mới cách nay vài tuần, một vị có học vị đến tận tiến sỹ khoa học đã từng phát biểu như vậy. Những lời này rõ ràng thể hiện một nhận thức ấu trĩ, đánh giá quá cao tài năng của Putin và vị thế của nước Nga trên trường quốc tế, đồng thời cũng nhìn nhận quá sai lệch về vị thế của Việt Nam trong tư tưởng và tình cảm của Putin. Vị này đã nhầm lẫn những lời xã giao sau các cuộc hội đàm với suy nghĩ thật của một chính khách, mà trong trường hợp này là một kẻ cực kỳ giảo hoạt.

Một điều có vẻ cực kỳ phi lý và mâu thuẫn, nhưng hoàn toàn có thật, là sự nhẹ dạ và nông cạn của chính những nhân vật đã vươn đến đỉnh cao quyền lực bằng cả một quá trình lạm dụng sự nhẹ dạ của quần chúng. Vì chính họ cũng nhẹ dạ và nông cạn, họ đã say sưa với những lời đường mật về tình hữu nghị (mà đến giờ mới có vị nhận ra là “viển vông”) của những tên hàng xóm vừa xảo trá vừa hung hăng. Vì nhẹ dạ và nông cạn, họ đã hạ bút ký vào những văn bản trói buộc số phận của cả một dân tộc vào với một nước “anh em” với một tập đoàn cầm quyền đang từng ngày từng giờ gây ra những điều lo ngại và khó chịu cho cả thế giới.

Tất nhiên, trong việc ký kết những văn bản tai hại cho dân tộc, động lực chính là quyền lợi cá nhân và tập đoàn. Nhưng nếu không nông cạn và dốt nát thì những nhân vật có trách nhiệm phải hiểu được rằng những quyền lợi trước mắt đó không thể nào bảo đảm được tương lai lâu dài cho chính cá nhân họ, một khi dân tộc bị lệ thuộc vào một tập đoàn phản động ngoại bang. Số phận Lê Chiêu Thống và đoàn tòng vong sau khi bán nước đủ để làm tấm gương cho họ, nhưng họ đã không chịu soi. (Có lẽ họ vẫn hy vọng được làm quan ở bên Tàu như Trần Ích Tắc chăng?)

Trong mấy tuần qua, đã có biết bao nhiêu bài viết vạch trần những mưu đồ xấu xa của tập đoàn cầm quyền Trung Nam Hải. Tất cả những điều lên án đó đều đúng. Nhưng có một điều phải xấu hổ mà thừa nhận: trong quan hệ quốc tế, bọn người đó tuy đểu cáng, xỏ xiên, nhưng không hề nhẹ dạ.

Tác giả gửi Quê Choa

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
John Nguyen Cao
Đảng quyền, chính quyền và còn gì nữa?

Nguyễn An Dân`
Phần I : Đảng trong thời hiện tại
Hôm nay nhân đọc một bài viết “Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát” của ông Nguyễn Gia Kiểng đăng trên Thông Luận, rồi đọc bài phỏng vấn của anh Phạm Chí Dũng trên RFI về “tín hiệu mới trong quan hệ Việt-Mỹ”, sau đó xem thêm thông tin báo chí “lề phải” trong nước mấy ngày gần đây về “công cuộc thoát Trung” thì tôi cũng có một chút suy nghĩ gửi đến những người quan tâm đến đất nước.
Trước tiên, tôi nhìn nhận rằng ông Nguyễn Gia Kiểng “nhận định đúng trong sự bi quan” và anh Phạm Chí Dũng cũng “nhận định đúng trong sự lạc quan”, cũng như báo chí lề phải cũng “đúng trong sự e dè” vốn có của họ khi mắc kẹt giữa hai đường lối “thân Tàu-thân Mỹ” trong hàng ngũ lãnh đạo đất nước. Điều này thể hiện rõ trong tình trạng dạo này có nhiều bài viết “đăng lên tháo xuống” mà cao trào là bài “dựa vào Mỹ để giữ chủ quyền” trên tờ Tạp Chí Cộng Sản vừa qua (1).
Dĩ nhiên là những người tham gia vận động dân chủ, chúng ta có quyền bảo lưu những quan điểm mà bản thân ta xem là đúng và trình bày nó ra công luận. Tuy nhiên khi đưa ra trước công chúng thì sự thận trọng và nhận định đúng đắn tình hình để giúp quần chúng có phản ứng phù hợp là một điều quan trọng. Trong vận động chính trị, thời cơ không có nhiều nên chúng ta cần phải vừa biết tận dụng những cơ hội đang tới, vừa tránh tạo ra những thiệt hại khó bù đắp được.
Binh pháp có câu “biết người biết ta- trăm trận trăm thắng”, chúng ta đấu tranh với đảng nhưng chúng ta chỉ thấy những tào lao nhảm nhí sai lầm của đảng mà không hiểu rõ về đảng thì dễ đem đến những ngộ nhận đánh giá phiến diện sai lầm, từ đó mắc vào những thế kẹt hay những thiệt hại lẽ ra không cần thiết. Người dân chủ hay nói đảng thế này thế kia nên chúng ta phải đấu tranh, điều này đúng nhưng thiếu, biết và hiểu là hai cái khác nhau, biết là tốt nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta hiểu được đối thủ của mình đang thế nào ở hiện tại và sẽ diễn biến ra sao trong tương lai để dự trù những chiến thuật hợp lý. Chọn lựa cái đúng và cái cần thiết là quan trọng, nếu việc đó là đúng nhưng chưa cần thiết thì tạm gác lại chưa làm, còn cái cần thiết nhưng chưa đúng trong hiện tại cũng nên làm ngay, vì nó mang lại cái đúng lớn hơn trong tương lai.
Từ bên ngoài nhìn vào bên trong
Dù ít dù nhiều, chúng ta cũng đã đồng ý với nhau rằng một xu hướng thân Mỹ-Phương tây đã xuất hiện trong đảng từ khi đảng tự nhận là “đổi mới” vào cuối thập niên 80 thế kỷ trước. Đồng thời, đảng CS lại ký vào “Những Thỏa Thuận ở Hội Nghị Thành Đô” đầu thập niên 90 mà cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ đã tiết lộ (2). Chính điều trái khoáy đó đã đưa đến tình trạng chính trị ngày hôm nay của bộ phận lãnh đạo trong đảng, đó là sự mâu thuẫn trong đường lối của 2 xu hướng ngả về Trung Quốc và ngả về Mỹ-phương tây. Tôi tạm gọi nhóm theo Trung Quốc là đảng quyền và nhóm muốn thân Mỹ là chính quyền để bạn đọc có sự dễ dàng phân biệt sự đồng-dị của 2 phe này trong bối cảnh cả hai cũng còn mặc chung cái áo cộng sản.
Theo tôi, phong trào “đổi mới” bên trong đảng mang đến cái tích cực, đó là làm Việt Nam từ bỏ hẳn một con đường tiến tới độc tài cực đoan như Cu Ba hay Bắc Triều Tiên. “Đổi mới” đã đóng hẳn cánh cổng độc tài có khả năng diễn biến từ “vua tập thể” đi vào cái nguy hại hơn là “vua phong kiến” (anh em nhà Castro và gia đình nhà họ Kim) như hai quốc gia trên, đồng thời mở dần cánh cổng tự do-dân chủ để Việt Nam đón những làn gió mới từ phương tây thổi tới. Điều đó thể hiện rõ trên những bản án tù từ hàng chục năm cho những người tranh đấu cho dân chủ-tự do vào thập niên 80 đến khoảng năm năm gần đây thì tình trạng bắt bớ tù đày giảm hẳn, và những bản án tù “nhẹ nhàng” vài năm trở lại cho những người tranh đấu cho đa nguyên- đa đảng..
Chuyện xưa không xét nữa. Chuyện ngày nay thì đáng chú ý là quan điểm của đảng gần đây khi xử lý tù chính trị khá rõ. Đó là những bản án tù vài năm tù trở lại cho những ai chỉ kêu gọi dân chủ tự do nhưng lại khá nặng nề cho những người chủ trương chống đối sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Tại sao? Đảng quyền tất nhiên không chấp nhận dân chủ-tự do nhưng xử tù nặng quá cho những người kêu gọi dân chủ thì phe chính quyền khó đối ngoại và đàm phán với phương Tây. Nên nhớ rằng giờ đây chỉ có chính quyền, cụ thể là ông Thủ tướng, mới đi xin tiền được của Tây phương, không như trước đây khi LX và khối CS quốc tế còn thì chỉ có ông Tổng bí thư đảng mới đi xin tiền được. Đây là một thực tế mới chúng ta cần lưu ý. Ông Thủ tướng như thế mạnh hơn về đối ngoại, nhưng ở trong nhà thì ông TBT vẫn mạnh hơn. Theo tôi đây là khúc mắc của vấn đề: đối ngoại và đối nội chưa ăn khớp nhau được. Đối ngoại thì muốn thân Tây phương nhưng đối nội lại vẫn muốn thân Trung quốc.
Cũng vì thế mà phe đảng quyền không nhượng bộ khi xử nặng những người chống Trung Quốc. Đây là một sự tự vệ cần thiết của họ, vì chống Trung là chạm đến những nền tảng tồn vong sinh tử của đảng. Đảng tự hiểu rằng quần chúng dù có bức xúc mình độc tài đảng trị nhưng sẽ dễ tha thứ khi xu hướng dân chủ tự do thắng thế. Tuy nhiên, đụng tới quan hệ Việt (Cộng) – Trung (Cộng) là đụng tới tử huyệt của đảng. Đảng hiểu hơn ai hết là quần chúng sẽ không tha thứ cho mình nếu những bí ẩn của đảng với Trung Cộng bị lôi ra ánh sáng, vì những khuất tất đó là những vấn đề mặc cả đánh đổi bên trên lợi ích dân tộc nên “khó có thể tha thứ nếu ai nói ra”. Do đó án tù cho hai nhóm đối tượng chống đối đảng là thoát Trung và thoát Cộng cũng khác nhau. Nhưng nếu vừa muốn thoát Trung vừa đòi thoát Cộng thì án tù sẽ nặng vô cùng, như với Trần Huỳnh Duy Thức chẳng hạn.
Bất kỳ phong trào dân chủ nào cũng vậy, nếu án tù vài năm trở lại thì phong trào con có cơ lên được, còn án tù khoảng 10 năm trở lên thì phong trào xẹp. Các cuộc biểu tình chống đối cũng thế, công an đánh đập đuổi về thì phong trào lên, quân đội xả súng như Thiên An Môn thì phong trào xẹp. Khi chúng ta đấu tranh chỉ cho riêng chúng ta thì chúng ta nói gì làm gì cũng được (phong trào dân oan là một ví dụ), nhưng khi chúng ta đứng ra để tập hợp quần chúng đi theo thì từng lời nói và hành động phải cân nhắc thật kỹ (phong trào dân chủ). Nếu muốn giữ được đống củi và mồi lửa thì cần dựa trên lợi ích đường dài của tập thể hơn là mong muốn cá nhân của mình. Quan trọng hơn, đốt lửa vào mùa đông thì mang đến sự ấm áp quần tụ nhưng nhóm lửa vào mùa hè thì không ai muốn lại gần, đó cũng là quy luật khách quan. Do đó tuy chỉ có cùng một đống củi nhưng khi nào mùa đông và khi nào là mùa hè, khi nào thì dùng “thoát Trung” làm mồi lửa và khi nào dùng “thoát Cộng” làm mồi lửa để hâm nóng và quy tụ quần chúng –điều quan trọng, sinh tử này, thì chính những người lãnh đạo các phong trào phải tự hiểu và nhìn ra.
Từ góc nhìn trên, chúng ta có thể thấy và hiểu rõ lý do vì sao trong cùng 1 thời điểm khoảng 5 năm gần đây, khi những người dân chủ cùng tham gia thành lập đảng phái kêu gọi đa nguyên đa đảng theo mô hình Âu Mỹ thì chỉ nhận những bản án bằng phân nửa (có khi ít hơn) so với những người đấu tranh tuy phi đảng phái nhưng chủ trương kêu gọi “thoát Trung”. Có hiểu về đảng như thế chúng ta mới thấy rõ cái nào là cái cần trước, cái nào là cái cần làm sau trong từng thời điểm. Cái nào mà diễn biến khách quan mang đến trước thì ta dùng trước, vì dĩ nhiên nó sẽ là nền tảng cho cái sau. Thoát Trung và thoát Cộng là hai mặt tương hỗ trong quá trình tranh đấu. Phối hợp vận động, chọn cái nào làm chủ đạo trong từng thời điểm là sự nhìn nhận đúng đắn của những người lãnh đạo phong trào, để có hiệu quả sau cùng là thoát cả hai.
Mất dân chủ tự do chỉ làm quần chúng bức bối và lên tiếng chỉ trích. Giờ đây đảng quyền vẫn đàn áp nhưng có chừng mực hơn vì bên chính quyền phản đối vì làm trở ngại quan hệ của họ với Âu Mỹ và trở ngại mục tiêu phát triển đất nước mà dân tình đang đòi hỏi. Còn khi mất quan hệ với đảng đàn anh cộng sản Trung Quốc khiến cho những bê bối khuất tất lâu nay của đảng lộ ra có thể làm quần chúng phẫn nộ và đòi xóa bỏ đảng, thì điều này mới làm cho phe đảng quyền lo ngại thật sự. Phải thấy và hiểu đảng như thế thì chiến thuật đấu tranh trong từng thời điểm mới đạt được hiệu quả tối ưu và giảm thiểu thiệt hại tối đa. Đó là những nét quan trọng về đảng khi ta đứng bên ngoài nhìn vào bên trong đảng.
Nhìn sâu vào bên trong hơn nữa
Khi nhìn sâu vào bên trong hơn nữa, chúng ta thấy nền tảng mà đảng quyền dựa trên đó để leo lên cầm quyền và duy trì quyền lực là một mớ lý thuyết tào lao nhảm nhí phi thực tế, là sự nương tựa của đảng quyền vào ông anh Trung Cộng, bề ngoài là “đối tác chiến lược” nhưng bề trong là “phụ thuộc để sống còn” nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ mất nước. Đảng cũng không muốn nhưng phải làm vì bây giờ không còn đảng cộng sản lớn nào khác ngoài đảng cộng sản Trung Quốc cho phe đảng quyền làm chỗ dựa để duy trì quyền lực sau khi Liên Xô và khối Đông Âu tan rã.
Cuộc chiến năm 1979 là một bằng chứng cho chúng ta thấy điều đó khi mà Trung Cộng dạy cho Việt Cộng một bài học vì thấy phe Việt Cộng tráo trở. Lúc đó tại sao đảng phải bỏ Trung Công? Theo tôi chỉ vì lúc đó đảng không còn đi dây được nữa giữa Trung quốc và LX như trong thời chiến tranh chống Mỹ. Trung quốc bắt đảng bỏ LX theo mình. Do đó, sau khi đã “mập mờ” với Trung Cộng, đánh đổi chủ quyền biển đảo lấy ưu thế quân sự để chiến thắng Miền Nam, đảng bỏ Trung Cộng ngay lập tức và chạy sang Liên Xô. Sự tráo trở của hai đảng với nhau là dĩ nhiên thôi, vì cả 2 bên đều biết mình tồn tại trên một mớ lý thuyết Mác-Lê phi thực tiễn chỉ để mang lại lợi ích cầm quyền thực tiễn. Sau khi đạt được mục tiêu 1975 của mình, đảng biết còn đi với Trung Cộng thì sớm muộn cũng sẽ bị quần chúng đá đít vì phải “cắt đất” nhằm đổi lấy sự bảo hộ của Trung Cộng. Do đó, thành công nắm đất nước vào tay rồi đảng lập tức chạy qua ôm Liên Xô, lúc đó đảng làm thế là khôn ngoan cho cả đảng và dân tộc, dẫu sao thì Liên Xô cũng ở xa, không nham hiểm và tham lam đòi đất như Trung Cộng.
Nhưng trời không chiều đảng, khi thầy Đông Âu xụp đổ và LX cũng đang khủng hoảng, thì phe đảng quyền Việt Nam lại phải chạy sang Trung Quốc dự Hội Nghị Thành Đô 1990 vì đảng quyền cần một chỗ dựa cho sự cầm quyền không chính danh của mình. Nhưng ngay sau đó, phe chính quyền đã manh nha mạnh lên sau khi đại diện của phe này đi Châu Âu và mở ra được quan hệ bình thường với Mỹ. “Đổi mới” đã phát huy vai trò của nó, tạo nền tảng và điều kiện cho phe chính quyền lớn mạnh lên dần, cạnh tranh quyền lực với chính ông anh sinh đôi là phe đảng quyền. Cuộc diện “đồng sàng dị mộng” giữa chính quyền và đảng quyền bắt đầu, khởi đi từ nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó đảng phải giữ vững cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” dù rất vô lý, dành quyền “chủ đạo” cho kinh tế quốc doanh, và ưu tiên cho các xí nghiệp quốc doanh dù thua lỗ.
Tất cả những cái lắt léo và tâm sự sâu kín đó trong nội bộ đảng tất nhiên người của đảng đều thấy. Chúng ta hiểu xu thế tự do-dân chủ là một xu hướng tất yếu thì đảng cũng thấy. Chúng ta biết sự nương tựa vào ông láng giềng Trung Cộng, với sự độc tài và tham vọng Đại Hán, sẽ mang lại nguy cơ mất nước, thì đảng cũng biết. Chỉ có cái khác nhau là một bên chúng ta muốn thoát Trung, muốn tự do dân chủ, còn một bên đảng không muốn làm vì còn muốn giữ đặc quyền đặc lợi. Sự đối kháng nhau là tất yếu.
Lâu nay quần chúng chỉ trích đảng vì đảng có 2 “tội” với dân tộc. Một là vì để duy trì quyền lực của mình mà đánh đổi an ninh của đất nước qua việc bắt tay với Trung Cộng. Tội thứ hai nhẹ hơn là bít lối đi của tương lai dân tộc vì phủ nhận giá trị dân chủ tự do. Trong tư thế bị quần chúng nhắm vào 2 yếu huyệt đó, đảng lấy cái khiên độc tài phi dân chủ và cái thế nương tựa vào Trung Cộng để đối kháng lại. Khi quần chúng gõ vào cái khiên độc tài thì đảng rung động nhưng kèm theo đó quần chúng bị đau tay do phản lực của nó. Tuy rằng điều này sẽ làm người dân chủ lao đao nhưng vẫn còn đứng được. Nhưng nếu người đó muốn phá cái thế của Việt Cộng tựa lưng vào Trung Cộng, tạo ra nguy cơ làm đảng té vỡ đầu, thì đảng không thể tha thứ, phải vung chân đá mạnh cho người đó, nhất là người dân chủ, lăn quay ra xa, không gượng dậy được.
Những người cộng sản hiểu rằng về dân chủ tự do thì có thể thương lượng dần dần với quần chúng cũng như với Âu Mỹ được vì quần chúng khó thể đứng dậy phản đối rầm rộ được, đồng thời đảng cũng có thể nhân nhượng tương đối trong chính trị để có được lợi ích kinh tế từ Mỹ và Phương Tây. Nhưng sự đánh đổi chủ quyền quốc gia lấy chỗ dựa với Trung Cộng để đảng tồn tại thì có thể đưa đến họa mất nước, và đây là mối nguy tiềm tàng lớn nhất cho chế độ. Một khi nguy cơ mất nước hiển hiện thì có thể làm cho cả dân tộc đứng lên, khác với phong trào dân chủ đã và đang còn lẻ tẻ, chưa làm cho đại đa số quần chúng nổi dậy, phong trào yêu nước có thể đưa đến một cuộc tổng biểu tình lật đổ đảng.
Từ trận chiến Hoàng Sa năm 1974, đảng đã thấy nguy cơ trổi dậy hung hãn của chủ nghĩa Đại Hán và tham vọng của Trung Cộng. Trung Cộng trong tư tưởng này thì sẽ còn dấn tới và o ép Việt Nam. Chính điều này mang lại hậu quả nguy hiểm là sự phẫn nộ của quần chúng qua phong trào yêu nước, đảng khó mà chống chọi được và sẽ cùng nhau chết hết. Nên từ đó, phe chính quyền, dù cũng khoác áo đảng, nhưng tìm một lối đi khác là dần dần hướng về phương Tây qua xây dựng và thực hiện kế hoạch ”đổi mới” hầu tìm lời giải cho bài toán dân tộc nhưng vẫn giữ được quyền lực cho phe mình. Phe chính quyền do đó đã được “phân công” để đi với Tây phương tìm đường thoát cho đảng và cho đất nước.
Nhưng càng “đổi mới”, lúc đầu chỉ trong kinh tế, sau phải sang các lãnh vực khác, như giáo dục, thông tin, xã hội hiện nay, phe chính quyền càng củng cố được thế và lực của mình so với thế và lực của phe đảng quyền, cả trong nhân dân và ngoài quốc tế. Thủ tướng ngày càng nổi lên và càng mạnh, nắm trong tay tiền bạc và quan hệ quốc tế. Tổng bí thư ngày càng chìm và càng yếu đi. Đối với phe chính quyền thì đảng chỉ là phương tiện để có quyền lực, nên có đảng hay không cũng chẳng sao nếu vẫn duy trì quyền lực và giũ bỏ được cái nguy cơ quần chúng vùng lên “dẹp tất cả các phe” vì để mất nước. Còn phe đảng quyền thì ngoài Trung Cộng ra cũng không còn chỗ dựa nào khác cho sự tồn tại của mình. Từ đó, phải giữ tinh thần “Thành Đô”, “16 vàng 4 tốt”. Và từ đó đến hôm nay chúng ta thấy một ông Thủ tướng đi khắp các phương trời Âu Mỹ để hô hào thoát Trung, trong khi một ông Tổng Bí Thư đảng chỉ có thể loanh quanh mấy nước cộng sản rồi về nhà im lặng khi cái giàn khoan HY-981 đã được đặt vào trong nhà. Điều này trở nên dễ hiểu nếu đặt trong bối cảnh diễn tiến của quan hệ “phân công” giữa chính quyền và đảng quyền từ hơn 20 năm nay. Giờ đây tình hình dường như đã đến hồi phân định rõ nét: một phe nếu có mất Trung nhưng còn cả một quốc tế mới (Mỹ-Nhật-Tây phương) để tựa lưng, còn phe kia mất Trung thì chỉ còn Cu Ba đón tiếp mình. “Phân công” đã có tác dụng ngược, và mâu thuẫn đã đến hồi quyết định. Bỏ phiếu tín nhiệm phải chăng là hồi kết cục trắng đen?
Đảng và Chính Phủ – sự tách rời tất yếu theo quy luật khách quan
Trong sự đu dây giữa hai đường lối như đã nói ở trên đảng tất yếu phải tách ra hai nhóm, nhóm đi vận động Âu Mỹ để thực hiện đường lối “đổi mới” thì phải chấp nhận các luật chơi của Âu Mỹ, đó là một chính phủ hoạt động theo luật chơi và sân chơi quốc tế, mở cửa dần cho xã hội hiện diện với các quy luật của tự do- dân chủ. Trong bài này tôi tạm gọi là phe chính quyền. Còn đường lối kia của một phe nhóm khác trong đảng trách nhiệm, vì sự gắn bó của hai đảng CS VN và TQ, nên duy trì lãnh đạo bằng những nghị quyết của đảng, mà tôi tạm gọi là phe đảng quyền. Đảng “phân thân” làm hai cho phù hợp, phe chính quyền đi Âu Mỹ bằng luật pháp công khai còn phe đảng quyền đi Trung Quốc bằng nghị quyết mập mờ.
Từ thực tế đó, điều cần chú ý là, do mô thức cộng sản là mô thức phủ định mô thức tư bản về lý luận và bản chất, nên hai đường lối này tất yếu phải đi đến mâu thuẫn nhau trong chiến lược cầm quyền đất nước, từ đó kéo theo mâu thuẫn và va chạm giữa chính quyền với đảng quyền, từ các mặt lý luận cho đến hành động. Đó chính là nguyên nhân sâu xa của các lộn xộn về phát ngôn và sách lược hiện nay của hai ông to nhất nước, cầm đầu chính quyền và đảng quyền. Một nhóm những đảng viên phải làm việc theo luật lệ và chấp nhận các quy luật khách quan của thế giới là chính quyền, một nhóm lại làm việc theo lý luận tuyên truyền phi thực tế và các nghị quyết mơ hồ chủ quan nay vầy mai khác, là phe đảng quyền.
Do nhân sự của cả hai phe cùng là đảng viên, và cùng mắc một bệnh chung là tham nhũng, và lúc thì là bí thư, lúc thì là chủ tịch…nên quần chúng hay đánh đồng và lẫn lộn hai phe này với nhau. Nhóm đảng quyền hoạt động bằng các nghị quyết và những sự bí ẩn mập mờ theo thói quen lâu năm nên sinh ra bệnh vô luật lệ và cường quyền bá đạo. Còn nhóm chính quyền do yêu cầu và tác phong làm việc với Âu Mỹ thì có luật lệ hơn, nhưng vẫn ở vị thế độc tài nên sinh ra tham nhũng tràn lan y như nhóm kia. Nhưng dù sao cũng có cái tích cực là ít ra chính quyền vẫn còn tuân thủ pháp luật và quy luật hơn đảng quyền, vì thường xuyên phải tiếp cận với quốc tế. Nên trong hành xử với phe dân chủ, tuy vẫn đánh đập dân chủ “mạnh tay”, nhưng bắt bớ thì ít đi và án tù nhẹ hơn xưa, cũng là vì thế.
Hiểu như vậy chúng ta mới có cái nhìn chính xác và thực tế, đó là tình trạng “hai mặt” giữa chính quyền và đảng quyền, là sự tranh đấu và va chạm giữa tư tưởng hướng về các yêu cầu thực tế khách quan (chính quyền- chính phủ) và sự duy trì các khái niệm tư tưởng chủ quan theo truyền thống (đảng quyền- ban ngành của hệ thống đảng), dù rằng cả hai phe đều nắm quyền và muốn duy trì quyền lực để qua đó hưởng lợi ích do quyền lực mang lại. Do đó, chúng ta dễ hiểu vì sao phe chính quyền muốn thoát Trung và tin rằng vẫn duy trì được quyền lực vì vừa được Mỹ bảo trợ vừa đáp ứng khát vọng của quần chúng. Còn phe đảng quyền phải giữ Trung và giữ Cộng, vì chỉ có thế mới giữ được quyền lực. Từ đó mới sinh ra cuộc diện trống đánh xui kèn thổi ngược ở hai phe như hôm nay, đang thể hiện rõ nét trên hai trang nhà nguyenphutrong.org và nguyentandung.org.
“Đổi mới” đã diễn ra 20 năm rồi cũng không thể “đổi cũ” lại được. Dân trí đã nâng cao rồi cũng không thể hạ thấp lại được. Phe chính quyền đã sinh ra và lớn mạnh lên rồi phe đảng quyền cũng khó thể kìm nén lại được, vì tất cả những cái đó nằm trong quy luật khách quan. Sớm hay muộn phe chính quyền cũng phải tìm mọi cách thực hiện bước đi “thoát Trung”. Họ đi Âu Mỹ nhiều, họ hiểu ra sức mạnh thực tế của thông tin, của chân lý và khoa học luôn mạnh hơn những giáo điều mơ hồ lạc hậu trong thời kỳ hiện nay của nhân loại. Phe chính quyền chọn phương thức nếu không bưng bít được nữa chi bằng mở dần ra cho quần chúng thấy, để lúc này và trong tương lai phe chính quyền vẫn hy vọng có được sự thông cảm và ủng hộ từ quần chúng để tiếp tục nắm quyền và điều chỉnh dần dần. Thế nên dù nhiều người bảo việc cho 30 chiếc tàu kiểm ngư ra chịu đòn cho 140 chiếc tàu Trung Quốc hành hạ là hành động vô nghĩa, nhưng theo tôi đó là một nỗ lực của phe chính quyền nhằm giữ sự quan tâm chú ý và giữ tinh thần “thoát Trung”, cũng như tranh thủ sự ủng hộ của Âu Mỹ dành cho phe này trong khi họ còn bị phe đảng quyền kiềm chế vì quyền lực mạnh hơn.
Hiểu về 2 xu hướng, nguồn gốc sinh ra và thế mạnh sau lưng của nó, người dân chủ mới có thể hiểu được cái gì nên bi quan và cái gì nên lạc quan trong lúc này. Nếu lúc này người dân chủ chọn tham nhũng là mấu chốt để đánh đảng thì sẽ thất bại, vì cả 2 phe chính quyền và đảng quyền đều tham nhũng, đánh vào cái này lúc này chỉ tổ làm hai gọng kìm cùng quay ra đánh lại chúng ta. Nhưng nếu nhìn 1 phe chính quyền muốn nắm quyền bằng cách “thoát Trung” và bỏ Cộng dần dần theo quy luật khách quan, còn một phe đảng quyền muốn “giữ Trung” và giữ Cộng theo ý muốn chủ quan thì sẽ thấy và hiểu ra mình nên chọn điểm nào là điểm đột phá chiến thuật lúc này trong 3 mặt trận mà chúng ta dùng để công kích đảng lâu nay là “chống tham nhũng “, “chống độc tài đảng trị” và “chống Trung Cộng”. Hiểu đúng thực tế và chọn đúng mục tiêu đấu tranh thì sẽ có nhiều cơ hội để phát triển phong trào.
Điều cần thiết lúc này là sự thận trọng để dẫn dắt khối quần chúng ủng hộ mình thực hiện những bước đi hữu hiệu trong bối cảnh cuộc chiến giữa hai phe chính quyền và đảng quyền đang đi dần vào cao trào và chưa thật sự ngã ngũ. Hiểu về đảng quyền và chính quyền như vậy để chúng ta thấu rõ vì sao dù trên trang nguyentandung.org (website chính thức của nhóm ủng hộ thủ tướng) đã xuất hiện những ngôn từ có tính đột phá khi gọi xách mé Lê Nin là “ông bạn Ivan kia cũng chả tốt lành gì với Việt Nam cả”, công khai thừa nhận vấn đề rất nhạy cảm của đảng lâu nay “đảng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô- Trung Quốc”, cũng như vì sao bài “Nhờ Mỹ giúp bảo vệ chủ quyền” đăng lên rồi lại tháo xuống trên tờ Tạp chí Cộng Sản.
Có lẽ những người dân chủ chúng ta nên hết sức chú ý là hiện nay phe đảng quyền vẫn còn nắm đa số các vị trí quan trọng trong hệ thống quân đội và an ninh, 2 công cụ bảo vệ chế độ. Cũng cần hỏi tại sao giờ này vẫn chưa kiện Trung quốc, ngoại trưởng Phạm Bình Minh vẫn chưa đi Mỹ được? Cuộc tranh đấu bên trong còn chưa ngã ngũ. Mỹ không thể tiếp Phạm Bình Minh nếu ông đi Mỹ chỉ trong tư thế “không quyết được gì cả”, chỉ nghe để trở về xin ý kiến cấp trên như từ trước đến nay. Cũng như chúng ta cũng hiểu đến nay vì sao những người ở tù vì chống Trung Quốc vẫn chưa tự do được trong khi một số người dân chủ ở tù cùng thời đã dần dần được thả. Đấy là chưa kể phe đảng quyền còn đang tìm mọi cách củng cố quyền lực. Mới đây thôi phe này ra 1 nghị quyết liên tịch ngày 09/06/2014 giữa quân đội-công an, xin trích 1 phần đáng chú ý:
“Theo Chương trình ký kết, trong hai năm 2014 – 2015, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam và Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an Nhân dân sẽ phối hợp tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, phổ biến kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác dân vận, công tác chính sách trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai bên phối hợp giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức.
Và nguy hiểm hơn cho phe chính quyền, đại diện là Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, là phe đảng quyền, cầm đầu bởi TBT Nguyễn Phú Trọng, đang chuẩn bị tồ chức bỏ phiếu tín nhiệm vào cuối năm nay, mà chính TBT Trọng đã răn đe, nếu ai không được tín nhiệm thì phải ra đi. Liệu lần này “đồng chí X” có thoát nạn không, như 2 lần trước, để có thể thực hiện thoát Trung và thân Mỹ?
Trong Phần II tôi sẽ trình bày các kịch bản dự trù cho các diễn biến sắp đến trong tương quan giữa Đảng Quyền- Chính Quyền- Dân Chủ. Các độc giả cần chú ý là phe chính quyền lúc này nói ra toàn những vấn đề sinh tử của phe đảng quyền, đó là “ ông bạn Ivan kia chẳng tốt lành gì với Việt Nam đâu”, đó là sự thừa nhận một vấn đề cốt lõi “đảng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô-Trung Quốc”, đó là chỉ trích tình hữu nghị Việt (Cộng)-Trung (Cộng) lâu nay chỉ là thứ “tình hữu nghị mơ hồ, viễn vông, lệ thuộc”.
Nói ra những cái này rồi, còn có thể quay lại được nữa không? Và Trung Cộng còn có thể chấp nhận cho họ quay lại nữa không ? Một khi đã xách mé Lê Nin là “ông bạn Ivan cũng chẳng tốt lành gì” thì phe chính quyền còn cần đến Mác Lê nữa không ? Một khi phe chính quyền đã thừa nhận “đảng ta đánh Mỹ là đánh dùm Liên Xô-Trung Quốc” thì đảng quyền còn tự hào được với dân là “đánh thắng đế quốc Mỹ là công lao vĩ đại” được nữa không? Hỏi, chính là đã trả lời.
Nguyễn An Dân
Ngày 14/06/2014
Thông tin, trao đổi về vấn đề bauxite ở Việt Nam. – Tiếng nói phản biện…
BOXITVN.BLOGSPOT.COM

Thoát Trung, nhưng coi chừng một sai lầm bi đát! (Nguyễn Gia Kiểng)
“…Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn “thoát Trung” mà lại “phò Dũng” là rất sai, sai một cách bi đát…”

…những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng
“thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta”…
Một tháng rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Bắc Kinh đưa giàn khoan vào vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Giàn khoan vẫn còn đó những dư luận thế giới đã ngoảnh sang những vấn đề khác. Bắc Kinh đã thành công một bước trong tiến trình bình thường hóa sự chiếm đoạt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bước tiến này mở đường cho những hành động lấn chiếm khác.
Hành động của Bắc Kinh đáng lẽ là một sự dại dột và đã phải thất bại bẽ bàng; không những thế còn tạo cho Việt Nam một cơ hội để tái khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa và các quyền lợi chính đáng trên Biển Đông theo qui định của luật pháp quốc tế. Trong những ngày đầu khi Trung Quốc vừa đưa giàn khoan HD-981 vào hải phận Việt Nam lập trường của các chính phủ -Hoa Kỳ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực Thái Bình Dương- đã đồng thanh lên án hành động của Trung Quốc như là một sự khiêu khích. Ngược lại không một quốc gia nào bênh vực Trung Quốc cả. Một cách mặc nhiên thế giới đã nhìn nhận Hoàng Sa và vùng biển chung quanh không phải là của Trung Quốc, nghĩa là của Việt Nam hay ít nhất có thể được coi là của Việt Nam.
Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam phản ứng một cách mạnh mẽ, dù ôn hòa, đối với Trung Quốc và đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc? Chắc chắn Trung Quốc sẽ xấc xược phủ nhận thẩm quyền của Tòa Án Công Pháp Quốc Tế (International Court of Justice) và cũng sẽ sử dụng quyền phủ quyết nếu Việt Nam đưa vấn đề ra Hội Đồng Bảo An. Nhưng đó là tất cả những gì mà chúng ta chờ đợi. Trung Quốc sẽ bị cô lập và lên án, chủ quyền của Việt Nam sẽ được thừa về mặt tình cảm, Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt hơn nhiều nếu tái diễn sự khiêu khích. Có mọi triển vọng là họ không dám tái diễn vì Trung Quốc vừa rất lệ thuộc vào thế giới vừa không đủ mạnh để thách thức thế giới, hơn nữa lại đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng lớn. Tóm lại giàn khoan của Trung Quốc sẽ rút đi sau một vài tháng chi phí tốn kém, sau khi bị lên án và khiến Việt Nam được bênh vực.
Nhưng thực tế đã không như vậy bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam đã không có phản ứng. Hành động xâm lược của Trung Quốc vẫn tiếp tục và không còn lôi kéo sự chú ý của thế giới nữa. Lần sau nếu tình trạng này lặp lại sự chú ý của thế giới sẽ còn ít hơn. Lẽ phải lúc đó sẽ chỉ là lý của kẻ mạnh.
Những gì chính quyền CSVN đã làm, như phổ biến một thư luân lưu tới các thành viên LHQ một tháng sau khi sư kiện khởi đầu, một vài tuyên bố nguyên tắc và một số tàu cá và cảnh sát biển tới gần hiện trường, không đáng được coi là một phản ứng. Ngay cả nếu chính quyền CSVN muốn dâng biển và đảo cho Trung Quốc trong một thỏa hiệp ngầm họ cũng khó có thể phản ứng yếu hơn.
Hành động của Trung Quốc vừa là một hành động lấn chiếm vừa là một hành động chiến tranh bởi vì họ đem theo cả hàng trăm tàu chiến và đánh phá các tàu của Việt Nam, kể cả tàu của cảnh sát biển Việt Nam. Trước một biến cố nghiêm trọng như vậy bất cứ một chính quyền nào trên thế giới cũng đã phải thông tin và giải thích đầy đủ cho nhân dân biết những gì xảy ra qua thông điệp long trọng của quốc trưởng và thủ tướng cùng với những phát biểu của các bộ trưởng và các cấp lãnh đạo chính trị để động viên toàn dân đoàn kết trong cố gắng giữ nước, đồng thời lập tức đưa vấn đề ra công pháp quốc tế.
Nhưng chúng ta đã thấy gì?
Ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hoàn toàn không nói gì trước hội nghị trung ương của đảng cộng sản diễn ra đúng lúc Trung Quốc đang trắng trợn xâm phạm vùng biển Việt Nam và cũng không thấy có ủy viên trung ương đảng nào tỏ ra bức xúc. Hình như đối với ông Trọng và đảng cộng sản không có vấn đề gì cả.
Về phía nhà nước cả chủ tích nước lẫn thủ tướng đều không tuyên bố gì với quốc dân. Quốc hội cũng không có phản ứng. Ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang kêu ca trong một buổi tiếp xúc với cử tri một quận rằng“anh phải rút đi chứ, nhà tôi chứ đâu phải nhà anh!”. Không khác gì một người dân oan trong số hàng triệu dân oan của chế độ. Ông chủ tịch thừa biết những tiếng kêu than này có tác dụng gì. Ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói trước hội nghị ASEAN một phần rất nhỏ những điều mà mọi người đều đã biết và cũng không dám kêu gọi hậu thuẫn của thế giới, sau đó cũng chỉ trả lời với ký giả nước ngoài, tại nước ngoài, rằng không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”.Không một cấp lãnh đạo quốc gia nào trong trường hợp Việt Nam khi ra nước ngoài và bị các ký giả chất vấn có thể nói yếu hơn.
Ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh được một cơ hội bằng vàng để bảo vệ lập trường của Việt Nam khi tham dự Đối Thoại Shangri-La 13. Trước đó cả thủ tướng Nhật Shinzo Abe lẫn bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đều đã mạnh mẽ tố giác hành động của Trung Quốc và tuyên bố sẽ không để Trung Quốc lộng hành trên Biển Đông, sẽ sẵn sàng giúp các nước trong vùng, kể cả Việt Nam, phương tiện tự vệ. Một chính quyền Việt Nam quan tâm bảo vệ chủ quyền không thể mong đợi nhiều hơn. Tuy vậy ông Thanh đã tuyên bố rằng quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp”và vụ giàn khoan HD-981 chẳng có gì nghiêm trọng vì “mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng”. Chẳng khác gì bảo Mỹ, Nhật và thế giới đừng xía vào, hãy để mặc Việt Nam giải quyết với Trung Quốc. Nhưng giải quyết như thế nào? Ông Thanh chỉ dám đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”. Thật khó có thể có một bộ trưởng quốc phòng bất xứng hơn.
Bộ ngoại giao cũng không dám triệu tập đại sứ Trung Quốc để phản đối dù đây phản ứng nhẹ nhất trong trường hợp này. Các chính phủ triệu tập đại sứ trong những trường hợp không quan trọng hơn nhiều; thí dụ như Bắc Kinh đã triệu tập đại sứ Mỹ tại Trung Quốc để phản đối việc năm sĩ quan Trung Quốc bị tố giác là có hoạt động gián điệp. Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam là một đại sứ hay một thái thú? Tệ hơn nữa, bộ ngoại giao còn làm một việc rất vô ý thức là triệu tập đại điện sứ quán Trung Quốc (nhấn mạnh: đaị diện sứ quán chứ không phải đại sứ) sau khi một tàu cá Việt Nam bị đụng chìm ngày 26-5. Như vậy là việc Trung Quốc tìm dầu trong hải phận Việt Nam không nghiêm trọng bằng một chiếc tàu cá bị đụng chìm? Chỉ một tháng sau khi hành động xâm lược của Trung Quốc diễn ra phái bộ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc mới cho phổ biến một thư luân lưu đến đại diện các nước, nhưng đây cũng chỉ là một thông báo mà thôi chứ không kêu gọi một hành động quốc tế nào cả.
(Đến đây xin mở một ngoặc đơn. Sự nhu nhược này không phải do lỗi của bộ ngoại giao, mà là vì bộ ngoại giao không có quyền quyết định. Chính sách cũng như hành động đối ngoại hoàn toàn ở trong tay một một vài người trong bộ chính trị; những người này khống chế được bộ máy đảng và nhà nước và quyết định chính sách đối ngoại một cách hoàn toàn bí mật. Ngay cả những cấp lãnh đạo, kể cả đa số ủy viên trung ương đảng, cũng chỉ biết đến những thay đổi định hướng đối ngoại rất lâu sau khi chúng đã thành một thực tế. Cuối thập niên 1950 Lê Duẩn và Lê Đức Thọ quyết định theo Trung Quốc (để có thể phát động nội chiến) và thanh trừng những phần tử bị cáo buộc là “xét lại chống đảng” vì thân Liên Xô. Không ai biết. Gần mười năm sau họ đổi hướng 180 độ và theo Liên Xô chống Trung Quốc. Cũng không ai biết. Năm 1984 sau khi Liên Xô bối rối không bảo vệ được chế độ CSVN nữa, Nguyễn Văn Linh được đưa trở lại bộ chính trị rồi trở thành tổng bí thư để thực hiện chính sách đầu hàng và thần phục Trung Quốc cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Vẫn không ai biết. Trí thức Việt Nam còn tung hô Nguyễn Văn Linh như một người của đổi mới mà không biết rằng ông ta chỉ là người của Trung Quốc).
Chính quyền CSVN đã không nói gì với nhân dân. Họ không cần giải thích gì cả bởi vì họ không thấy có một bổn phận nào đối với nhân dân Việt Nam cả; họ là một lực lượng chiếm đóng và thống trị chứ không phải là một chính quyền Việt Nam. Họ còn dùng bọn côn đồ – mà họ vẫn thường dùng để hành hung những người dân chủ – để gây bạo động và lấy đó làm cớ để cấm đoán những cuộc biểu tình của những người yêu nước phản đối hành động xâm lược của Bắc Kinh. Nếu họ thực sự là dụng cụ của Trung Quốc để bán đứng đất nước họ cũng không thể làm khác.
Chúng ta có thể tự hỏi tại sao Trung Quốc lại làm như vậy? Hành động của họ đáng lẽ phải là một hành động ngu xuẩn rất có hại cho họ, nhưng họ đã thành công bởi vì họ biết trước phản ứng của Hà Nội. Tất cả diễn ra như một kịch bản đã được chuẩn bị trước.
Không thể loại trừ khả năng là giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã có những thỏa ước không được công bố và Bắc Kinh đã dựa vào đó để hành động. Nếu không thì không ai có thể giải thích tại sao chính quyền Hà Nội không đưa vấn đề ra công pháp quốc tế dù sau hơn 20 lần tiếp xúc vẫn chỉ nhận được một câu trả lời trịch thượng của Bắc Kinh là không có gì để thảo luận cả vì họ hoàn toàn đúng. Người ta có thể nghĩ như vậy khi đọc lại bản tuyên bố chung Việt – Trung ngày 21/06/2013 sau chuyến thăm viếng Bắc Kinh của ông Trương Tấn Sang:
“Hai bên hoan nghênh Thỏa thuận sửa đổi liên quan tới Thỏa thuận thăm dò chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi trong Vịnh Bắc Bộ được ký kết giữa doanh nghiệp hữu quan hai nước, nhất trí mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận, kéo dài thời hạn thỏa thuận, cùng nhau thúc đẩy hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ sớm đạt được tiến triển tích cực”. (Tác giả tô đậm những cụm từ đáng chú ý).
Thỏa thuận sửa đổi nào? Thoả thuận thăm dò chung nào? Khu vực thỏa thuận nào? Mở rộng diện tích khu vực thỏa thuận tới đâu? Nhân dân Việt Nam không được biết, tất cả đều chỉ là những cam kết dấm dúi giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và quan thày Trung Quốc của họ. Cũng không nên quên câu nói của thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – một người rất thận cận với ông Dũng đồng thời cũng là một trong những người nhiều quyền lực nhất hiện nay – đại diện Việt Nam trong cuộc đàm phán Việt – Trung năm 2012: “Việt Nam không còn bất cứ băn khoăn gì khi hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực “.Không còn bất cứ băn khoăn nào, vậy việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và Trường Sa coi như đã xong? Nếu quả thực như thế thì Trung Quốc có quyền làm những gì họ đang làm. Có những lúc mà ngôn ngữ không đủ để nói lên sự ngạc nhiên và phẫn nộ.
Cũng đáng ngạc nhiên và thất vọng không kém là thái độ của nhiều trí thức Việt Nam. Họ chống ách lệ thuộc Bắc Kinh và muốn “thoát Trung” nhưng lại ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Đối với họ Nguyễn Tấn Dũng là người tiến bộ, thân phương Tây và dám đối đầu với Bắc Kinh. Lý do là vì ông đã gửi con đi du học Mỹ, đã gửi thông điệp đầu năm nói tới “đổi mới thể chế” và “xây dựng dân chủ” và mới đây đã công khai phản đối việc Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau đó lại tuyên bố không chấp nhận quan hệ lệ thuộc.
Tại sao lại có thể nông cạn và dễ tính đến thế được? Việc ông Dũng gửi con sang du học tại Mỹ không chứng minh gì cả; phần lớn các lãnh tụ chóp bu Nga và Trung Quốc cũng làm như thế, chính bản thân Tập Cận Bình cũng đã thực tập tại Mỹ. Chính quyền Trung Quốc cũng vừa tiết lộ là có hơn một nghìn quan chức tỉnh Quảng Đông gửi con du học các nước phương Tây. Gửi con đi học tại Mỹ không có nghĩa là thân Mỹ. Mà dù có được đào tạo tại phương Tây cũng không có nghĩa là đã trở thành người dân chủ. Cho tới thập niên 1980 hầu như tất cả các chế độ Châu Mỹ La Tinh đều là những chế độ độc tài mafia do những kẻ tốt nghiệp tại các trường đại học Mỹ cầm đầu. Bachar al Assad, tên độc tài khát máu tại Syria, tốt nghiệp tại Anh. Giáo dục quả nhiên thay đổi cách suy nghĩ nhưng thường phải một hai thế hệ. Người ta cố tình gán cho Nguyễn Tấn Dũng những chủ trương mà ông không bao giờ có, hơn nữa còn chống lại một cách hung bạo. Có những vị hân hoan vì ông Dũng nói tới “phát huy dân chủ” trong bài thông điệp đầu năm, nhưng đó hoàn toàn chỉ là thứ dân chủ mà ĐCSVN đã nói tới từ thời Việt Nam Dân Chủ Công Hòa, nghĩa là dân chủ kiểu xã hội chủ nghĩa, cái dân chủ mà bà Nguyễn Thị Doan đánh giá là ưu việt gấp triệu lần dân chủ đa nguyên đa đảng. Hoàn toàn không có gì mới. Điều chắc chắn là ông Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “nhất định không để nhen nhúm những tổ chức đối lập”. Đó là xây dựng dân chủ? Cũng đừng quên rằng chính ông Dũng đã ký quyết định 97/2009/QĐ-TTg cấm phản biện và khai tử nhóm IDS.
Ca tụng ông Dũng là dám chống Trung Quốc cũng chỉ là lấy mơ ước làm sự thực, hay tệ hơn nữa là tán tụng kẻ có quyền, một thái độ chẳng có gì đáng tự hào. Về vụ HD-981 ông Dũng đã chỉ nói một phần nhỏ những điều mà mọi người đã biết. Còn câu “không chấp nhận đánh đổi chủ quyền để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc”thì quả là vớ vẩn. Có gì là khảng khái? Ai có thể nói ngược lại? Ông Dũng còn phải cố gắng nhiều, rất nhiều, nếu muốn chứng tỏ thực tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc.
Điều chắc chắn là ông Dũng đã góp phần quyết định đưa Việt Nam đi sâu vào thế lệ thuộc Trung Quốc. Lệ thuộc Trung Quốc là chọn lựa chiến lược của ĐCSVN từ giữa năm 1984 và là trách nhiệm chung của các bộ chính trị từ đó. Nhưng cũng có những điều chủ yếu thuộc trách nhiệm của hành pháp, nghĩa là thủ tướng. Như cho Trung Quốc thuê dài hạn rừng đầu nguồn; cho Trung Quốc thuê những vùng biển rộng lớn để khai thác hải sản; cho các doanh nghiệp Trung Quốc đưa công nhân ồ ạt sang Việt Nam và tổ chức như những khu riêng của người Hoa; cho người và hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam không kiểm soát; xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc mang nhãn made in Vietnam sang Hoa Kỳ và Châu Âu đưa thâm thủng mậu dịch với Trung Quốc lên 24 tỷ USD; cho Trung Quốc trúng thầu gần hết các dự án và sau đó thi công một cách bê bối v.v. Cũng đừng quên Nguyễn Tấn Dũng là người bảo vệ dự án Bô-xit Tây Nguyên một cách quả quyết nhất, tuyên bố “dự án này phải tiếp tục vì là một chủ trương lớn của Đảng”. Đinh Đăng Định chỉ có tội phản đối dự án này mà bị cầm tù tới chết. Riêng về điểm này phải nhìn nhận là ông Trương Tấn Sang đã tỏ ra có trách nhiệm hơn và phần nào đã bênh vực những người phản đối. Điếu Cày có tội gì mà bị xử tới 12 năm tù sau khi đã ở tù 3 năm? Anh chẳng viết hay tuyên bố gì đáng nói. Tội duy nhất của Điếu Cày là đã tổ chức những cuộc biểu tình chống ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nguyễn Xuân Nghĩa bị xử 6 năm tù -và còn bị công an cho thường phạm đánh trong tù- chỉ vì căng những biểu ngữ “Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam”. Không thể nói rằng đây là chính sách của Đảng; chính sách phục tùng Trung Quốc là của Đảng nhưng sự hung bạo là của Nguyễn Tấn Dũng. Cũng không nên quan trọng hóa quá đáng vai trò của bộ chính trị. Ông Dũng chẳng coi bộ chính trị ra gì, bộ chính trị muốn kỷ luật ông mà không được, muốn đưa hai ông Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào bộ chính trị cũng không được. Nguyễn Tấn Dũng mạnh hơn bộ chính trị vì kiểm soát được đa số trong ban chấp hành trung ương. Ai thắc mắc điều này có thể nhìn vào những bản án dành cho Trần Huỳnh Duy Thức và Cù Huy Hà Vũ. Duy Thức sử dụng tài liệu do văn phòng Trương Tấn Sang cung cấp để tố cáo Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng và lãnh 16 năm tù trước sự bất lực của phe Trương Tấn Sang, Hà Vũ đòi kiện Nguyễn Tấn Dũng về vụ Bô-xit và lãnh 7 năm dù thuộc diện con cháu công thần và được nhiều che chở ngay trong đảng. Bản hiến pháp mới vừa có hiệu lực từ đầu năm nay trong đó nét đậm nhất là rập khuôn theo chế độ Trung Quốc cũng là do ông Dũng đưa ra trước đại hội Đảng thứ 11; chỉ có điều là sau đó có quá nhiều vụ bê bối bị phát giác khiến ông không giành được chức tổng bí thư đảng như dự tính.
Cũng Nguyễn Tấn Dũng vừa ra chỉ thị cấm biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam. Tại sao cấm những cuộc biểu tình chính đáng này? Và tại sao không thấy trí thức trong nước nào lên tiếng mạnh mẽ phản đối quyết định này? Ông Dũng viện cớ ngăn ngừa những bạo loạn như dã xảy ra tại Bình Dương, nhưng ai điều động bọn côn đồ đập phá? Bọn này rõ ràng là được công an bảo kê. Chúng chỉ có vài chục đứa mà dám đến các doanh nghiệp đòi phải để công nhân ngừng làm việc để đi biểu tình và khi được trả lời là công nhân đã đi biểu tình rồi thì đòi vào khám nhà máy xem còn công nhân không. Nhà máy cầu cứu thì được công an lời là“không thể làm gì cả”. Tại sao công an lại không thể làm gì cả, trừ khi được lệnh cấm can thiệp? Rồi sau những thiệt hai to lớn đã có sĩ quan công an nào bị khiển trách không? Bình thường trước một sư kiện nghiêm trọng như vậy chính bộ trưởng công an phải tự kiểm điểm, thậm chí phải từ chức hoặc bị cách chức. Nên nhớ rằng công an hoàn toàn ở trong tay ông Dũng. Giải thích hợp lý nhất là chính ông Dũng đã tạo ra những cuộc bạo loạn này để có cớ cấm những cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Nhưng giải thích này có thể chưa đủ. Có thể còn có cả sự phối hợp với Trung Quốc – cả trong vụ giàn khoan HD-981 lẫn những diễn tiến sau đó – để tạo ra một tình trạng căng thẳng vừa biện minh cho sự suy sụp kinh tế không thể che giấu được nữa vừa giúp Nguyễn Tấn Dũng lấy cớ vãn hồi an ninh trật tự làm một cuộc đảo chính – công khai hoặc ngầm – thu tóm mọi quyền lực trong tay và vô hiệu hóa các đối thủ. Rất có thể. Bởi vì Trung Quốc không thể tìm được một đồng minh lý tưởng hơn ông Dũng, ông vừa hợp tác tận tình với Trung Quốc vừa thẳng tay đàn áp những người chống Trung Quốc. Ai cũng phải thấy là vụ giàn khoan HD-981 đã chỉ có lợi cho Nguyễn Tấn Dũng.
Nguyễn Tấn Dũng có thể không phải là người nhiệt tình nhất với chính sách phục tùng Trung Quốc nhưng cũng không ai có thể thân Trung Quốc hơn ông. Muốn “thoát Trung” mà lại “phò Dũng” là rất sai, sai một cách bi đát.
Có thể nói gì thêm về Nguyễn Tấn Dũng?
Khi lên làm thủ tướng ông tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng ông sẽ từ chức. Thực tế là tham nhũng không giảm đi, cũng không thể nói là tăng lên, mà phải nói là đã bùng nổ dưới chính phủ của ông Dũng. Hối lộ, vơ vét, móc ngoặc, mua quan bán chức đã trở thành qui luật dưới chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Phải nói một cách thật rõ rệt: nếu không dẹp được tham nhũng thì đất nước không có tương lai. Nguyễn Tấn Dũng không dẹp mà còn giúp tham nhũng bành trướng. Như vậy không thể viện dẫn bất cứ lý do nào để ủng hộ ông.
Ông Dũng đã khởi xướng ra “sáng kiến” dùng bọn côn đồ làm cánh tay nối dài của công an để hành hung dân oan và những người dân chủ. Tôi được nghe hai tiếng “đầu gấu” lần đầu tiên từ ông Hoàng Minh Chính qua điện thoại năm 2002. Ông Chính cùng các thân hữu tới tòa án ủng hộ Lê Chí Quang đang bị xét xử. Ông la lên: “Chúng nó dùng bọn đầu gấu đánh anh em dân chủ!”. Lúc đó ông Dũng vừa lên làm phó thủ tướng nhưng quyền lực át hẳn ông thủ tướng rất lu mờ Phan Văn Khải. Vài năm sau chính ông Hoàng Minh Chính cũng bị bọn đầu gấu xô đẩy và bị ném đồ dơ bẩn khi đi chữa bệnh ở Mỹ về, người nhà bị hành hung. Hiện tượng đầu gấu liên tục phát triển cùng với quyền lực của ông Dũng, đến mức giờ đây khó phân biệt công an và côn đồ. Hầu như không có người dân chủ trẻ nào không bị đánh, kể cả các phụ nữ như Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Hoàng Vi.
Dưới chính quyền của ông Dũng công an trở thành hung bạo. Hiện tượng tra tấn nghi can, dùng thường phạm đánh chính trị phạm trong nhà tù, đánh người, thậm chí đánh chết người, trong đồn công an ngày càng trở thành bình thường. Đó chủ yếu là thành quả của ông Dũng. Không thể nói rằng trách nhiệm của ông Dũng chỉ là đã không kiểm soát được công an. Ông nắm rất vững lực lượng công an, ông xuất thân là một công an và từng là thứ trưởng trực bộ công an. Công an không thể làm những gì mà ông cấm.
Nhiều người nói hãy cứ tập trung phát triển kinh tế rồi sẽ có dân chủ. Những người này không hiểu kinh tế và nói bậy. Nhưng ngay cả như thế thì Nguyễn Tấn Dũng cũng không phải là người lãnh đạo quốc gia chấp nhận được. Ông tỏ ra rất thiếu bài bản về kinh tế.
Một vài thí dụ:
-Ít lâu sau khi chính thức lên làm thủ tướng ông sang thăm Mỹ và tìm gặp Alan Greenspan, vừa mãn nhiệm kỳ chủ tịch ngân hàng trung ương Mỹ, để chiêm ngưỡng một thiên tài kinh tế. Chỉ một thời gian ngắn sau thế giới nhận ra Alan Greenspan là thống đốc tồi nhất từ một thế kỷ và đã gây ra cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa từng có.
– Cuối năm 2007 ông Dũng tung ra 150 nghìn tỷ đồng để mua 9 tỷ USD làm cả nước điêu đứng vì vật giá tăng vọt, lý do là để “hỗ trợ đồng đô la” vì sợ hối suất đồng đô la Mỹ sẽ giảm sút nghiêm trọng so với đồng tiền Việt Nam; dự đoán này sai một cách lố bịch vì điều ngược lại đã xảy ra.  Đồng đô la lúc đó bằng 15.000 đồng Việt Nam, ngay sau đó nó đổi lấy 18.500 đồng.
– Cuối năm 2008 chính phủ của ông Dũng trổ tài một lần nữa. Thấy thực phẩm lên giá đột ngột họ ra lệnh cấm xuất cảng gạo vì nghĩ rằng giá gạo sẽ còn tăng thêm và sợ bán hố. Sau đó thì giá gạo xuống nhanh và nông dân khốn khổ. Thực ra giá thực phẩm chỉ biến động trong một thởi gian ngắn, ngay lúc ông Dũng lấy quyết định ngớ ngẩn đó thị trường gạo đã trở lại bình thường rồi.
– Năm 2009 ông Dũng tung ra “gói kích cầu” 8 tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh tế. Theo lời bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư Bùi Quang Vinh thì số tiền 8 tỷ USD này đã mất toi và “doanh nghiệp bây giờ chết hết rồi”.
Sai lầm tai hại nhất của ông Dũng là lập ra những tập đoàn lớn, bắt chước các chaebol của Hàn Quốc dù không có những cấp lãnh đạo tương xứng và cũng không có cả những công ty đúng nghĩa. Kết quả là tất cả 127 tập đoàn đều lỗ nặng vì chỉ là những ổ lãng phí và tham nhũng. Chúng đang gánh một tổng số nợ gần 100 tỷ USD. Ai sẽ trả cái giá kinh khủng của sự ngu dốt này nếu không phải là thế hệ đang lớn lên? Trung bình mỗi người Việt Nam sẽ phải trả 1000 USD (22 triệu đồng) vì sự bất tài, tham nhũng và tính vĩ cuồng của chính quyền Nguyễn Tấn Dũng. Trong kỷ nguyên tri thức này không một quốc gia nào có thể chấp nhận một người lãnh đạo thiếu hiểu biết như ông Dũng mà không tàn lụi. Ngày nay người ta không còn có thể nói là đã có các cố vấn vì các vấn đề đã trở thành quá phức tạp và các dữ kiện thay đổi quá nhanh chóng. Muốn tuyển chọn các cố vấn có thực tài và sau đó trọng tài giữa các đề nghị phức tạp thì bắt buộc phải có một trình độ nào đó mà ông Dũng hoàn toàn không có.
Điều quan trọng cần được đặc biệt lưu ý là Việt Nam vừa để mất một cơ hội bằng vàng để vươn lên. Năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vốn và kỹ thuật nước ngoài đã ồ ạt đổ vào nước ta. Khối lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lớn hơn tổng số đầu tư vào tất cả các nước trong vùng. Khối lượng đầu tư nước ngoài to lớn này có lúc đã tạo ra ảo tưởng, nhưng sau đó sự bất tài, tham nhũng và những vụ án chính trị thô bạo đã khiến các nhà đầu tư chán ngán bỏ đi. Họ sẽ chỉ trở lại nếu Việt Nam thay đổi chế độ chính trị.
Đặc tính nổi bật và phải lên án nhất của ông Dũng là sự hung bạo đối với những người dân chủ. Những vụ trước đây bị xử 2 hoặc 3 năm – như thế đã là rất thô bạo vì các nạn nhân hoàn toàn vô tội – có thể bị xử trên 10 năm trong mấy năm gần đây sau khi ông Dũng đã thu tóm được phần lớn quyền lực trong tay. Vào năm 2007 Lê Thị Công Nhân bị xử 3 năm tù, Nguyễn Văn Đài 4 năm, nhưng từ năm 2010 trở đi Trần Huỳnh Duy Thức bị xử 16 năm, Điếu Cày 15 năm, Tạ Phong Tần 10 năm, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm, Đỗ Thị Minh Hạnh 7 năm. Sự hung bạo đã tăng gấp ba.
Tóm lại Nguyễn Tấn Dũng là một người rất thiếu kiến thức và khả năng, rất tham nhũng, rất tận tình với Trung Quốc và rất hung bạo đối với những người dân chủ và những người chống chính sách lệ thuộc vào Bắc Kinh. Hơn nữa còn là người đã gây thiệt hại lớn nhất – về mọi mặt kinh tế, xã hội, đạo đức và môi trường – cho đất nước từ hơn mười năm nay. Người ta có thể không dám đả kích ông Dũng vì ông là người đầy quyền lực và rất hung bạo, nhưng ủng hộ và ca tụng ông là chuyện khác.
Làm sao không khỏi phiền lòng khi đọc thư ngỏ của nhiều trí thức có uy tín đánh giá những lời tuyên bố mơ hồ, chung chung, vớ vẩn của ông Dũng“thể hiện đúng ý chí của nhân dân ta”. Ý chí của nhân dân ta đâu phải chỉ có thế. Hay khi đọc lời thuật rằng “cuộc hội thảo về “thoát Trung” là do cảm hứng vì những lời tuyên bố của thủ tướng”. Cảm hứng quá hời hợt. Và làm sao có thể thảo luận về “thoát Trung” nếu, như ban tổ chức yêu cầu, không được phép phê phán một chính quyền coi phụ thuộc Trung Quốc là điều kiện để tồn tại? Cần nhấn mạnh lệ thuộc Trung Quốc không phải là yêu cầu của nhân dân Việt Nam mà chỉ là nhu cầu sống còn của chế độ cộng sản.
Các trí thức đang ủng hộ ông Dũng và muốn ông Dũng có thế mạnh hơn nữa phải rất cảnh giác. Họ có thể sắp được mãn nguyện đấy, nhưng đó sẽ chỉ là một thảm kịch cho đất nước.
Để kết luận, xin có một lời cải chính nếu những gì vừa viết ở trên có thể khiến độc giả nghĩ rằng tôi bi quan. Không, tôi không hề bi quan. Trái lại tôi tin rẳng chúng ta có thể lạc quan. Chúng ta đang đứng trước một khúc quanh lịch sử quan trọng, hạn kỳ dân chủ có thể rất gần.
Dù muốn hay không Trung Quốc cũng sẽ không thể là một chỗ dựa cho chế độ cộng sản Việt Nam nữa. Trung Quốc đã tích lũy quá đủ mâu thuẫn và khó khăn và đang sắp đi vào một cuộc khủng hoảng rất lớn. Khủng hoảng kinh tế, tài chính và môi trường. Khủng hoảng mô hình, chính trị, đồng thuận và căn cước. Chính sự thống nhất của Trung Quốc cũng sẽ không được bảo đảm. Trung Quốc sẽ phải dồn mọi cố gắng để lo cho chính mình và sẽ không còn sức lực và ý chí để tiếp tục chính sách bành trướng bá quyền. Dù muốn hay không quan hệ lệ thuộc Việt Trung cũng sẽ phải chấm dứt. Vấn đề lớn của chúng ta không phải là “thoát Trung” mà là “giải Cộng” nghĩa là chấm dứt chế độ độc tài đảng trị trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc.
Ngay cả nếu kịch bản Nguyễn Tấn Dũng thâu tóm mọi quyền lực xảy ra thì nó cùng lắm cũng chỉ có thể làm chậm lại đôi chút chứ không thể ngăn chặn tiến trình dân chủ hóa. Nó sẽ chỉ là một sự chuyển hóa từ độc tài đảng trị sang độc tài cá nhân, và sự chuyển hóa này cũng chỉ là một chặng đường quen thuộc trong tiến trình đào thải của các chế độ độc tài.
Chúng ta còn một lý do quan trọng khác để tin tưởng: một tầng lớp trí thức chính trị, tầng lớp mà chúng ta chưa bao giờ có trong suốt dòng lịch sử, đang hình thành. Đó là những trí thức trẻ. Họ hiểu biết về chính trị và tình hình thế giới hơn hẳn thế hệ cha anh, không ràng buộc với chế độ, không khiếp sợ cũng không trông đợi gì ở bạo quyền và thẳng thắn chọn lựa dân chủ. Họ đã nắm được chìa khoá của tương lai, kể cả tương lai rất gần. Sự chuyển giao thế hệ sắp hoàn tất. Đất nước phải thay đổi vì đã thay da đổi thịt.
Kỷ nguyên tự do dân chủ sắp mở ra và các thế hệ mai sau sẽ nhận diện những con người của đất nước hôm nay. Ở thời điểm này quỵ lụy, luồn cúi không chỉ là bệ rạc mà còn là dại dột.
Nguyễn Gia Kiểng
(06/2014)



John Nguyen Cao
Nguyễn An Dân

Suốt gần một tháng rưỡi nay quan sát cuộc diện Việt Nam rối loạn trong chính trị, họa ngoại xâm hiển hiện bên ngoài, văn hóa xã hội xuống cấp và suy đồi, tôi chợt nhớ đến cuộc diện Lý-Trần trong lịch sử và vai trò của Thái Sư Trần Thủ Độ, một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng chính trị to lớn cho dân tộc khi ông mạnh dạn đi những nước cờ khéo léo nhằm đưa đất nước ra khỏi sự hỗn loạn của thời Lý suy và đi vào tiền Trần rực rỡ.

Khi đó, trước tình hình rối ren mục nát của đất nước vào những năm cuối của triều Nhà Lý cùng với họa ngoại xâm Bắc Triều lấp ló, Trần Thủ Độ đã có những hành động kiên quyết trong việc chấm dứt quyền lực của triều Lý suy tàn thối nát và khởi đầu cho một triều đại lịch sử mới chói lọi của dân tộc. Dù rằng dư luận có những đánh giá ông là người tàn nhẫn, mưu mô xảo quyệt, tham nhũng…nhưng sau 1000 năm bia miệng, điều đọng lại vẫn là Trần Thủ Độ là người có công hoạch định ra những nước cờ chiến lược lớn để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước, còn những khía cạnh khác của ông thì quần chúng cũng bỏ qua, khi công của ông lớn như thế, những lỗi lầm kia chỉ còn là vặt vãnh.

Cuộc diện nước Việt lúc này cũng thế, chính trị thì chia rẽ ba phe bảy phái, kinh tế thì chủ yếu bằng đi vay về xài, văn hóa xã hội suy đồi và xuống cấp nghiêm trọng trong lối sống từ quan đến dân. Bàn cờ dân tộc lúc này cần hơn bao giờ hết một Trần Thủ Độ nữa và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một ứng viên nặng ký. Trong suốt cuộc đời chính trị của Ba Dũng, có nhiều dư luận ồn ào về ông tham nhũng thế này, ông tàn ác thế kia…Bất kể những điều đó là hư hay thực, nhưng chỉ cần Ba Dũng đứng ra làm một Trần Thủ Độ thứ hai lúc ngoại xâm nội loạn này, giải quyết những hậu quả tai hại hiện hữu cho đất nước đã phát sinh sau một thời gian dài cầm quyền sai lầm của đảng. Kèm theo đó là chấm dứt họa ngoại xâm từ phương bắc bằng những nước đi mang tính căn cơ nền tảng thì dân tộc ta sẽ vinh danh ông như đã vinh danh Trần Thủ Độ. Lúc này Đồng chí X thành công thì không nói, còn thất bại thì không chỉ nguy cho ông ta, cho gia đình của ông ta, cho phe cánh của ông ta mà còn nguy cho dân tộc và đất nước

Nguy cơ từ bên trong

Bài học lớn từ đoàn kết chống ngoại xâm khi Trần Thủ Độ đứng ra giải hòa và dọn dẹp mâu thuẫn của các phe cánh khi các danh thần tướng lĩnh thời Trần đấu đá nhau vẫn còn nguyên giá trị. Một điều may mắn cho dân tộc là lúc đó các vua Trần cũng đồng tình ủng hộ Trần Thủ Độ. Còn cuộc diện hiện nay của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng không được như thế, tứ trụ triều đình chưa hoàn toàn thống nhất và thậm chí còn cản phá nhau. Đó là cái khó của Nguyễn Tấn Dũng và cũng đồng thời là nguy cơ cho dân tộc.
Sau một thời gian im lặng khá dài từ khi Trung Quốc thể hiện quyết tâm bành trướng nước ta từ nước cờ giàn khoan HY-981 và nước thứ 2 là củng cố đảo Gạc Ma thành một tiền đồn quân sự thì người đứng đầu cao nhất của đảng cầm quyền Việt Nam xuất hiện.

Tổng bí thư đảng cầm quyền tái xuất hiện và phát ngôn trước công luận, thay vì nói về biển đảo và ngoại xâm theo đúng trách nhiệm người đứng đầu đảng cầm quyền để bảo vệ an ninh đất nước thì lại nói về…bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm nay. Nhìn các bài báo đưa tin và nhấn mạnh ý then chốt trong “phát ngôn trở lại” của ông Nguyễn Phú Trọng là “bỏ phiếu tín nhiệm khối anh sợ”. Không biết khối anh đó là khối anh nào, và vì sao sợ. Nhưng xin thưa với Tổng Bí Thư, khối anh đó sợ hay không còn chưa biết, còn cái biết rồi là dân chúng tôi thì đang sợ, sợ họa ngoại xâm và bỏ qua cơ hội “thoát Trung” lần nữa chứ không sợ gì “khối anh tham nhũng tha hóa” lúc này đâu.

Nhân dân chúng tôi, những con chốt vô danh trên bàn cờ dân tộc, vốn hiểu thân phận của mình có thể dễ dàng bị đem đi thí cho các nước cờ chính trị phe phái. Nhưng phe phái nào cũng được, bình thường các ông cứ tranh giành quyền lực và lợi ích, nhưng trước họa ngoại xâm lúc này, bất kỳ các hoạt động mang tính thanh trừng nhau đều có thể được xem như một động cơ gây rối loạn nhằm có lợi cho kẻ xâm lược. Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm nay mà nói như ông Tổng Bí Thư là “không đạt là cho nghỉ ngay, kể cả các ủy viên Bộ Chính Trị”. Cái gì không đạt, tiêu chí nào là không đạt nếu không phải tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất, làm thước đo và đánh giá cho 1 chính khách lúc này, là lòng yêu nước và bảo vệ được an ninh quốc gia, sau đó mới xét đến những sai lầm này kia trong quá trình cầm nắm quyền lực.

Ở Việt Nam, khác với các nước khác, ngoài các cơ quan tam quyền như Quốc Hội, Tòa Án và Chính Phủ, còn có một hệ thống là đảng. Trong hành chính quốc gia, cơ quan hứng chịu búa rìu dư luận và va chạm hệ thống nhất là chính phủ. Chính Phủ muốn thực thi pháp luật thì không khỏi người thương kẻ ghét, trong khi đảng tuy cầm quyền nhưng lại chủ yếu là làm tuyên truyền, không gây ra bức xúc nội bộ và bức xúc quần chúng bằng khối chính phủ.

Vậy lấy gì để đảm bảo các “ân oán cá nhân và lợi ích nhóm” của hệ thống sẽ không ảnh hưởng vào bỏ phiếu ?.

Cái thứ hai là người đứng đầu chính phủ đang nỗ lực xoay chuyển để chống đỡ cho an ninh quốc gia đang bị đe dọa, lẽ ra đảng với chức năng lãnh đạo phía sau của mình, phải ủng hộ các chủ trương của chính phủ, và Tổng Bí Thư lẽ ra phải huy động các nguồn lực của đảng để ùng hộ Thủ Tướng lo vận động quốc tế và gia tăng sức mạnh đoàn kết nhằm kháng lại Bắc Triều, đưa quốc gia qua cơn nguy biến thì lại im lặng và triển khai hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm.

Nói như Tổng Bí Thư là bỏ phiếu để chống tham nhũng và cán bộ tha hóa. Xin thưa với Tổng Bí Thư, chống tham nhũng cũng cần nhưng chống ngoại xâm mới là khẩn thiết nhất lúc này. Dân ta cũng vốn quen với tham nhũng, có thể sống chung với tham nhũng thêm một thời gian nữa cũng chưa ai chết cả, nhưng không thể sống khi đất nước bị xâm lược, dân tộc không thể yên tâm khi hàng ngày từng miếng thịt nhỏ biển đảo bị cắn rứt với chiến thuật bành trướng gặm nhấm kiểu chuột đồng của Bắc Kinh.

Nếu cuộc bỏ phiếu cuối năm nay Thủ Tướng ngã ngựa vì các tình cảm yêu ghét cá nhân phát sinh qua công việc (đó là chưa nói đến các mưu mô chính trị) thì ai sẽ đứng ra vận động quốc tế và chỉ huy các hoạt động bên trong để chống ngoại xâm. Một Thủ Tướng mới chăng, người bên ngoài thì không được rồi vì không có “thế” và “lực”, vậy bên trong hệ thống thì ai có thể làm tốt hơn ông Nguyễn Tấn Dũng để làm người thay thế lúc này? Không có ai cả. Trừ ông Dũng ra, ông nào sẽ đi cầu được “ngoại viện” ???

Và cuối cùng, mất ông Nguyễn Tấn Dũng thì ai có lợi, tham nhũng chưa chắc đã giảm nếu mất ông nọ bà kia, nhưng coi chừng Trung Quốc hưởng lợi khi tay cầm cờ cao nhất dám đứng ra kêu gọi nhân dân đoàn kết chống xâm lược lúc này bị cách chức, thưa với Tổng Bí Thư như thế.

Trong đảng cầm quyền, Tổng Bí Thư cũng coi như vua và Thủ Tướng cũng như Thái Sư vậy. Ngày xưa thái sư Trần Thủ Độ cải cách chính trị và chống ngoại xâm hiệu quả cũng do một phần quan trọng là các vua Trần ủng hộ ông ta. Còn hiện nay thì khác, “vua” Nguyễn Phú Trọng và “thái sư” Nguyễn Tấn Dũng đang mỗi người mỗi ngả, mà hậu quả là làm suy yếu nhau. Nhân dân sẽ tôn vinh cho một thái sư dù tham nhũng này nọ nhưng có tinh thần kiên quyết chống ngoại xâm và sẽ không tha thứ cho một ông vua tuy chống tham nhũng nhưng tạo điều kiện cho quân thù tràn vào đất nước, bất chấp ông vua đó vô tình hay cố ý.

Từ giờ cho đến cuộc bỏ phiếu tín nhiệm cuối năm nay diễn ra ở Trung Ương đảng và Bộ Chính Trị, tôi mong nhân dân cả trong và ngoài nước (như những quan sát viên) cũng như các đại biểu quốc hội và các ủy viên trung ương đảng (là những người tham gia bỏ phiếu), mổi người dân và quan chức hãy tự hỏi mình “nếu thủ tướng mất chức ngay sau khi bỏ phiếu, thì sẽ lấy ai ra để thay thế và dẫn dắt đất nước chống họa ngoại xâm”

Câu hỏi thứ hai là vì sao thay vì đoàn kết và ủng hộ chính phủ khởi kiện Trung Quốc trong lúc này, nguyên nhân sâu xa nào làm Tổng Bí Thư và đảng bày ra và sa vào việc có khả năng dẫn đến nguy cơ “thay ngựa giữa dòng” này trong khi giải pháp tốt hơn chưa có ?

Nguy cơ từ bên ngoài.

Trong một tháng rưỡi giữa những ồn ào bàn thảo và phân tích, nhân dân và có lẽ một bộ phận không nhỏ trong đảng và chính phủ tin rằng Mỹ sẽ ủng hộ Việt Nam bảo vệ chủ quyền đất nước. Niềm tin này là có cơ sở nếu ta nhìn sự việc dưới góc độ chiến lược “xoay trục” và ủng hộ tay cầm cờ Ba Dũng của Mỹ là một nước cờ phục đã chuẩn bị từ lâu. Điều này đúng nhưng chỉ là một điều kiện cần, cái thứ hai để chúng ta có thể đặt niềm tin tối đa vào việc này là một điều kiện đủ mà hiện nay chúng ta chưa có.

Chính phủ Mỹ là một thực thể hữu hình và nó có những sức ép của riêng nó phải chịu. Một câu nói có tính nguyên tắc chính trị không bao giờ được quên là dù nước nào ủng hộ Việt Nam thì mức đô ủng hộ đến đâu cũng cần tính trên lợi ích đến đó cho cả họ. Trong các quan hệ đồng minh luôn có vấn đề bánh ít đi và bánh quy trở lại, nhân dân và cả phe Ba Dũng đừng ngủ quên ma cho rằng Mỹ sẽ ủng hộ Việt Nam hết mình “vô điều kiện”. Bài học Sensaku và Cỏ Mây-Scarborough giữa Mỹ- Nhật Bản-Philippin-Trung Quốc là một ví dụ điển hình cho việc này.

Hẳn các độc giả còn nhớ năm 2013, khi Trung Quốc và Nhật Bản tranh chấp khu vực đảo Sensaku, Trung Quốc hiểu rằng cần phải dàn xếp với Mỹ, chia rẽ quan hệ Mỹ- Nhật thì mới có khả năng đạt được mục đích. Thế là Trung Quốc đi hai nước cờ quan trọng, cho lực lượng biển vào chiếm Sensaku đồng thời bí mật dàn xếp với Mỹ trong việc trao đổi một số quyền lợi, và suýt nữa thì đạt được mục đích

Nước Nhật đã “cuống quýt hết cả lên” khi họ thấy trong chuyến viếng thăm vào tháng 06/2013 thì Tập Cận Bình có cuộc đi dạo nói chuyện tay đôi với Tổng Thống Obama của Mỹ. Người Nhật vốn thông minh, họ e ngại một cuộc nói chuyện tay đôi riêng tư của hai người đứng đầu hai nước lớn trong cuộc diện mình là nước nhỏ ở giữa thì có nguy cơ mình trở thành kẻ bị “bán đứng”, nếu Tập Cần Bình rỉ tai cho Obama những lợi ích Mỹ-Trung lớn hơn lợi ích Mỹ-Nhật .

Ngay sau đó, Chính quyền Nhật Bản đã phản ứng mạnh mẽ và đòi Mỹ phải cho biết nội dung mà hai ông to nhất đó nói chuyện riêng trong cuộc đi tản bộ ở Nam California là gì? Trước sự phản ứng mạnh mẽ của Nhật bằng động thái không chịu ngồi vào bàn đàm phán Mỹ-Nhât-Trung sau đó cho vấn đề Sensaku vì “bán tin bán nghi” là mình sẽ thất thế do sự âm thầm gật đầu của hai ông lớn nọ, cuối cùng tháng 4 vừa qua , Tổng Thống Obama khi công du Đông Á, đã tuyên bố Sensaku nằm trong liên minh quân sự và quan hệ chiến lược Mỹ- Nhật, thế là Nhật giữ được Sensaku, thoát được 1 tình thế “mập mờ”.

Không “nhanh mắt” đề thấy ra những chỗ hổng chết người đó, một đồng minh chiến lược khác của Mỹ là Philippin phải “ngậm đắng nuốt cay” cho sự thất thế của mình khi Mỹ “ngầm bỏ lơ và tỏ ra phản ứng thận trọng” trước sự xâm lấn của Trung Quốc, và cuối cùng Trung Quốc cũng gần như thành công trong việc lấn chiếm bãi Cỏ Mây, Scarborough trong tiếng la ó yếu ớt của tiểu quốc chủ sở hữu.

Đó là bài học nhãn tiền, phe thân Mỹ của Ba Dũng cũng như nhân dân Việt Nam đừng quên những bài học này, đôi khi trong sự giằng xé của các cường quốc đến cao trào thì họ thỏa hiệp chia chác nhau các lợi ích trên vai các nước nhỏ vào giờ chót là điều có thể, để tránh chiến tranh chưa cần thiết. Với Nhật Bản và Philipin là đồng minh chiến lược lâu năm mà còn như vậy, huống chi với đồng minh…dự bị như Việt Nam hiện nay. Mà khổ nổi, nếu lúc này không dựa vào Mỹ thì cũng không thể dựa vào nước nào cả trong khi nội lực đang rất yếu ớt.

Một kịch bản “chia đôi biển đông và kênh đào Kra” rất có thể sẽ đặt ra một khi Ba Dũng tỏ ra lần chần, hoặc vì bị o ép mà không thể giành chiến thắng tối hậu về cầm nắm quyền lực. Trong bối cảnh một chính quyền Nhật Bản và Philippin ổn định về đường lối thân Mỹ mà còn có nguy cơ “bị bỏ rơi vào giờ chót” thì Việt Nam với sự nhùng nhằng thì thế nào một khi quan hệ Mỹ-Trung đi đến nước cờ chót là “đánh hay không đánh”. Vật cùng tất biến, nếu vì Việt Nam mà Mỹ-Trung đánh nhau thì chúng ta kẹt ở giữa và thảm họa dân tộc 1975 lại tái diễn. Còn khi tới đó họ không đánh nhau mà nghị hòa cùng chia đôi lợi ích thì chúng ta cũng chết với viễn cảnh phụ thuộc Bắc triều tiếp tục.

Như vậy vấn đề đặt ra là làm gì để ngăn cản cái thế bí cho dân tộc và đất nước giữa hai cường quốc khi mà họ đánh hay đàm thì chúng ta cũng khốn khổ cả, chết ngay vì chiến tranh hay chết từ từ vì lệ thuộc cũng không khác nhau là mấy.

Việt Nam nên là một Israel thứ hai

Đã từ lâu đi nhiều nơi và gặp nhiều quần chúng từ anh xe ôm vỉa hè cho đến các học giả trí thức lẫn quan chức cấp này kia trong hệ thống, tôi đều nghe một sự khen ngợi về dân tộc Do Thái. Từ những lời khen ngợi của anh xe ôm vỉa hè về việc trồng cam trên sa mạc cho đến những khen ngợi chính trị của các học giả và quan chức khi họ thấy Israel có thể lập quốc được ngay trong thời kỳ hiện đại và tồn tại như một đồng minh “da thịt” với Mỹ.

Quan hệ của Israel và Mỹ như 1 một quan hệ của tay chân gắn bó, và chưa thấy bao giờ ông anh Mỹ có thể vì lợi ích của mình mà bỏ qua ông em Israel, dù điều đó suýt xảy ra với Nhật Bản và đã xảy ra với Philippin như tôi đã nói ở trên. Vì sao lại như thế?

Câu trả lời nằm ở vấn đề dân tộc. Những nhà quan sát hay tham gia vào chính trị Việt Nam cần nhận thấy là do quá khứ ly tán của mình, dân tộc Do Thái cắm dùi ở Mỹ lâu năm và dần dần lớn mạnh về số lượng, theo thời gian những người Mỹ gốc Do Thái đã tham gia nhiều vị trí chính trường quan trọng có ảnh hưởng vào chính sách Mỹ. Sự lớn mạnh của cộng đồng Do Thái dẫn đến mối dây đồng minh chiến lược Mỹ-Israel càng ngày càng bền vững hơn. Khi đứng trước các chính sách đối ngoại của Mỹ có thể gây phương hại đến quê hương Israel của mình, cộng đồng Mỹ gốc Do Thái đã tìm cách ngăn chặn, không để quê hương và quốc gia “nguồn cội” của mình bị hi sinh cho các nước cờ “thỏa hiệp” giữa các tay cầm cờ lớn trên bàn cờ quốc tế.

Việt Nam nếu lúc này (và sau này nữa) vẫn dưới bàn tay Ba Dũng cùng phe thân Mỹ dẫn dắt thì họ cần nhìn Nhật Bản-Philippin và Israel như một bài học để có các bước đi phù hợp. Thảm họa vượt biên năm 1975 là họa trong quá khứ nhưng là phúc trong tương lai của dân tộc. Trong một thế giới phẳng càng ngày càng rõ nét, giao thương đa quốc gia và các hàng rào địa lý, pháp lý ngày càng nhạt nhòa giữa các biên giới thì vấn đề cạnh tranh sẽ không còn gói gọn giữa quốc gia này và quốc gia khác mà sẽ là giữa dân tộc này và dân tộc khác nên đoàn kết dân tộc và dân chủ tự do là điều kiện tiên quyết.

Lúc này hơn lúc nào hết Ba Dũng phải nhìn ra vấn đề này để thực thi cho bằng được nước cờ hòa giải dân tộc thật sự. Lớn mạnh nội lực để không phải dựa vào Mỹ hay bất kỳ cường quốc nào là tuyệt vời về mặt lý thuyết nhưng việc đó không thể làm ngay trong nhất thời mà là quá trình lâu dài. Trong khi tận dụng sự đoàn kết dân tộc lúc này để “mang về” các nguồn lực chính trị từ kiều bào và sự hậu thuẫn “thực sự” từ Mỹ và Phương Tây là điều cần thiết. Nó cần thiết không chỉ cho tương lai dân tộc trong dài hạn mà còn cần thiết cho việc đảm bảo “thế thắng” của phe thân Mỹ trong chính quyền khi mà các cuộc đấu đá đã và còn sẽ diển ra tiếp tục cho đến khi quá trình thoát Trưng hoàn tất trong ngắn hạn.

Đảng cầm quyền Việt Nam (và cả phe Ba Dũng nếu có nghĩ thế) đừng tự trấn an một cách mơ hồ rằng theo thời gian, khi những người chống Cộng cao tuổi (thế hệ di dân thứ nhất) dần dần mất đi, thì một lớp trẻ thế hệ thứ hai, thứ ba… ở hải ngoại sẽ dễ dàng bị ăn bánh phỉnh của đảng như người dân trong quá khứ. Để rồi vẫn tái diễn màn cử đại diện đi trình diễn những vở kịch “hòa hợp hòa giải” mơ hồ, ru ngủ, một chiều và không thực tế. Trong một môi trường thông tin hạn chế và đời sống ngột ngạt như Việt Nam lâu nay mà càng ngày người dân còn càng thấy ra được nhiều cái tào lao nhảm nhí của đảng và đối kháng lại, độ tuổi của những người chống đối sự sai trái của đảng càng ngày càng trẻ hóa và gia tăng số lượng, thì tuổi trẻ hải ngoại cũng như thế thôi. Cộng đồng kiều bào bên ngoài, trong một xã hội thông tin tự do và đời sống khá giả hơn xa quốc nội thì họ còn biết nhiều hơn thế nữa về những điều tào lao nhảm nhí phi thực tế đang diễn ra bên trong đất nước. Làm sao mà có thể kêu gọi kiều bào tác động lúc này và sau này vào chính quyền nước họ đang cư trú để mang những chính sách chính trị-kinh tế tốt đẹp về cho quê hương khi mà chính quyền ở quê nhà còn bỏ tù, bắt bớ đàn áp những người vạch ra sự sai trái tào lao nhảm nhí của đảng cầm quyền?

Hơn bao giờ hết, tay cầm cờ Ba Dũng lúc này cần sự hậu thuẫn của quần chúng trong nước cũng như của các cộng đồng kiều bào ngoài nước cho nước cờ “thoát Trung”, nhất là Mỹ (kiều bào ở Mỹ đông nhất và đã có khả năng ảnh hưởng vào chính sách Mỹ, và lúc này Việt Nam cần Mỹ nhất). Ba Dũng muốn làm một Trần Thủ Độ thì hãy nhớ bài học cũ, đó là dù xóa bỏ triều Lý nhưng Trần Thủ Độ vẫn trọng dụng các quan lại cựu thần nhà Lý miễn là họ yêu nước và đặt lợi ích dân tộc lên trên hết trong sách lược chống Bắc triều.

Mấy hôm nay thấy trên hệ thống truyền hình và báo chí quốc gia có sự khác nhau trong tuyên truyền về Trung Quốc (người nói ra kẻ im miệng), quần chúng hiểu Ba Dũng đang cần sự ủng hộ của quần chúng trong và ngoài nước trong việc thoát Trung nhằm chống lại các bước đi cản phá của phe thân Tàu trong nội bộ. Nhưng quần chúng nào, cộng đồng kiều bào nào sẽ tin ông mà có hành động ủng hộ ông khi những người đi đầu trong việc vận động thoát Trung mấy năm nay còn nằm trong tù và chưa thấy có một lộ trình ngắn hạn nào trong việc trả tự do cho họ, thế thì chúng tôi ủng hộ ông để rồi thành con chốt thí, đi ở tù…thậm chí bị thủ tiêu hết hay sao?.

Thông điệp đầu năm của Ba Dũng là điều kiện cần nhưng chưa đủ thuyết phục. Sẽ không ai dám hành động ủng hộ ông lúc cần thiết cả. Thông điệp cải cách chính trị dân quyền dân chủ gì gì đó là những kế hoạch dài hơi. Nó chỉ có giá trị khi những việc nhỏ như tha tù chính trị chống Trung Quốc, có lộ trình khả dĩ để gây dựng “lòng tin chiến lược” ngay thời khắc mấu chốt này.

Tôi tin rằng nếu Ba Dũng sắp xếp làm ngay việc tha tù chính trị trong ngắn hạn hoặc ít nhất là công bố một quy trình cụ thể công khai cho động thái này thì quần chúng trong và ngoài nước sẽ mạnh mẽ ủng hộ ông và họ dám hành động khi cần thiết (vì cũng chẳng còn ai khác có thể làm hơn ông lúc này) và đó sẽ là khởi đầu cho một Israel thứ hai ở Châu Á. Ông cứ mạnh tay thả tù chính trị đi để quần chúng tin tưởng, tôi cũng tin rằng với hệ thống an ninh đông đúc hiện nay, vài chục ông tù nhân đó có ra tù cũng không làm gì rối loạn hơn cho đất nước được đâu.

Hãy gấp lên Ba Dũng, đi ngay những nước cờ chiến thuật cần thiết để gia tăng ưu thế cho phe mình nhằm đảm bảo chiến thắng vào lúc tối hậu. Nếu ông thua thì không chỉ ông, mà còn gia đình ông, phe nhóm ông và cả dân tộc sẽ lâm vào tình trạng còn bi đát hơn cả trước đây nữa, một khi vào giờ G nào đó, vì chán nản sự nhùng nhằng của Việt Nam, Mỹ gật đầu với Trung Quốc nhằm cùng chia hai lợi ích. Đến hôm nay ông cũng hết đường lùi rồi, vinh nhục chỉ trong những khoảng khắc còn lại trước khi “bỏ phiếu” mà thôi. Tôi nhớ trên website chính thức của ông có một banner có ghi vài chữ “tự do hay là chết”, đó cũng coi như một lời kết luận cho ông và đất nước lúc này.

Sẽ không có nhà Trần hiển hách ba lần đuổi quân Nguyên xâm lược nếu không có một Thái Sư Trần Thủ Độ dám nghĩ dám làm và mạnh tay chơi ván cờ tàn với các thế lực bảo thủ thời mạt Lý. Đoạt giang sơn thành đại nghiệp không thể không vỗ yên lòng dân, bài học này chưa bao giờ là cũ.

Nguyễn An Dân(ngày 08/06/2014)





Thứ Tư, ngày 11 tháng 6 năm 2014

Hai tuần đến Mỹ 

Người Buôn Gió
Theo FB Người Buôn Gió 




Đầu tiên là đăng ký xin làm visa trên mạng, cái này thì mình mù tịt về khoản khai báo, đành nhờ thằng Tú. Cũng tại thằng Tú mấy lần hỏi tại sao mình không đi Hoa Kỳ trong nhóm thuyết trình nhân quyền mấy lần vừa rồi. Mình giải thích là những người từ trong nước đi ra trực tiếp có giá trị hơn, còn mình ở đây cả năm rồi, hiện tình cũng không bám sát. Mình bảo nó là sẽ đi một mình, tự lo hết chi phí.

Đầu tiên mình kiếm một cái giấy mời mới, nhờ ông Đinh Khoa Thái Anh đứng mời. Giấy tờ để vào được Hoa Kỳ không đơn giản, chẳng phải cái giấy mời của ông Thái Anh là đủ. Nhưng nó là thủ tục đầu tiên. Mình chả hề mảy may nghĩ rằng mình sẽ bị bác đơn xin visa. Bởi trước đó mình có vài nghị sĩ đã gửi thư nhờ đại sứ quán Mỹ tại Đức giúp thủ tục cho mình xin visa. Tuy rằng những lá thư bảo lãnh của mấy nghị sĩ đó có ở thời gian trước, nhưng mình nghĩ có thể nó vẫn giá trị. Định đi từ trước lâu rồi, nhưng thấy vụ thuyết trình nhân quyền rồi đến vụ các bloger trong nước đang đến Mỹ, nên bụng bảo dạ thôi để lúc khác. Vì e sợ đến đó đúng dịp thì chồng chéo nhau.


Cái nữa là vấn đề chị Hằng đã 4 tháng rồi mà cơ quan điều tra của công an Đồng Tháp vẫn đang tìm nhân chứng, một cái tội “gây rối trật tự công cộng” mà bắt giam 4 tháng vẫn còn tìm chứng cứ kết tội thì quá hoang đường. Đã là tội này thì đương nhiên hành động gây rối diễn ra nơi công cộng, nơi công cộng là nơi đông người, giữa bao người qua lại, hành động diễn ra rõ ràng mới là gây rối. Thế mà bọn Đồng Tháp đến giờ nó vẫn đi tìm nhân chứng. Vậy thì không hiểu khi bắt chị Hằng bọn nó dựa vào đâu.?

Khi chị Hằng bị bắt mấy ngày, người của công an đã thông báo cho đại sứ quán Mỹ sẽ thả chị Hằng về. Nhưng hôm sau thấy trên FB Hồ Lan Hương nói đại ý chị Hằng chả phải đấu tranh gì, chỉ đi gây sự…mình giật mình. Nghĩ chuyện xấu cho chị Hằng sẽ đến, mình biết chuyện Hồ Lan Hương nói ra câu ấy không phải là tự dưng vô tình bật ra, mà nó là sự mào đầu dư luận của ai đó để khởi tố chị Hằng. Bởi thế mình rất giận. Y rằng vài bữa sau chị Hằng bị công an Đồng Tháp khởi tố tội danh đó. Một số người dường như cũng biết trước chuyện này, nên khi chị Hằng bị khởi tố, họ né tránh nhẹ nhàng. Một mình Bùi Trung đi lại đến trại thăm hỏi mẹ.

Mình không trách gì những người này, tự do dân chủ mà, họ muốn bênh ai, muốn làm gì họ làm. Mình chỉ phân tích khía cạnh vì sao họ có thông tin ấy, ai đưa ra thông tin này, để đánh giá tình hình chị Hằng. Rút cục thì mình kết luận có một phe trong công an muốn thả chị Hằng, còn một phe khác thì muốn bắt giam chị. Đứng trên chỉ huy hai phe này là nhóm lãnh đạo nào.?

Vì lý do ấy, mình nghĩ đã đến lúc đi Mỹ xem giúp gì được chị.

Khi đến ngày phỏng vấn ở đại sứ quán, mình tiếng Anh không biết, tiếng Đức lõm bõm vài câu. Người ta hỏi gì cũng ú ớ, sau cùng thì chán quá họ chả hỏi nữa, họ gật đầu nói chúc mừng mình có visa, họ sẽ gửi đến nhà. Mình 5 lần đi làm visa, mình chả tin chuyện phỏng vấn, chả lẽ cái thằng đó nó hỏi mấy câu ngẩn ngơ là có thể cho hay không cho người ta, như thế cảm tính quá. Cái chuyện phỏng vấn chắc chỉ 10%, còn 90 % là khi đăng ký xin họ đã có thời gian để xem xét tìm hiểu hồ sơ thế nào. Mà có hỏi thì mình có biết tiếng quái đâu mà trả lời.

Hôm 21 họ gửi visa đến nhà, hôm 22 mình mua vé để ngày 23 đi. Lúc xin visa họ hỏi đi bao ngày, mình nói 15 ngày. Giở visa thấy hạn cả năm, thì ra hình như cứ ai xin visa vào Mỹ là được một năm luôn. Lúc đầu mình mua vé nhầm sang Nam Mỹ, sau các bạn FB nói mình kịp đổi vé, mất toi 15 Euro. Lệ phí làm visa hơn một trăm Euro, thằng Tú nộp hộ, nộp thế nào nhầm 2 lần. Lúc mình trả tiền nó bảo thôi em đỡ anh chi phí lên đường lo cho chị Hằng.

Đến sân bay LAX làm thủ tục nhập cảnh, hóa ra phải khai báo trên một tờ giấy gì đó toàn tiếng Anh, mình lắc đầu không biết, thằng an ninh hải quan nó đóng cửa nó trực, dẫn mình đến một chỗ bảo người ta in tiếng Việt. Đến cái chỗ địa chỉ nơi đến thì mình không biết khai vào đâu, loay hoay mãi lại nhờ nó cho vào mạng để tìm cái thư của ông Thái Anh, có cái địa chỉ ghi xong mới thở phào, mà cái thằng an ninh nó cũng thở phào. Thế là vào đến nước Mỹ với thời hạn tạm trú lên đến 6 tháng. Bọn Mỹ thật lôm côm, mình không ngờ nhập cảnh vào Mỹ lại ngon ơ đến thế. Chả bù cho bọn Anh hay Đức nói đi bao ngày nó cho đúng từng đấy ngày.

Mình đúng là có số quý nhân phù trợ, đến nơi gặp anh Tưởng Năng Tiến mời đi ăn, anh Tiến cho luôn 500 usd đỡ tiền vé, mình mua ngay một cái máy tính bàn phím tiếng Anh, hệ điều hành XP cho dễ dùng, cái Mác mình mua bàn phím tiếng Đức, hệ điều hành cũng chả quen. Nên mua máy tính khác, cái máy kia để đánh tiếng Đức khi cần vậy. Chưa hết khi đến báo Người Việt chơi, ban biên tập hỏi vé ai mua, bảo tự mua, thế là anh em ban biên tập Người Việt quyết định trả cho tiền vé. Heee, đời mình luôn may mắn như vậy.

Rồi gặp nhiều người khác, họ cứ dúi tiền cho. Mình cầm tất, chả có gì phải ngại, đây là tấm lòng của bà con. Lúc mình đến Mỹ trong ví có bao tiền thì lúc ra còn chừng đó. Tiền được cho đã mua quà cho anh em (sắp gửi về) và gửi cho một số người. Mình làm được con máy tính và chuyến đi là lãi quá rồi, ăn cả không bền, đời giang hồ trước kia dạy mình kinh nghiệm này rồi.



Giờ chuyện chính là việc chị Hằng, mình nhờ Hồng Thuận của đảng Việt Tân cho tiếp xúc với ông dân biểu Lowenthal. Trước hơn cám ơn em Hồng Thuận xinh đẹp đã nhiệt tình giúp đỡ. Một số người khó chịu chuyện tại sao mình không nhờ ai có quan hệ mà lại nhờ Việt Tân. Xin trả lời là mình nhờ giúp cho chị Hằng, tiện ai thì nhờ đấy. Nói luôn là mình có thể còn gặp nhiều thượng nghị sĩ, dân biểu khác mà không phải nhờ đến Việt Tân. Nhưng chủ ý mỗi nơi mình nhờ một nhóm để cho đông đảo các nhóm, đảng cùng giúp sức lo cho chị Hằng.

Chuyện gặp ông Lowenthai khá tốt đẹp, ông hứa sẽ có hành động thiết thực với chuyện này, ông nằm trong ủy ban đối ngoại của Hạ Viện Hoa Kỳ. Một số vị giáo sư, tiến sĩ như Nguyễn Ngọc Bích, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đình Thắng… (không phải Việt Tân nữa nhé) đợt tới mình sẽ nhờ vận động giúp chị Hằng. Đây là những bậc cha anh rất quý mình bấy lâu nay, chắc chắn họ sẽ không từ chối mình.

Việc của chị Hằng thực ra không lớn, thế nhưng không hiểu vì sao một số phe phái muốn cố tình giam giữ chị để kết án. Trong thời điểm này thì việc thả chị Hằng ra có thiện cảm với các nước đang muốn bênh VN chống Tàu rất nhiều. Chị Hằng là một người dân phản ứng chuyện Tàu khựa xâm lược rất mạnh mẽ, một việc làm thả chị ấy ra bây giờ ý nghĩa quốc tế hơn hẳn mấy phát động biểu tình chống Tàu. Chẳng hiểu sao họ không làm, trái lại một số dư luận viên lại hả hê việc chị Hằng không được nhiều người đấu tranh lên tiếng bênh vực, họ chế nhạo con trai chị Hằng lẻ loi trong việc lên tiếng cho mẹ mình. Chắc chắn đây là những kẻ thuộc phe thân Trung Công, chúng đang muốn hố sâu ngăn cách của VN với các nước khác nặng nề thêm, để VN lún sâu vào ảnh hưởng của TQ. Như thế chúng mới có chỗ dựa vững chắc để có quyền lợi cá nhân, quyền lợi nhóm trên đất nước Việt Nam.

Công cuộc đòi tự do cho chị Bùi Thị Minh Hằng cũng như đấu tranh với bè lũ thân Trung Cộng còn nhiều ở phía trước. Xin cám ơn các bạn Việt Kiều tại Hoa Kỳ đã trợ giúp về vật chất cũng như phương tiện, quan hệ trong chuyến đi vừa rồi. Hy vọng trong tương lai gần sẽ gặp lại các bạn.

Advertisements

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: