NỖI NHỤC 17/2: Biên giới Việt Trung : tấc đất tấc máu


Biên giới Việt Trung : tấc đất tấc máu.Nhan Tuan Truong

Cuộc chiến biên giới Việt-Trung bắt đầu từ 17-2 năm 1979, trên danh nghĩa thì kết thúc khoảng một tháng sau đó. Cuộc chiến xảy ra nhanh chóng và kết thúc cũng nhanh chóng nhưng mức độ khốc liệt thì tỉ lệ nghịch với thời gian. Về phía VN, các tỉnh biên giới, vì là chiến trường, hạ tầng cơ sở (các tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai…) có thể nói bị thiệt hại từ 90 đến 100%. Con số chết chóc, dân sự và quân đội của hai bên rất cao, (ít nhất 120.000 người) so với cái giá phải trả (mục tiêu chiếm được). Nếu lấy thây người chết trong cuộc chiến dàn trải ra, chắc sẽ phủ đầy những khu vực đất bị đổi chủ quyền.(Hai bên Việt Nam và Trung Quốc, sau khi ký kết hiệp định phân định lại biên giới trên đất liền năm 1999, hoàn tất cắm mốc năm 2008. Bộ bản đồ đính kèm mới được phía VN công bố trước công chúng năm 2013. Sau khi so sánh bộ bản đồ này với bộ bản đồ của Sở Địa Dư Đông dương (Pháp) ấn hành (theo tinh thần Công ước 1887). Bộ bản đồ này hiện được tồn trữ tại Văn khố Hải ngoại Pháp (CAOM, Aix-En-Provence). Hoặc so sánh với kỹ thuật đo đạc của Terrago Publisher trên các bản đồ (quân sự của Mỹ), ta thấy biên giới không thay đổi nhiều. Ở một số vùng vùng đất nhỏ (diện tích khoảng vài trăm thuớc đến 1 hoặc hai cây số vuông) thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lào Cai… bị nhượng cho Trung Quốc.)

Có những nơi, núi Lão Sơn (TQ chiếm được của VN), diện tích chỉ tương đương vài sân banh. Nếu lấy thây người dàn trải ra thì đất không đủ chỗ. Cuộc chiến khu vực này kéo dài cho đến cuối thập niên 80, quân đội hai bên, hàng sư đoàn đã ngả xuống ở đó.

Tấc đất là tấc máu. Nghiên cứu biên giới vì vậy gắn liền với nghiên cứu lịch sử. Nếu chỉ nói cuộc chiến 1979, hàng trăm ngàn người đã tham gia cuộc chiến để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Hàng chục ngàn người đã ngả xuống để bảo vệ các vùng đất đó. Có dư luận cho rằng bài viết gần đây của tôi góp ý với TS Trần Công Trục về Ải Nam Quan là « xét nét, bắt lỗi từng chút ». Theo tôi, sẽ là một sự xúc phạm nếu ta xét lại chủ quyền các vùng đất này bằng « cảm tính », bằng « dối trá », hay bằng con mắt chủ quan, hờ hững. Nghiên cứu khoa học, tường tận, chính xác không phải là « xét nét », mà là « devoir de mémoire – trách nhiệm lịch sử » của người nghiên cứu đối với công lao máu xương của những người đã hy sinh.

Bài này ghi lại các biên bản cắm mốc khu vực biên giới Vân Nam, từ hợp lưu sông Hồng đến giáp giới Quảng Tây-Vân Nam, trích từ tập tài liệu « Biên giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành hình và những tranh chấp », in năm 2005 của cùng tác giả. Tác giả chuyển ngữ từ các văn bản gốc (tiếng Pháp). Việc công bố nhằm tiện việc khảo cứu về các vùng biên giới của VN bị nhượng cho TQ sau này.

Biên Bản số 2

Ðoạn thứ 1 : Từ hợp lưu sông Long Bác (龍賻) với sông Hồng (紅河) đến sông Qua Sách (戈索河)

Ðể phân giới đoạn biên giới này hai ủy ban có cùng ý kiến rằng phải theo nội dung của biên bản phân định biên giới của đoạn thứ 1, ký tại Lào Kai ngày 19 tháng 10 năm 1886 (nhằm ngày thứ 22, tháng thứ 9, năm Quang Tự thứ 12). Nhưng một thoả thuận chung được hai bên công nhận, vì lý do sai lầm của các ủy ban phân định đem lại từ sự thiếu sót thông tin trắc địa, đã không ghi nhận đoạn biên giới từ Tân Ðiếm (新店) (Trung Hoa) đến sông Qua Sách (戈索河), bỏ quên vì vậy một khoảng trống giữa đoạn biên giới thứ 1 và đoạn biên giới thứ 2.

Ðể sửa chữa việc thiếu sót này, hai ủy ban thoả thuận rằng đoạn biên giới thứ 1 bắt đầu từ hợp lưu sông Long Bác (龍賻) với sông Hồng và chấm dứt tại sông Qua Sách (Qua Sách Hà戈索河) .

Việc nầy quyết định : Công nhận đồ tuyến của đoạn biên giới thứ 1 từ đây về sau giữa Trung Hoa và Pháp, sẽ là đường trên bản đồ kèm theo biên bản này, theo đó đồ tuyến phản ảnh trên thực địa theo cách như sau :

Từ hợp lưu sông Long Bác với sông Hồng, đường biên giới theo trung tuyến sông Hồng cho đến hợp lưu của sông này với sông Nam Tây (Nam Tây Hà 南洗河), sau đó đường biên giới theo sông Nam Tây cho đến hợp lưu giữa nó với sông Bá Kết (Bá Kết Hà垻結河), đường biên giới đi ngược sông Bá Kết cho đến hợp lưu giữa nó với con sông có tên Thiên (Thiên Hà千河), sau đó theo Thiên Hà cho đến điểm mà con sông nhỏ này bị cắt ngang do con đường từ Cốc Phương (谷方) đến Lão Ao Trang (老凹), tức là cách làng Cốc Phương 900 thước.

Từ điểm này đường biên giới lên đất liền cho tới sông Qua Sách, là một phụ lưu của sông Chảy (Hắc Hà 黑河), theo hướng tổng quát Ðông Bắc.

Trong toàn đoạn này, đường biên giới là đường sống núi, tức đường đường phân thủy chia :

1/ Thung lũng sông Thiên Hà thuộc Vân Nam với thung lũng sông Bá Kết thuộc An Nam.

2/Thung lũng sông Nhai Ná (Nhai Ná Hà 崖那河) thuộc Vân Nam với thung lũng sông Thiên Câu (Thiên Câu Hà千溝河), là một phụ lưu tả ngạn của sông Ðại Lang (Ðại Lang Hà千郞河 ), thuộc An Nam.

3/ Các thung lũng của các phụ lưu sông Nam Tây thuộc Vân Nam với thung lũng sông Ðại Lang của An Nam.

4/ Những thung lũng thuộc thuộc hợp lưu sông Nam Tây của Vân Nam với những thung lũng thuộc phụ lưu của sông Chảy của An Nam.

5/ Những thung lũng thuộc phụ lưu của sông Kiều Ðầu (Kiều Ðầu Hà 橋頭河) thuộc Vân Nam với những thung lũng thuộc các phụ lưu của sông Chảy thuộc An Nam.

Hai mươi cột mốc đã được cắm trên đoạn biên giới này.

Cột số 1 : giao điểm giữa sông Thiên Hà với con đường từ Cúc Phương đến Lão Ao Trang, dưới chân một cụm núi chắn ngang.
Cột số 2 : trên đường từ Long Ba Mỹ (龍波美)  đến Bạch Thạch Nhai (白石崖).
Cột số 3 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Giáp Mã Thạch (夾馬石).
Cột số 4 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Tân Trại (新寨)..
Cột số 5 : đường từ Nam Trại đến Thủy Ðối Phòng (水碓防).
Cột số 6 : đường từ Thiên Hà Trại (千河寨) đến Thủy Ðối Phòng.
Cột số 7 : đường từ Tân Trại đến Tân Ðiếm (新店), ở gần Ðộc Mộc Kiều (獨木橋).
Cột số 8 : đường từ (Mãnh Khang) Mường Khương (猛康) đến Tien Tang.
Cột số 9 : tại giao điểm của các con đường từ Mường Khương (Mãnh Khang) và từ Hắc Sơn Bá (黑山埔) đến Tân Ðiếm.
Cột số 10 : ở giữa đèo, trên đường từ Thổ Mã (土馬) đến Tân Ðiếm.
Cột số 11 : đường từ Vân Niên Chu (萬年) đến Ðiền Phòng (田房).
Cột số 12 : điểm chia các con đường Tân Ðiếm đến Ba Long (芭龍) và từ Bàn Mao Trại (…茅寨) đến Bảo Ðấu Trại (保頭寨).
Cột số 13 : ở giữa đèo, trên con đường từ Lạc Thủy Ðộng (洛水洞) đến Thạch Mã Ðộng (石馬洞).
Cột số 14 : đường từ Ca Phòng (卡房) đến Thạch Mã Ðộng.
Cột số 15 : đường từ Tsao Ko Tsing đến Thạch Mã Ðộng.
Cột số 16 : ở giữa đèo, trên đường từ Lão Bảo Trại (老保寨) đến Lão Tá Lạp (老拉).
Cột số 17 : ở giữa đèo, trên đường từ Nhai Đầu (崖頭)  đến Ðường Tử Biên (塘子邊).
Cột số 18 : ở đèo Mao Thảo Trại (茅草寨),  phía Nam của làng cùng tên.
Cột số 19 : ở giữa đèo, trên đường từ Phiên Sơn Ca (飜山卡) đến Hắc Bì Trại (黑皮寨).
Cột số 20 : ở giữa đèo, trên đường từ Tân Trại đến Hắc Bì Trại.
Cột số 21 : ở giữa đèo, trên đường từ Ba Long đến Lão Lưu Trại.
Cột số 22 : ở giữa đèo, trên đường từ Lão Ca Tân Trại đến Ðiền Phòng.

Làm và kết thúc tại Lào Kai hai bản bằng tiếng Pháp và hai bản tiếng Tàu, ngày mười ba tháng sáu năm một ngàn tám trăm chín mươi bẩy. (Nhằm ngày thứ mười bốn, tháng thứ năm, năm Quang Tự thứ hai mươi ba).

Biên bản số 3

Ðoạn biên giới thứ 2 : Từ Qua Sách Hà (戈索 河 ) đến Cao Mã Bạch (膏 馬 白) thuộc Bắc Kỳ và Tân Nhai (新 崖) thuộc Vân Nam.

Ðoạn biên giới này hai ủy ban công nhận rằng không thể áp dụng trên thực địa theo đồ tuyến đường biên giới của Ủy Ban Phân Ðịnh (1885 1887). Hai bên đồng ý lập một đồ tuyến mới, phản ảnh đúng nhất có thể được, để phù hợp với địa lý làm thành biên giới tự nhiên cũng như sự toàn vẹn các đơn vị hành chánh của địa phương, đồng thời để ý đến nội dung biên bản phân định biên giới đoạn thứ 2 ; ký tại Lào Kay ngày 19 tháng 10 năm 1886 (ngày 22 tháng 9 năm Quang Tự thứ 12) cũng như biên bản bế mạc ký tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887 và công ước bổ túc ngày 20 tháng 6 năm 1895.

Việc này hai bên quyết định công nhận một thoả ước chung, rằng đồ tuyến của đoạn biên giới thứ 2 từ nay về sau trong những liên hệ giữa hai nước Pháp Trung, sẽ là đồ tuyến vẽ trên địa đồ kèm theo biên bản này, theo đó đường biên giới sẽ định trên thực địa như mô tả sau đây :

Từ điểm chấm dứt đoạn biên giới thứ nhứt trên sông Qua Sách (Qua Sách Hà 戈索河 ), đường biên giới từ điểm này xuôi dòng chảy cho đến hợp lưu với sông Chảy (Hắc Hà黑 河), đường biên giới rời sông Qua Sách bắt qua sông Chảy, đi ngược sông cho đến điểm hợp lưu với sông Nam Len (Ðông Nhai Hà銅 街 河).

Ðường biên giới sau đó lên bộ theo hướng Ðông Bắc, trước hết theo đường phân thủy chia thung lũng sông Chảy với thung lũng sông Nam Len (Ðông Nhai Hà), sau đó theo đường phân thủy chia thung lũng sông Nam Tùng (Nam Tùng Hà南松河) và sông Qua Nhai (Qua Nhai Hà戈街河).

Ðường biên giới xuống đột ngột để bắt vào sông Qua Nhai, tại điểm cách hợp lưu sông này với sông Nam Bắc Hà (南北河) khoảng 300 thước, đi ngược sông cho đến giao điểm của sông này với đường từ Bảo Lương Nhai (保良街) đến Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡).

Từ đây đường biên giới bắt vào núi tên là Bản Cử Sơn (板子山), đi theo hướng Ðông Bắc, theo đường phân thủy ở giữa hai đường đi từ Muong Tung (Mãnh Cang 猛崗) đến Trung Hoa và đường đi từ Thanh Thủy (Thanh Thủy Hà清水河)đến Việt Nam.

Ðường biên giới sau đó vào sông Na La (Ná La Hà那河)tại nguồn, xuôi theo sông cho đến hợp lưu với sông Khai Hóa (開化)(sông Claire, tức sông Lô), cắt qua sông Lô, theo các đỉnh núi cao, qua Biên Mã Sơn (褊馬山)và Bạch Hữu Nhai (白山崖),lấy qua hướng Bắc, theo đường phân thủy ở phía Ðông của Nam Ðộng (南洞), cho đến Lục Thủy Hà Ca (綠水河卡) và đến gần Tân Nhai (新寨) bắt đầu cho đoạn thứ 3.

Trong đoạn thứ 2 các xã Tụ Nghĩa (Tụ Nghĩa Xã聚義社), Tụ Hoa (Tụ Hòa Xã 聚和社), Tụ Long (Ðô Long 都龍), Mãnh Cang (猛崗), Phân Vũ (奮武), Ðông An Lý (東 安里)nhường cho Trung Hoa ; các xã Tụ Nhân (聚仁), Hữu Bằng (有朋), Mạn Mỹ (縵 美), Phương Ðô (Phương Lục豐綠), Ðại Miên (大鴻)và Tiểu Mien (Nam Thiên Môn 南 天 門) nhường cho An Nam. Có mười chín cột mốc được cắm trong đoạn thứ hai :

Cột số 1 : tại hợp lưu sông Chảy (Hắc Hà黑河) và sông Nam Len (Ðông Nhai Hà銅街河).

Cột số 2 : đường từ Tân Trại (新寨) đến Thạch Ca Lập (石卡苙).

Cột số 3 : đường từ Man Cái (漫蓋) đến Thanh Môn (菁門).

Cột số 4 : đường từ Lục Thủy Ðồng (綠水洞) đến Thanh Môn (菁門).

Cột số 5 : đường từ Mao Bình (茅坪) đến Thanh Môn (菁門).

Cột số 6 : đường từ Mao Bình (茅坪) đến Hạ Nam Thanh (下南菁).

Cột số 7 : ở đỉnh đèo, trên đường từ Nam Tùng (南松) đến Mạn Mỹ (漫美).

Cột số 8 : gần Qua Nhai Hà (戈街河)và cách hợp lưu sông này với sông Nam Bắc (南北河) 500 thước

Cột số 9 : dưới chân một núi rặng núi mới bắt đầu, tại điểm mà con đường từ Báo Lương Nhai(保良街)đến Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡)đi qua sông Nam Giang (南 江河).

Cột số 10 : trên đèo Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡).

Cột số 11 : ở đỉnh đèo, trên đường từ Mãnh Ðồng Trung (猛崗中) đến Lão Trại (老 寨 ).

Cột số 12 : đường từ Tân Trại (新寨) đến Thanh Thủy (清水).

Cột số 13 : tại Phát Hãn Trại (發汗寨), trên đường từ Thanh Thủy (清水) đến Long Ðàm (龍潭).

Cột số 14 : trên đỉnh của núi Bạch Thạch Nhai (白石崖).

Cột số 15 : trên đường từ Long Ðàm (龍潭) đến Mãn Sanh (漫生).

Cột số 16 : đường từ Sơn Cước (山腳) đến Mãn Sanh (漫生).

Cột số 17 : đường từ Thạch Duẫn (石筍) đến Tie Tchang.

Cột số 18 : trên núi ở phía Nam Che Sen (石筍).

Cột số 19 : trên đỉnh đèo Lục Thủy Hà Ca (綠水河卡), ở phía Ðông và phía trước cửa ải.

Làm xong tại Lào Kay hai bản tiếng Pháp và hai bản tiếng Hoa, ngày mười ba tháng sáu năm một ngàn tám trăm chín mươi bẩy, nhằm ngày mười bốn, tháng năm, năm Quang Tự thứ hai mươi ba.

Biên bản thứ 4
Các đoạn biên giới thứ 3 và thứ 4 : Từ Tân Nham   (Trung Hoa) và Cao Mã Bạch   (Việt Nam) đến biên giới Quảng Tây 西.
    Ðể phân giới vùng biên giới này hai ủy ban có ý kiến rằng phải theo tinh thần và nội dung của các biên bản phân định biên giới ký tại Lào Kay ngày 19 tháng 10 năm 1886, nhằm ngày 12 tháng 9 năm Quang Tự thứ 12.
    Vì các biên bản đã không có những tranh chấp gay gắt trên thực địa, nên hai bên quyết định nhập các đoạn này lại làm 1. Trong đoạn biên giới thứ 4, số thứ tự các cột mốc và những ghi chú ghi trên các tảng đá bắt đầu trong đoạn biên giới thứ 3.
    Hai bên thỏa thuận rằng các đồ tuyến của đoạn biên giới thứ 3  thứ 4, từ nay trở đi giữa Pháp và Trung Hoa, sẽ là đồ tuyến vẽ trên bản đồ kèm theo biên bản này, theo đó đường biên giới trên thực địa được mô tả như sau :
    Ðường biên giới bắt đầu từ cột mốc số 1 cắm về hướng Ðông Nam cách Tân Nham khoảng 2 dặm, từ đây theo sống núi giới hạn thung lũng Lục Thủy Hà  ; đến phía Bắc của Cao Mã Bạch 高馬白, đường biên giới theo hướng Na Lang Ca  , hướng tổng quát là Bắc Ðông Bắc, theo sống núi đá ra đến rặng núi lớn từ Nham Cước Nhai đến Na Lang Ca 那郎卡, đường biên giới nghiêng về hướng Ðông và vẫn theo rặng núi này cho đến vùng chung quanh của làng Na Canh   ; tại đây đường biên giới lấy hướng Bắc Ðông Bắc đi xuống về sông Bá Bất   , qua sông và tiếp tục theo hướng này cho đến con đường Ðạt Thiên  , tại đây đường biên giới theo hướng Ðông Nam đến gần sông Bá Bất (Bá Bất Hà). Từ điểm này cho đến khoảng Mao Sơn Ca   đường biên giới theo hướng Ðông Bắc, xuôi theo đường sống núi chính, qua các nơi Khấu Lãnh Ðại Ca    , Long Lặc Ca  , Sái Tảo Ca    và Phổ Long Ca   . Từ Mao Sơn Ca    cho đến Mao Bái Ca    đường biên giới có hướng tổng quát Ðông, theo các đường đỉnh và đi qua Sung Tán Ca  , Tiểu Ca  , Xuyên Ðộng Ca 穿  và Mao Bái Ca   .
    Từ Mao Bái Ca   đến sông Nho Quế (Pou Mei Ho   Phổ Mai Hà    ), đường biên giới lấy hướng Bắc Ðông Bắc qua Mã Sinh Ca  , sau đó vào giữa Mã Giang Ca   thuộc Trung Hoa và Mã Lộng Ca   thuộc An Nam, đi qua tiếp theo một chuổi các đỉnh núi để sau đó đi vào giữa Long Qua Ca 龍戈卡thuộc Trung Hoa với Long Cổ Ca    thuộc An Nam và cuối cùng đi đến đến sông Nho Quế (Phổ Mai Hà    ) qua một con dốc đứng.
    Ðường biên giới xuôi theo sông Nho Quế cho đến điểm ở giữa Lương Thủy Tĩnh 水井thuộc Trung Hoa và Nham Long  thuộc An Nam, đường biên giới lên đất liền theo hướng Ðông Nam, xuyên qua Long Ðàm Ca   , sau đó chuyển hướng Ðông Bắc để đi qua Long Lâu Ca  và đến Thượng Bồng   thuộc An Nam để lấy hướng tổng quát Ðông Nam theo đường sống núi, để lại An Nam các phụ lưu của sông Nho Quế và để lại Trung Hoa phía cao của thung lũng Nhan Ðộng Hà  đường biên giới tiếp đó xuôi theo sông này đến Nhan Ðộng Hà Ca  河卡, tại đây đường biên giới đến gặp giao điểm của ba đường biên giới.
    Hai mươi bốn cột mốc đã được cắm :
Cột số 1 : cách Tân Nham   2 lý theo hướng Ðông Nam, ở một  cái đèo trên đỉnh cao những ngọn núi.
Cột số 2 : tại đèo ở phía Bắc Cao Mã Bạch 高馬白, trên đỉnh núi cao làm đường phân thủy.
Cột số 3 : tại đèo, trên đường từ Mao Thảo Pha     đến Nham Ðầu   .
Cột số 4 : gần ở Bổng Giáp   , và ở trên đường từ Bổng Giáp đến Na Lâm  .
Cột số 5 : ở Na Lang Ca   , trên đường từ Phan Chi Hoa   đến Nham Cước   .
Cột số 6 : ở Khuê Bố Ca   , trên đường từ Khuê Bố thuộc Trung Hoa và Na Canh    thuộc An Nam.
Cột số 7 : tại Khấu Mãn Ðại Trại 滿   , trên đường nối từ Khấu Mãn Ðai Ca  滿    thuộc Trung Hoa đến Tha Môn Không       thuộc An Nam.
Cột số 8 : tại Long Lực Ca   trên con đường nối Khấu Lãm   (Trung Hoa) và Giang Lệ    (Việt Nam).
Cột số 9 : ở Sái Táo Ca   trên con đường nối Mao Sơn Ca     (Trung Hoa) và Giang Lệ    (Việt Nam).
Cột số 10 : trên đường từ Mao Sơn Ca    (Trung Hoa) đến Tân Nhai  (Việt Nam).
Cột số 11 : tại Sung Tán Ca    trên đường nối Sung Tán (Trung Hoa) với Thủy Ðầu  (Việt Nam).
Cột số 12 : tại Tiểu Ca   trên đường từ Tiểu Ca (Trung Hoa) đến Phổ Na  (Việt Nam).
Cột số 13 : trên đèo có tên Ta Ca hay Xuyên Ðộng Ðại Ca 穿    trên đường nối Mã Xử   (Trung Hoa) với Phổ Bổng    (Việt Nam).
Cột số 14 : tại Mao Bài Trại   trên đường nối Mao Bài  (Trung Hoa) với Phố Bổng .
Cột số 15 : ở Mã Sinh Trại  , trên đường nối từ Ma Sinh (Trung Hoa) với Mã Nà  (Việt Nam).
Cột số 16 : trên đèo, khoảng giữa Mã Giang Ca    (Trung Hoa) Tàu và Mã Lộng (Việt Nam), khoảng cách bằng nhau giữa hai làng.
Cột số 17 : trên đèo, trên con đường nối Long Qua Ca    (Trung Hoa) với Long Cô  (Việt Nam).
Cột số 18 : trên đường từ Lương Thủy Tĩnh 涼水井(Trung Hoa) đến Nhai Long   (Việt Nam), và để khoảng 1 lý cách sông Nho Quế (Phố Mai Hà  ) về hướng Tây.
Cột số 19 : trên đèo, Trên đường từ Lương Thủy Tĩnh涼水井 (Trung Hoa) đến Long Ðàm (Việt Nam).
Cột số 20 : trên một đèo nhỏ, trên đường từ Long Lâu   (Trung Hoa) đến Thượng Bồng   (Việt Nam).
Cột số 21 : trên một đèo nhỏ, ở về phía Ðông của Thượng Bồng (Việt Nam), trên đường từ Ðiền Bàng Nhai    (thuộc Trung Hoa) đến Thượng Bồng (thuộc Việt Nam).
Cột số 22 : khoảng 4 lý về phía Tây của làng Trung Hòa Trại   , trên đường từ Trung Hòa Ca    (thuộc Trung Hoa) đến Ðại Khẩu  (thuộc Việt Nam).
Số 23 : cách Tiểu Ca   khoảng chừng 3 dặm về phía Tây, trên đường từ Tiểu Ca (thuộc Trung Hoa) đến Trung Bồng    (thuộc Việt Nam).
Số 24 : trên bờ sông Nhan Ðộng (Nhan Ðộng Hà    ), trước khi vượt sông nầy để đi từ Dao Nhân Trại     (thuộc Trung Hoa) đến Long Lan Nhai    (thuộc Việt Nam).
Làm tại Lào Kai hai bản bằng tiếng Pháp và hai bản bàng tiếng Tàu ngày mười ba tháng sáu năm một ngàn tám trăm chín mươi bẩy, nhằm ngày mười bốn, tháng năm, năm Quang Tự thứ hai mươi ba.
Procès verbal N° 2
1eSection : Du confluent de Long Po (Ngoi Mit) (龍賻) avec le Fleuve Rouge  (紅河jusqu’au Kosso Ho (戈索河)
    Pour l’abornement de cette partie de la frontière les deux commissions ont été d’avis que l’on devrait s’en tenir aux dispositions du procès verbal de délimitation de cette 1re  section, signé à Lao Kay le 19 Octobre 1886 (22e jour du neuvième mois de la douzième année de Kouang Shiu), mais d’un commun d’accord elles ont reconnu que par suite d’une erreur commise par les Commissions de délimitation, erreur provenant de l’absence de renseignements topographiques il n’avait pas été fait mention de la partie de frontière comprise entre Sin Tien (新店) (Chine) et le Kosso Ho (戈索河), laissant ainsi un vide entre 1re et 2e section.
Pour réparer cet oubli, les deux commissions ont admis que la 1re section partirait du confluent du Long Po (Ngoi Mit) (龍賻) avec le Fleuve Rouge pour se terminer au Kosso Ho (戈索河) Cela décidé, il a été reconnu d’un commun d’accord que le tracé de la 1resection de la frontière qui ferait foi désormais entre la Chine et la France serait celui porté sur les cartes jointes au présent procès verbal, lequel tracé est figuré sur le terrain de la manière suivante :
    Du confluent du Long Po (龍賻) avec le Fleuve Rouge (紅河) la frontière suit la ligne médiane de ce dernière cours d’eau jusqu’à sa rencontre avec le Nam Si (南洗河), elle emprunte ensuite le lit de cette dernière rivière jusqu’à son confluent avec le Pa Chie Ho (結河), remonte cette rivière jusqu’à son confluent avec le Kan Ho (千河) puis le cours du Kan Ho (千河) jusqu’au point où cet arroyo est coupé par la route de Coc Phang (谷方) à Lao Qua Tchang (老凹), c’est à dire à 900m du village de Coc Phang.
    De ce point elle court par terre jusqu’au Kosso Ho (戈索河), affluent du Song Chay (Hei Ho) (黑河) dans une direction générale Nord Est.
    Dans tout ce parcours la frontière est formée par une arête montagneuse, ligne de partage des eaux séparant :
1/ La vallée du Kan Ho (千河) au Yunnan de celle du haut Pa Chie Ho (結河) à l’Annam.
2/ La vallée du Ngai Na Ho (崖那河) au Yunnan de celle du Kan Keou Ho (千溝) affluent de droite du Ta Lang Ho (千郞河 ) à l’Annam.
3/ Les vallées des affluents du Nam Si (南洗河) au Yunnan de celle de Ta Lang Ho (千郞河) l’Annam.
4/ Les vallées des affluents du Nam Si Ho (南洗河) au Yunnan de celles des affluents du Pa Chie Ho (結河) à l’Annam.
5/ Les vallée des affluents du Kiao Teou Ho (橋頭河) au Yunnam de celles des affluents du Song Chay (Hei Ho) (黑河) à l’Annam.
Vingt deux bornes ont été placées le long de cette frontière.
Borne N° 1 : intersection du Kan Ho (千河) de la route de Coc Fang (谷方) à Lao Qua Tchang (老凹) au pied d’un contrefort montagneux.
Borne N° 2 : route de Long Po Moi (龍波美) à Pai Che Ngay (白石崖).
Borne N° 3 : dans un col sur la route de Nam Tchang (南寨) à Kia Ma Che (夾馬石).
Borne N° 4 : dans un col sur la route de Nam Tchang (南寨) à Sin Tchay (新寨).
Borne N° 5 : route de Nam Tchay (南寨) à Chouei Tuoei Fang (水碓防).
Borne N° 6 : route de Kan Ho Chay (千河寨) à Chouei Touei Fang (水碓防).
Borne N° 7 : route de Sin Tchay (新寨) à Sin Tien (新店) près de Tou Mou Kiao (獨木橋).
Borne N° 8 : route de Muong Khuong (猛康) à Tien Tang (…).
Borne N° 9 : au point de rencontre des routes de Muong Khuong (猛康) et de Hei Chan Po 黑山埔 à Sin Tien (新店).
Borne N° 10 : dans un col sur la route de Tou Ma (土馬) à Sin Tien (新店).
Borne N° 11 : route de Ouan Nien Chou (萬年) à Tien Fang (田房).
Borne N° 12 : embranchement des routes de Sin Tien (新店) à Phe Long (芭龍) et de Pao Mao Tchay (…茅寨) à Pao Teou Tchay (保頭寨) .
Borne N° 13 : dans un col sur la route de Lo Chouei Tong (洛水洞) à Che Ma Toung (石馬洞).
Borne N° 14 : route de Ka Fang (卡房 ) à Che Ma Toung (石馬洞).
Borne N° 15 : route de Tsao Ko Tsing ( ) à Che Ma Toung (石馬洞).
Borne N° 16 : dans un col sur la route de Lao Pao Tchay (老保寨) à Lao Ta La (老拉).
Borne N° 17 : dans un col sur la route de Ngai Teou (崖頭) à Tan Tze Pien (塘子邊).
Borne N° 18 : au col de Mao Tsao Tchay (茅草寨) au sud de ce village.
Borne N° 19 : dans un col sur la route de Fan Chen Ka (飜山卡) à Hei Pi Tchay (黑皮寨 ).
Borne N° 20 : dans un col sur la route de Sin Tchay (新寨) à Hei Pi Tchay (黑皮寨).
Borne N° 21 : dans un col sur la route de Phe Lung (笆龍) à Lao Lieou Tchai (老留寨
Borne N° 22 : dans un col sur la route de Lao Ka Sin Tchay (老卡新寨) à Tien Fang (田房).
Fait et clos à Lao Kay en deux exemplaires en langue française et en deux exemplaires en langue chinoise le treize juin mil huit cent quatre vingt dix sept (quatorzième jour du cinquième mois de la vingt troisième année du règne de Kouang Siu).
Procès verbal N° 3
2eSection : Du Kosso Ho (  ) à Cao Ma Bach (Cao Ma Pai) (   ) du Ton Kin et Sin Ngai (  ) du Yunnan.
Pour cette partie de la frontière les deux Commissions ont reconnu qu’il était impossible de suivre sur le terrain le tracé de la frontière tel qu’il avait été défini par les Commissions de délimitation. Elles ont été d’avis de rechercher un nouveau tracé correspondant autant que possible aux mouvements de terrain formant frontière naturelle ainsi qu’aux divisions administratives du pays, tout en tenant compte des dispositions du procès verbal 2esection, signé à Lao Kay le 19 octobre 1886 (22e jour du 9emois de la 12e année de Kouang Siu), ainsi que du procès verbal de clôture signé à Pékin le 26 juin 1887 et de la convention supplémentaire en date du 20 juin 1895.
    Cela décidé, il a été reconnu d’un commun d’accord que le tracé de la 2e section de la frontière qui ferait foi désormais dans les relations entre la France et la Chine, serait celui porté sur les cartes joints au présent procès verbal, lequel tracé est figuré sur le terrain de la manière suivante :
    Du point sur le Kosso Ho (   )  où se termine la 1re section, la frontière descend le cours de cette dernière rivière jusqu’à son confluent avec le Song Chay (Hei Ho) (  )  puis remonte le cours du Song Chay (Hei Ho) jusqu’à sa rencontre avec le Tong Kai Ho (  )  (Nam Len).
    Elle court ensuite par terre dans la direction du Nord Est suivant d’abord la ligne de partage des eaux qui sépare la vallée du Song Chay (Hei Ho) ( ) de celle du Tong Hai Ho (Nam Len) (    ) puis celle placée entre le Nam Song Ho (      ) et le Kou Kai Ho (     ).
    Elle descend ensuite brusquement pour rejoindre le Kou Kai Ho (     ) à 300m de son confluent avec le Nam Pei Ho (   ) , emprunte le cours du Kou Kai Ho celui du Nam Pei Ho jusqu’à son confluent avec le Nam Kiang Ho (   ) qu’elle remonte jusqu’à l’endroit où la route de Pao Leang Kai (  ) à Ta Ma Tsao Po (   ) le coupe.
    Delà la ligne frontière monte sur le massif montagneux appelle Ban Tze Chan (   ) se dirige au Nord Est en suivant la ligne de partage des eaux placée entre celles allant à Muong Tong (   )  à la Chine , et celles allant au Tsing Tchouei Ho (   ) (rivière de Thanh Thuy) à l’Annam.
    La ligne frontière vient ensuite prendre le Na La Ho (  ) à sa source, descend ce cours d’eau jusqu’à son confluent avec la rivière de Kai Hoa ( ) (Rivière Claire) traverse cette rivière et se dirige sur les hautes crêtes en passant par Pien Ma (   ) et Pai Che Ngaï (  ) elle se porte au Nord suit la ligne de partage des eaux placée à l’Est de Nam Tong ( ) jusqu’à Lo Tchouei Ho Ka (   ) et jusque près de Sin Ngaï ( ) on commence la 3e section.
    Dans cette 2e section le Tu Nghia Xa (   ), le Tu Hoa Xa (   ), Tu Long (   ), Muong Thong (  ), le Phan Vu Xa (   ), et le Toung Ngan Li (   ) sont laissés à la Chine. Le Tu Nhan Xa (   ) , le Huu Ban Xa (  ), Man Mei (  ), le Phong Do Xa (   ), le Dai Mien Xa (   ) et le Tien Mien Xa (   ) sont laissés à l’Annam. Dans la deuxième section dix neuf bornes ont été placées.
Borne N°1 : au confluent du Song Chay (Hei Ho) ( ) et du Toung Hai Ho (Nam Len) (   ).
Borne N°2 : route de Sin Tchay ( ) à Che Ka La (    ).
Borne N°3 : route de Man Kai ( ) à Tsing Meun (Xin Man) (   ).
Borne N°4 : route de Lo Chouei Toung (   ) à Xin Man (   ).
Borne N°5 : route de Mao Ping ( ) à Xin Man (   ).
Borne N°6 : route de Mao Ping ( ) à Hia Man Sin (   ).
Borne N°7 : dans un col sur la route de Nan Soung (  ) à Man Mei (   ).
Borne N°8 : près de Kou Kai Ho (     ) et à 500m de son confluent avec le Man Pei Ho (   ).
Borne N°9 : au pied du contrefort qui prend naissance au point où la route de Pao Leang Kai (   ) à Ta Ma Tsao Po (   ) traverse le Nam Kiang  Ho (  ).
Borne N°10 : au col de Ta Ma Tsao Po (   ).
Borne N°11 : au col placé sur la route de Muong Tong Tchong (  ) à Lao Tchai ( ).
Borne N°12 : route de Sin Tchay ( ) à Thanh Thuy (  ).
Borne N°13 : à Pha An (   ) sur la route de Thanh Thuy ( ) à Loung Than ( ).
Borne N°14 : sur un des sommets du massif de Pai Che Ngai (  ).
Borne N°15 : sur la route de Loung Than ( ) à Man Cheng (Ban Xang)( ).
Borne N°16 : route de Chan Kio ( ) à Man Cheng (Ban Xang) ( ).
Borne N°17 : route de Che Sen ( ) à Tie Tchang ( ).
Borne N°18 : sur la montagne à l’Est de Che Sen ( ).
Borne N°19 : au col de Lo Chouei Ho Ka (   ) en avant et à l’Est de la porte.
Fait et clos à Lao Kay en deux exemplaires en langue française et en deux exemplaires en langue chinoise le treize juin Mil huit cent quatre vingt dix sept (quatorzième jour du cinquième mois de la vingt troisième année du règne de Kouang Siu).
Procès verbal N°4 :  3e et 4esections.
De Sin Ngai ( ) de Chine et Cao Ma Pai (  ) d’Annam à la frontière du Quang Si(西.)
Pour l’abornement de cette partie de la frontière les deux commissions ont été d’avis que l’on devrait s’en tenir aux dispositions des procès verbaux de délimitation de ces sections, procès verbaux signé à Lao Kay la 19 octobre 1886 (12e jour du 9e mois de la douzième année de Kouang Siu).
Comme les procès verbaux ne donnaient lieu sur le terrain à aucune grave contestation, il a été résolu de les réunir en un seul et de continuer, lorsque l’on arriverait à la 4e section, ordre de numérotage des bornes d’inscriptions sur les rochers commence dans la 3esection.
    Cela décidé, il a été reconnu d’un commun d’accord que le tracé des 3e et 4e sections de la frontière qui ferait foi désormais entre la Chine et la France, serait celui porté sur les cartes jointes au présent procès verbal, lequel tracé est figuré sur le terrain de la manière suivante :
    La ligne frontière part de la borne n°1 située à environ deux lis au Sud Est de Sin Ngai () de là elle prend la ligne des crêtes rocheuses qui limite la vallée du Lo Chouei Ho ( ) arrivée à hauteur du Nord de Cao Ma Pai (高馬白), elle prend jusque vers Na Lang Ka ( ) une direction généralement Nord Nord Est suivant des crêtes rocheuses aboutissant au massif important de Ngai Keo Kai (  ) vers Na Lang Xa (那郎卡), elle s’incline vers l’Est tout en suivant le même contrefort jusqu’aux environs du village de Na Kan ( ) où elle reprend une direction Nord Nord Est pour descendre vers le Pa Pou Ho (  ); qu’elle franchit continuant la même direction jusqu’à la route de Ta Kan ( ) d’où par une direction Sud Est elle se rapproche du Pa Pou Ho (  ). De ce point jusque vers Mao Shang Ka (  ) elle suit une direction Nord Est le long d’une crête principale en passant par Keou Lanh Ka (   ), Lang Le Ka (  ), Sse Sao Ka (  ) et Pou Louang Ka (  ). De Mao Shang Ka (  ) jusqu’à Mao Po Ka (  ) la frontière a une direction généralement Est suivant les lignes de hauteurs et passant par Tchong Sau Ka (), Siao Ka ( ), Tchoouon Tsung Xa (Xuyên Ðộng Ca ), et Mao Pe Ka ( ).
    De Mao Pe Ka (   ) jusqu’au Pou Mei Ho (  ), la frontière prend une direction Nord Nord Est passant par Ma Son Ka (  ) puis entre Ma Kiang Ka (  ) à la Chine et Ma Nong Ca (  )à l’Annam, traverse une suite de hauts sommets pour venir ensuite passer entre Long Ka Ka (龍戈卡) à la Chine et Long Co (  ) à l’Annam et enfin aboutir par une pente très raide au Pou Mei Ho (  ) (Song Nho Ke).
    La frontière suit alors le cours du Pou Mei Ho (  ) jusqu’au point placé entre Loang Chouei Tsing (水井) de la Chine et Ngai Loung ( ) de l’Annam, elle court alors par terre se dirigeant vers le Sud Est en passant par Long Tan Ka (  ); puis passe au Nord Est pour passer à Loung Le Ka (  ) et arrive à Chang Bong ( ) de l’Annam pour prendre une direction générale Sud Est suivant la ligne de hauteurs laissant à l’Annam les affluents du Pou Mei Ho (  ) et à la Chine la haute vallée du Ngan Tong Ho ( ), la frontière descend ensuite dans cette rivière à Ngan Tong Ho Ka ( 河卡) où elle rejoint le noeud des trois frontières.
Vingt quatre bornes ont été placées sur ce parcours :
Borne N°1 : à deux lis au Sud Est de Sin Ngai (), au col placé au sommet des hautes crêtes.
Borne N°2 : au col placé au Nord de Cau Ma Pai (高馬白) sur la haute crête formant ligne partage des eaux.
Borne N°3 : au col situé sur la route de Mao Tsao Po (  ) à Ngai Teou ( ).
Borne N°4 : près de Pong Kia ( ), et sur la route de Pong Kia ( ) à Na Linn ( ).
Borne N°5 : à Na Lang Kia (  ) sur la route de Pan Tze Hoa (  ) à Ngai Kéo Kai ().
Borne N°6 : à Koue Pou Ka (  ) sur la route de Koué Pou ( ) de la Chine à Na Kan ( ) de l’Annam.
Borne N°7 : à Keou Lanh Ka ( 滿  ) sur la route de Kéou Lanh Ta Ka ( 滿  ) de Chine à Tam Nghe Ha (   ) de l’Annam.
Borne N°8 : à Long Le Ka (  ) sur le chemin qui relie Keou Lanh () de Chine à Giang Le ( ) d’Annam.
Borne N°9 : à Sa Sao Ka (  ) sur le chemin qui relie Mao Than Ka (  ) de Chine à Giang Le ( )  d’Annam.
Borne N°10 : sur la route de Mao Shan Ka (  ) de Chine à Sin Cai ( ) d’Annam.
Borne N°11 : à Tchoun San Ka ( ) sur le chemin qui relie Tchoun San ( ) de Chine à Sui Tao ( ) d’Annam.
Borne N°12 : à Siao Ka ( ) sur la route de Siao Ka ( ) en Chine à Phu Na ( ) en Annam.
Borne N°13 : au col appelé Ca Ka ou Tchouang Tsung Ka (穿   ) sur le chemin qui relie Ma Tsou () de Chine à Phi Bang ( ) d’Annam.
Borne N°14 : à Mao Po Ka (  ) sur le chemin qui relie Mao Po ( ) de Chine à Pho Bang (Phố Bổng).
Borne N°15 : à Ma Sen Ka (  ) sur le chemin qui relie Ma San ( ) de Chine à Ma La ( ) d’Annam.
Borne N°16 : au col situé entre Ma Kiang Ka ( ) de Chine et Ma Nang ( )   d’Annam et à égale distance de ces deux villages.
Borne N°17 : au col situé sur la route qui relie Long Ka Ka (  ) de Chine à Long Co () d’Annam.
Borne N°18 : sur la route de Leang Chouei Tsin (涼水井) de Chine à Ngai Luong ( )   d’Annam et laissant le Pou Mei Ho (  ) à un lis à l’Ouest.
Borne N°19 : à un col situé sur le chemin de Leang Chouei Tsin (涼水井) de Chine à Loung Can ( )  d’Annam.
Borne N°20 : au petit col situé sur la route de Loung Le ( ) de Chine à Chang Bong () d’Annam.
Borne N°21 : à un petit col situé à l’Est de Chang Bong ( ) d’Annam sur la route de Tien Pang Kai (  ) de Chine à Chang Bong ( ) d’Annam.
Borne N°22 : à environ quatre lis à l’Ouest au village de Tchoung Ho Ka (  ) sur la route de Tchoung Ho Ka (  ) de Chine à Ta Kheou ( ) d’Annam.
Borne N°23 : à environ trois lis à l’Ouest de Siao Ka ( ) sur la route de Siao Ka ( ) de Chine à Tchoung Pong (  ) d’Annam.
Borne N° 24 : sur le bord de la rivière de Ngan Tong Ho (  ) avant de la traverser pour aller de Yao Jen Tchay (  ) de Chine à Long Lan (  ) d’Annam.
Fait est clos à Lao Kay en deux exemplaires en langue française et en deux exemplaires en langues chinoise le treize juin mil huit cent quatre vingt dix sept (quatorzième jour du cinquième mois de la vingt troisième année du règne de Kouang Siu)


Son Tran  NỖI NHỤC 17/2

“Lão-sơn nằm xuống bẩy ngàn người,
Giữ núi quân lên chẳng tiếc đời,
Hồn lạnh non cao ai nhớ nữa?
Xương khô lũng vắng Đảng quên rồi !

Ngư-trường dâng để quân Tàu vét,
Khoáng-sản dành cho giặc Bắc moi,
Liêm-sỉ sao giờ không đếm-xỉa,
Dưới trên sấp mặt lợi-danh thôi” !
(Võ-Như)
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=543754355659375&set=a.446962178671927.107498.100000744461424&type=3&theater
Buổi sáng 17/2/1979 của một đứa trẻ may mắn thoát khỏi tay bọn bành trướng

Tôi đang ngủ thì chợt thức giấc bởi tiếng bánh xích xe nghiến ken két ngay trước cửa nhà, căn nhà gỗ nhỏ nằm sát đường chợt rung bần bật. Sự tĩnh lặng của con phố  Vườn Cam, một góc thị xã Cao Bằng phút chốc bị phá vỡ. Trời se lạnh, còn mờ sương. Bố tôi kéo mành nhìn ra. Ông chợt hoảng, ra hiệu cho tôi im lặng và chỉ kịp nói 1 tiếng khô khốc: “bọn Trung Quốc vào rồi. Chạy ngay về xuôi”.  Mặc dù còn đang rất ngái ngủ nhưng trước phút giây sinh tử, bản năng sống trỗi dậy, tôi cùng bố mẹ nhanh chóng mở tủ vơ vội một ít quần áo, một cái xoong, một chút gạo, bao diêm rồi cắt lối vườn sau nhà. Tôi nán lại muốn tìm cuốn truyện mang theo nhưng đã bị bố tôi bịt mồm lôi xềnh xệch ra khỏi nhà.
Chúng tôi băng nhanh ra bờ sông Bằng, theo các vạt cây và những cánh rừng rậm rạp tìm đường về xuôi. Bố tôi bảo phải xa tất cả các đường lớn nhằm tránh đụng phải quân TQ cũng như tránh pháo kích của chúng. Trên đường chạy về xuôi, mặc cho bụng đói, miệng khát, chân thì tướp máu muốn khuỵu nhưng đầu tôi luôn nghĩ tới bọn thằng Coỏng, thằng Sam vẫn thường đánh quay, chơi bi với tôi, không biết chúng nó có kịp chạy? Tôi ước có thể quay lại để đánh thức chúng …  Rồi tôi mơ mình bay lên, vượt trước những cỗ xe tăng chết chóc về đón bọn bạn cùng đi với tôi…
Tỉnh dậy, tôi thấy toàn thân đau nhức, không cất nổi đầu lên. Miệng đắng ngắt. Bố mẹ tôi kể lại, tôi đã kiệt sức và ngất đi, bố mẹ tôi phải thay nhau cõng tôi trên lưng chạy cắt rừng suốt 1 ngày 1 đêm, vượt qua đèo Tài Hồ Sìn, đèo Cao Bắc  rồi cùng nhập với đoàn người may mắn thoát chết chạy từ các huyện, từ thị xã về tụ lại ở Nà Phặc (1 thung lũng thuộc huyện Ngân Sơn) cách thị xã chừng hơn 30km … 
Những ngày sau, tôi cùng nhiều đứa trẻ khác phải xa bố mẹ, để sơ tán về Hà Nội, được ghép vào các gia đình tốt bụng cưu mang chúng tôi qua những ngày khốn khó. Bố mẹ tôi phải quay trở lại, biên chế vào các đội dân quân tự vệ chiến đấu chống quân bành trướng. Tôi theo học tiếp lớp 1 dưới xuôi cùng các bạn người Kinh. Dù các gia đình rất khó khăn, trường lớp sơ sài nhưng chúng tôi luôn nhận được tình thương yêu, đùm bọc và sự quan tâm của các thày cô giáo, các bạn cùng người dân Thủ đô. Dầu vậy, lòng tôi nhớ bố mẹ, nhớ ngôi nhà nhỏ ở TX Cao Bằng, nhớ các bạn khôn nguôi …
Về sau, gặp lại bố mẹ, tôi được biết xe tăng TQ sơn cờ Việt Nam từ hướng Hà Quảng, Quảng Hòa cứ thoải mái xộc thẳng về thị xã. Trên đường đi, xe tăng của chúng vượt qua nhiều chốt gác do bộ đội canh giữ, nhiều người còn giơ tay chào vì nghĩ đó là xe tăng của quân ta. Những cỗ xe về đến Phố Thầu, đón thêm chỉ điểm (vốn là bọn người Hoa sang nằm vùng sẵn từ trước) sau đó chạy thẳng hướng tỉnh ủy, đài phát thanh hòng bắt sống các lãnh đạo cao cấp của tỉnh và chiếm đài. Chiếc đầutiên đã kịp lên tận dốc Nà Toòng (ngay trước cổng đài phát thanh) thì bị khẩu đội gác của ta ở đây diệt tại chỗ.
Ngay sau khi chúng tôi kịp thoát ra khỏi nhà, cắt rừng chạy về xuôi, lính TQ đã tràn ngập thị xã, cướp, giết, hiếp người già, phụ nữ, trẻ em. 18 cô giáo trường phổ thông cơ sở nơi tôi học đã bị lính TQ hiếp, xẻo vú, phanh thây vứt xác xuống giếng trong sân trường. Nhiều trẻ em cùng gia đình không chạy kịp về xuôi đã bị thảm sát trong đó có cả bọn thằng Coỏng bạn tôi. Cả thị xã bình yên ngập chìm trong máu, chết chóc, tiếng súng, tiếng la hét và khói lửa.

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979 (TN 17-2-13) — P/v tướng Lê Văn Cương.  Báo Tuổi Trẻ cũng “len lén” đăng bài này: Một ngày xuân bi tráng... (TT 16-2-13)
Chúng tôi tưởng niệm đồng bào chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Trung Cộng Bauxite Việt Nam–Lại một ngày 17/2 im lặng Bauxite Việt Nam
“Họ cấm chúng tôi tưởng niệm ngày 17/2” BBC Tiếng Việt
Cựu Đại sứ VN tại Trung Quốc, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh kể về việc bị lực lượng an ninh ngăn cấm tưởng niệm ngày TQ xâm lược VN năm 1979. Nghemp3. Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem. Bấm vào đây để .
‘Lẽ ra nhà nước phải tưởng niệm 17/2’ BBC Tiếng Việt
Cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trong giai đoạn 1974-1987, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh phê phán nhà nước ‘lảng tránh’ kỷ niệm ngày Trung Quốc khởi động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam ở biên giới phía Bắc của nước này vào ngày 17/2/1979.
Nhân sĩ trí thức Việt Nam kêu gọi tưởng niệm chiến sĩ hy sinh chống Trung Quốc xâm lược (RFI). – Nhiều báo im lặng trong ngày 17/2 (BBC).  – ĐÁP LỜI KÊU GỌI NHÂN NGÀY 17.2 (Thành). –- Phỏng vấn cụ Nguyễn Trọng Vĩnh: “Tại sao cấm chúng tôi tưởng niệm 17/2?” (BBC). “Đáng nhẽ ra nhà nước phải đứng ra để viếng mới phải, đằng này nhà nước từ mấy năm nay không hề đoái tưởng đến đồng bào và chiến sỹ đã hy sinh trong việc chống lại sự xâm lược của Trung Quốc”.  – ‘Lẽ ra nhà nước phải tưởng niệm 17/2′(BBC).  – Ngày này năm xưa và một cuộc chiến bị lãng quên bằng sự phản bội của đảng cộng sản (DLB). – “Máu xương của nhân dân sao mà rẻ mạt vậy?” (Gocomay). 
Nhật Ký ngày 17 /2/ 2013 (Người Buôn Gió).  – HÀ NỘI: NGĂN CẢN KHÔNG CHO VÀO VIẾNG ĐÀI LIỆT SĨ (Tễu). 2 video Viếng liệt sĩ chống Trung Quốc xâm lược 17-2-1979 (1)(2). – Video: Bảo vệ Gò Đống Đa đòi gỡ vòng hoa yêu nước! (dzunglaviet). – 17.2.2013: HÀNH TRÌNH CỦA NHỮNG VÒNG HOA TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ CHỐNG TÀU (Tễu). – Sài Gòn: Tường thuật lễ dâng hương tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh chống quân xâm lược Trung Quốc 17/2/2013 (HDTG). – Nhân sỹ trí thức hai miền vinh danh các Liệt sỹ chống Tàu(Xuân VN). – Đức Thành: Lại một ngày 17/2 im lặng (BoxitVN).

Cuộc chiến 1979 và mạng xã hội (BBC).- Hoàng Gia cương: KÍNH VIẾNG NHỮNG LINH HỒN LIỆT SĨ CHƯA BIẾT TÊN (Phạm Viết Đào).   – Những người trên tấm ảnh. 17-2-1979 (Hiệu Minh). – Nguyễn Tấn Cứ: BIÊN GIỚI…. (Huỳnh Ngọc Chênh).- Nguyễn Thiều Quang: Suy ngẫm nhân ngày 17 tháng 2 (VHNA). – Ngày tháng năm không được quyền quên (Phi Vũ). – Đọc bài thơ của Thanh Thảo: “Ghi trong ngày 17 tháng 2″ (Anh Vũ).
Bài học ngày 17 tháng 2 (Nguyễn Văn Thiện). – Cuộc chiến với “BẠN” 4 tốt: KHỐC LIỆT VÀ HÀO KHÍ (Bùi Văn Bồng).  – PHÁO ĐÀI ĐỒNG ĐĂNG (Bùi Văn Bồng).
Thị xã ra quân (Trần Nhương). –  Thơ và bài hát về TACANO (Bùi Văn Bồng). – Có một người Nhật đã ngã xuống ở Lạng Sơn: phóng viên Takano Isao*(Người Lót Gạch).
Phỏng vấn TT Lê Duy Mật nhân dịp 34 năm cuộc chiến Biên Giới Việt – Trung (RFA). – Trong cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979: Quân đội Trung Quốc đã thương vong bao nhiêu? (viet-studies).  – Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung 1979 (Trương Nhân Tuấn). – Biên giới Lạng Sơn-Việt Nam năm 1981 những thước phim lịch sử (Open Vault/ Tu Vyu).  – Phim TQ: Chiến tranh biên giới Việt-Trung trận Núi Lão Sơn 1509 đẫm máu 1984 (Juneishot).  – Tài liệu mật CIA về cuộc chiến Việt – Trung (VQHN).
Tưởng niệm người chết để nhắc nhở người sống và sống sao cho nhân bản với nhau trong tương lai (ĐHLV).
NHỮNG ĐỐT XƯƠNG TRAI (NCTG).

Bài học từ cuộc chiến bảo vệ biên giới 1979.- – Ngoại giao Việt Nam: Thế và lực mới (VOV).

— Báo Mỹ đầu tiên khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam” (LĐ).Báo Mỹ khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam” Trần Đình Thắng có trong tay 150 tấm bản đồ và ba tập bản đồ cổ Trung Quốc, trong đó chỉ ra rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ là một phần của Trung Quốc.

Tạp chí Christian Science Monitor của Mỹ mới đây đăng bài về việc thu thập bản đồ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Trần Đình Thắng. Đây là bài báo đầu tiên ở Mỹ có dòng chữ khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”.
Thời gian qua, một số tờ báo Mỹ đã nói về tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc và các nước Châu Á. Nhưng bài viết vừa qua trên tạp chí Christian Science Monitor – tờ báo khá lớn, thuộc thể loại báo chính trị, phát hành cả ở Mỹ và quốc tế – là bài đầu tiên ở Mỹ có dòng chữ khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”, mặc dù đó là lời phát biểu của cá nhân anh Trần Thắng.
Dưới đây là bài viết của Mai Ngọc Châu, đang học thạc sỹ báo chí ở Boston về việc trên. Lao Động điện tử xin trích dịch dưới đây.
Nghĩa vụ giữ gìn đất nước
Năm 1995, Trần Đình Thắng, một Việt kiều Mỹ, mời giáo sư Trần Văn Khê từ Đại học Sorbonne (Pháp) – chuyên gia về âm nhạc Việt Nam, đến nói chuyện tại Đại học Connecticut (trường Uconn – Mỹ). Buổi nói chuyện của ông đã trở thành một phần lịch sử của trường Uconn. Cuộc đó thu hút hơn 300 khán giả, nhưng một phần ba trong số đó là để phản đối chính phủ Việt Nam. Nhưng điều đó không làm Trần Thắng nhụt chí.
Lúc đó anh là sinh viên năm thứ ba ngành cơ khí và là Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam của trường. Thắng nhận ra rằng, cuộc gặp với một biểu tượng văn hóa Việt Nam đã đánh thức trong anh tình yêu với quê hương. “Chính giáo sư Khê đã cho tôi sức mạnh nội tại để theo đuổi việc trao đổi văn hóa”, Trần Thắng nói.
Giờ đây tình yêu của Thắng với tất cả những gì mang tính Việt Nam còn kết hợp với một sự say mê khác: Sưu tập bản đồ cổ. Anh đã có trong tay 150 tấm bản đồ và ba tập bản đồ cổ Trung Quốc, trong đó chỉ ra rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ là một phần của Trung Quốc như nước này tuyên bố, mà thực ra là thuộc về Việt Nam.
Các chuyên gia về biển Đông nói rằng, nếu các tranh chấp biển đảo được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế, bộ sưu tập bản đồ của Trần Thắng có thể được dùng làm bằng chứng lịch sử để phản bác các đòi hỏi của Trung Quốc. “Là người Việt, tôi có nghĩa vụ giữ gìn đất nước”, Trần Thắng nói. Anh bảo rằng anh luôn mong muốn biến những suy nghĩ của mình thành hành động.
Trần Thắng sống cùng bố mẹ ở West Hartford, bang Connecticut. Gia đình anh sang Mỹ từ năm 1991. Sau khi tốt nghiệp ngành cơ khí ở đại học Uconn, Trần Thắng tiếp tục lấy bằng thứ hai về quản lý và kỹ thuật, rồi anh làm việc cho công ty Electric Boat. Hiện Thắng là kỹ sư của công ty Prat & Whitney, một nhà sản xuất linh kiện máy bay.
Trần Thắng bắt đầu sưu tập bản đồ cổ từ tháng 7.2012 với suy nghĩ rằng những bản đồ đó sẽ giúp bảo vệ chủ quyền Việt Nam. Anh lên mạng bán đấu giá eBay, tìm kiếm các từ khóa như “Bản đồ Trung Quốc”, “Bản đồ Đông Dương”, “Đảo Hải Nam”. Anh nói: “Các công trình của người phương Tây thường dựa trên cơ sở khoa học, vì thế tôi cho rằng các bản đồ cổ do phương Tây vẽ có thể là bằng chứng khoa học về chủ quyền của Việt Nam”. Trần Thắng tìm kiếm trên mạng, liên hệ với các nhà sử học, lấy ý kiến của các chuyên gia về biển Đông từ Mỹ đến Việt Nam. 150 bản đồ và 3 tập bản đồ anh sưu tập được xuất bản ở Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Canada, Ấn Độ và Trung Quốc từ 1626 đến 1980.
“Khoảng 80 tấm bản đồ và 3 tập atlas chỉ rõ, biên giới phía nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, và 50 bản đồ chỉ rõ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”, Trần Thắng cho biết.
Tiến sỹ Trần Đức Anh Sơn của Viện Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng khẳng định, các sưu tập của Thắng đã cung cấp thêm bằng chứng lịch sử và khoa học để chứng minh chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa Trường Sa, bác bỏ đòi hỏi vô lý của Trung Quốc với hai quần đảo này. Còn giáo sư danh dự Đại học New South Wales (Australia), ông Carl Thayer, nói rằng bộ sưu tập của Trần Thắng cho thấy sự đối lập trong đòi hỏi của Trung Quốc.
Trái tim ở Việt Nam
Từ năm 1996, cùng với bạn bè, Trần Thắng đã thành lập ra tạp chí Nhịp Sống, một tạp chí bằng tiếng Việt để thúc đẩy hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Tạp chí dày 124 trang, ra mỗi năm một kỳ, tập hợp các bài viết về lịch sử, xã hội, văn học, nghệ thuật Việt Nam, thu hút sự đóng góp của rất nhiều học giả và nghệ sỹ ở Mỹ, ở Việt Nam và nhiều nơi khác. Tạp chí đã đến với nhiều người Mỹ gốc Việt cho dù họ có quan điểm khác nhau.
Năm 2000, Trần Thắng tiếp tục thúc đẩy các trao đổi văn hóa lên một bước mới. Với sự ủng hộ của nhiều học giả Việt Nam có tên tuổi ở nước ngoài, Trần Thắng đã thành lập tổ chức phi lợi nhuận có tên Viện Văn hóa Giáo dục Việt Nam (IVCE). IVCE thường tổ chức tại Việt Nam các hội thảo về việc du học Mỹ và trợ giúp sinh viên Việt Nam xin học bổng tại Mỹ. 12 năm qua, Trần Thắng đi lại như con thoi giữa Mỹ và Việt Nam, tổ chức khoảng 60 hội thảo mùa hè về du học tại Mỹ, với sự giúp đỡ từ kinh nghiệm trực tiếp của hàng trăm người Mỹ gốc Việt. Hàng chục trường đại học Mỹ và Việt Nam giờ là đối tác của IVCE để trao đổi các đoàn và thiết lập các chương trình hợp tác. IVCE cũng đã tổ chức 44 sự kiện khắp nước Mỹ đề giới thiệu về âm nhạc, nghệ thuật cổ truyền, mỹ thuật, văn học, chiếu phim tài liệu và phim truyện Việt Nam.
“Trần Thắng sống ở Mỹ, nhưng trái tim anh ấy ở Việt Nam”, nữ diễn viên điện ảnh Hồng Anh nói. Cô đã tham gia cùng Trần Thắng trong chuyến đi tới các trường đại học vùng đông bắc nước Mỹ hồi tháng 11.2012.
Còn giáo sư Trần Văn Khê, người trở thành thầy giáo của Trần Thắng, thì nói: “Thắng đã cống hiến cho nhiều chương trình có ích cho Việt Nam theo nhiều cách khác nhau. Nhưng Thắng không bao giờ khoa trương về những gì mình đã làm”.
Trần Thắng nói, anh cảm thấy mình có nghĩa vụ làm việc vì đất nước: “Đó là nhiệm vụ của đời tôi”.

– Hải quân VN xây dựng hạm đội tàu ngầm hàng đầu ĐNÁ (Infonet). – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Đoàn 681 Hải quân (TN).
– Trung Quốc điều hạm đội Hải quân tới vịnh Aden (TP).
– Mỹ ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc (DV). – Nghị sĩ Eu ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc (TT).
– Tàu Trung Quốc lại tiến vào vùng biển tranh chấp với Nhật (DT).
– Mỹ – Nhật tăng cường máy bay tuần tiễu giám sát tàu ngầm (ANTĐ).
– Thế giới – những dự cảm 2013 (DV).
Biển Đông ‘đánh thức’ tinh thần dân tộc của người Việt? (VOA 17-2-13) – Ngư dân vươn khơi đánh bắt đầu năm (LĐ). – Ngư dân “nối vòng tay” bám biển (DV). – Chuyện bây giờ mới kể về tàu hải quân – vị cứu tinh mang tên HQ 936  (DV). – – Người tìm bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa (DV).
– Bùi Hoàng Tám: Những chiếc đèn lồng và bài học Nỏ thần! (DT).
Sự không công bằng trong việc Phân định chủ quyền các cồn đất trong khu vực cửa sông Bắc Luân (Trương Nhân Tuấn).
THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA (Tâm thức VN/ TNM).  – Giỏi giang vợ lính Trường Sa(NLĐ). – Thơ Thế Dũng: TÊN EM LÀ NGUYÊN KHÍ ! – VIỆT NAM ƠI…(Người Việt.de).- EU ủng hộ quan điểm “Trung Quốc nên ra tòa án Liên Hợp quốc” (LĐ). – EU ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa LHQ (TTXVN). – Kiện Trung Quốc về Biển Đông: Philippines không đơn độc (TP).
‘Trung Quốc phải chấp nhận vai trò lãnh đạo lâu dài của Mỹ tại châu Á’ (Sống mới). – Bắc Kinh “Tây tiến” để tránh đối đầu quân sự với Mỹ (TTXVN). – Hải quân Trung Quốc tăng cường phô trương (TN). – “Quả đấm hạt nhân” Hải quân Trung Quốc tập trung ở đâu? (KT).  – Châu Á –Thái Bình Dương sẽ không xảy ra chạy đua hải quân? (GDVN). – Một loạt liên minh dàn trận bủa vây Trung Quốc (VnMedia).
Tướng Trung Quốc đổ lỗi cho Nhật (NLĐ). – Nhật Bản cử ‘sứ giả’ sang Trung Quốc đàm phán (PT). – “Sát thủ” chống tên lửa đạn đạo “khủng” nhất thế giới của Nhật (Soha).
NÓNG: TRUNG CỘNG ĐỘT NGỘT TRIỆU HỒI ĐẠI SỨ Ở NEPAL VỀ NƯỚC (Nguyễn Phú Nepal).
Đầu xuân – Viếng Vua Hùng (DLB). – Vận hội mới đang đến trên quê hương chúng ta.
“Thế lực thù địch” quá táo tợn! Thủ tướng đang trả lời thì… mất điện! (TinTuc 17-2-13)
“Giải mật” vụ trừ khử tướng Nguyễn Văn Kiểm (QĐND 7-2-13)
Trung Quốc có sẽ là số 1? Will China Ever Be No. 1? (FP 16-2-13) — Lý Quang Diệu:”it is China’s intention to become the greatest power in the world — and to be accepted as China, not as an honorary member of the west,”
Lãnh đạo Trung Quốc: Rule of the Princelings (Brookings 10-2-13) — Bài này (của Cheng Li) có thể được xem như cập nhật bài trên Thời Đại Mới.
Trung Quốc rút ra bài học gì về sự tan rã của Liên Xô? China’s Soviet Lessons (Diplomat 16-2-13)
Chủ nghĩa “tư bản số”: Digital capitalism produces few winners (Guardian 16-2-13)
Anh Quốc cũng nổi sùng với Trung Quốc: Cabinet split over bullying by Beijing (Sunday London Times 17-2-13) — Xin lỗi,chỉ subscribers mới được đọc bài này.
Đám đông tụ tập tại Vatican để nghe Đức Giáo Hoàng (VOA).  – Giáo hoàng làm lễ ở Quảng trường St Peter (BBC). – Đức Giáo Hoàng và bài học từ Người (Phi Vũ). – Mật nghị hồng y diễn ra trước ngày 15.3 (TN). – Kế hoạch của Giáo hoàng sau khi thoái vị (VNE). – Lễ cầu nguyện cuối cùng của Giáo hoàng Benedict XVI (TP).
Đài Loan dự định nâng cấp các tàu khu trục nhỏ (VOA).  – Cảng Gwadar Pakistan, viên ngọc trong chiến lược biển của Trung Quốc(RFI).
Tham nhũng tại Trung Quốc : Công khai tài sản chưa hiệu quả (RFI). – Quan chức chống tham ô Trung Quốc nhảy lầu tự vẫn (DT).
Nga “tố” Mỹ lợi dụng vụ Triều Tiên thử hạt nhân (LĐ). – Củng cố liên minh (TN). –  Dư luận Nam Hàn, Nhật Bản: Cần vũ khí nguyên tử (Người Việt). – Bắc Triều Tiên qua ống kính nhà báo Thụy Điển (Nguyễn Vĩnh). – Mỹ vẫn yên tâm vì đã có đề phòng với Triều Tiên (ĐV).

Advertisements

Đăng nhận xét: (Các bạn nhớ đề tên khi đăng nhận xét)

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: